Như thực tế hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh là nơi hoạt động kinh tế năng động nhất, đi đầu trong cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế. Có thể nói thành phố là hạt nhân trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và trung tâm đối với vùng Nam Bộ. Song, bên cạnh những thời cơ về kinh tế thì TPHCM cũng khó tránh những thách thức đang phải đối mặt, nhất là tạo việc là và phát triển việc làm cho thanh niên nói riêng và người lao động nói chung.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI (CS2) KHOA QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
-***** -
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN NGUỒN NHÂN LỰC
MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG TRONG PHÁT TRIỂN VIỆC LÀM BỀN VỮNG ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
SỐ BÁO DANH: 132 SINH VIÊN THỰC HIỆN: ĐẶNG NGỌC MY MSSV: 1653404040508
Trang 3Mục lục
1 Đặt vấn đề 1
2 Thực trạng về phát triển việc làm bền vững 2
2.1 Khái niệm việc làm bền vững 2
2.2 Vì sao việc làm bền vững quan trọng 2
2.3 Thực trạng phát triển việc làm bền vững tại Thành phố Hồ Chí Minh 2
2.3.1 Vị trí địa lý và dân số tại Thành phố Hồ Chí Minh 2
2.3.2 Đánh giá thực trạng về phát triển việc làm bền vững tại Thành phố Hồ Chí Minh 4
3 Giải pháp, chính sách và đánh giá cho việc phát triển việc làm bền vững 16
3.1 Giải pháp cho phát triển việc làm bền vững 16
3.2 Chính sách phát triển việc làm bền vững 18
3.3 Đánh giá cho việc phát triển việc làm bền vững 19
Trang 41 Đặt vấn đề:
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngày nay, nền kinh tế thị trường mở ra nhiều cơ hội tăng trưởng cho đất nước, nhưng cũng làm thay đổi khá sâu sắc đến đời sống xã hội Nhiều vấn đề sẽ phát sinh và cũng cần được giải quyết Thất nghiệp hay thiếu việc làm là một trong những mầm móng kéo theo nhiều hệ lụy cho thời đại nếu cứ tiếp diễn và lan rộng Để tránh những ảnh hưởng sâu rộng ấy, cho nên, việc giải quyết vấn đề việc làm và phát triển việc làm đi đến toàn dụng nhân sự được xem là một quốc sách trong quá trình hội nhập cũng như chiến lược phát triển của đất nước ta ngày nay
Như thực tế hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh là nơi hoạt động kinh tế năng động nhất,
đi đầu trong cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế Có thể nói thành phố là hạt nhân trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và trung tâm đối với vùng Nam Bộ Song, bên cạnh những thời cơ về kinh tế thì TPHCM cũng khó tránh những thách thức đang phải đối mặt, nhất là tạo việc là và phát triển việc làm cho thanh niên nói riêng và người lao động nói chung
Thành quả không nhỏ nhưng thách thức đặt ra cũng rất lớn để “siêu đô thị” này phát triển bền vững Việc tìm kiếm các yếu tố để tạo dựng việc làm bền vững cũng như đặc tính của việc làm sẽ giúp cho sinh viên tiếp thu và hiểu một cách thiết thực và sâu rộng hơn Đồng thời, tạo tiền đề cho mỗi cá nhân nói riêng và các nhà nhân sự nói chung có một cái nhìn chính xác Điều này không chỉ giúp ta dễ dàng đối mặt với nó mà còn góp phần khắc phục trong hiện tại và nâng cao hơn nữa tầm quan trọng của vấn đề này trong cả tương lai sau này
Có thể thấy, bên cạnh những lý do trên, bản thân em thấy được tính cấp thiết, tầm quan trọng cũng như tính khách quan xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn Cho nên, cá nhân em xin chọn đề tài:
“MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG TRONG PHÁT TRIỂN VIỆC LÀM BỀN VỮNG ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”
Trang 52 Thực trạng của phát triển việc làm bền vững:
2.1 Khái niệm việc làm bền vững: (Decent work)
* Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Việc làm bền vững là công việc tạo cơ hội
cho cả nam và nữ được làm việc tự do, bình đẳng, an toàn và toàn vẹn nhân phẩm
* Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO,1999): Việc làm bền vững là những cơ hội cho
cả nam và nữ giới có được công việc hợp pháp và hiệu quả trong điều kiện tự do, công bằng, an toàn và được tôn trọng
Theo Tổng giám đốc ILO Juan Somavia thì việc làm bền vững có ý nghĩa quan trọng trong việc hướng tới đạt được sự công bằng trong lao động
2.2 Vì sao việc làm bền vững quan trọng:
Hầu hết người lao động đều đi làm và đều chịu áp lực từ nhiều khía cạnh công việc khác nhau, tùy tính chất của mỗi công việc nhưng nhìn chung, người lao động đều phải chịu áp lực từ “ ông chủ ” ( người sử dụng lao động), áp lực từ việc trả lương và
áp lực từ những hành vi đi quá giới hạn bởi cấp trên,…
Ở một xã hội phát triển, chúng ta không muốn điều đó xảy ra và tiếp diễn Do đó,
“việc làm bền vững” là định hướng phát triển trong tương lai, là phát triển để tạo nhiều
cơ hội việc làm cho người lao động, là nền tảng quan trọng trong quá trình định hướng nền cho các chính sách kinh tế - xã hội
* Các tiêu chí việc làm bền vững ( ILO,1999) bao gồm:
- Cơ hội việc làm;
- Làm việc trong điều kiện tự do;
- Việc làm năng suất;
- Bình đẳng trong công việc;
- An toàn tại nơi làm việc;
- Bảo đảm nhân phẩm nơi làm việc
2.3 Thực trạng và sơ lược về phát triển việc làm bền vững tại TPHCM: 2.3.1 Vị trí địa lý và dân số Thành phố Hồ Chí Minh:
Vị trí địa lý: Thành phố Hồ Chí Minh có lãnh thổ trải dài theo hướng tây bắc – đông nam và nằm trong khoảng từ 10022’13’’ đến 11022’17’’ vĩ độ Bắc và từ 106001’2’’
Trang 6bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế
* Dân số: Quy mô dân số ở TPHCM trung bình sơ bộ năm 2016 là 8.297,5 nghìn người Bên cạnh đó, mật độ dân số bình quân gần 4.025 người/km2
Hình 2.1 Tỷ lệ tăng dân số tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2012 - 2016
Đơn vị tính: %
Nguồn: Số liệu tổng hợp của Tổng cục thống kê
Theo thống kê từ Tổng cục thống kê, năm 2012 có tỷ lệ tăng dân số đạt 2,16% Đây là giai đoạn dân số tăng đột phá Nhưng đến 2013 – 2014 thì tỷ lệ ấy đã được giảm dần Tuy nhiên, đến năm 2015 thì tỷ lệ lại giảm mạnh xuống còn 1,83 % Nguyên nhân từ việc chúng ta đã thực hiện tốt những biện pháp gia tăng dân số hiệu quả Nhưng, đến
2016 thì tỷ lệ này lại tiếp tục tăng cao - đạt 2,09% Chủ yếu xuất phát từ tình hình kinh
tế, phân bổ và bổ sung nguồn lao động lớn đáp ứng nhu cầu bấy giờ Song, chính vì
Trang 7thế, việc cân bằng mật độ dân số hay định hướng và phát triển việc làm bền vững cho người lao động ngày nay trên địa bàn TPHCM càng trở nên thiết thực và cấp bách
2.3.2 Đánh giá thực trạng về tiêu chí phát triển việc làm bền vững tại
Thành phố Hồ Chí Minh:
*Cơ hội việc làm:
Theo Giáo trình Nguồn nhân lực của trường Đại học Lao Động – Xã Hội, lực lượng
lao động tham gia hoạt động kinh tế ( nguồn nhân lực) bao gồm các thành phần sau:
- Lao động đang làm việc;
- Lao động trên tuổi đang làm việc;
- Thất nghiệp
Tỷ lệ giữa lao động đang làm việc và lao động trên tuổi đang làm việc sẽ mở ra được việc đáp ứng về nhu cầu, về việc làm có thỏa mãn được hay không Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu tiêu dùng và bức xúc về không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư, đã thúc đẩy sự tham gia hoạt động kinh tế nhiều hơn của lực lượng lao động trên 15 tuổi Vì thế, với tỷ lệ này có thể cho biết nền kinh tế của địa phương
có khả năng đáp ứng được về nhu cầu việc làm
Bảng 2.2 Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trên địa bàn TPHCM
Nguồn: Số liệu tổng hợp của Tổng cục thống kê
Ta có chỉ tiêu đánh giá tỷ lệ người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm trong dân số:
RPE1=𝑃𝐸1
𝑃 × 100(%)
Trang 8Trong đó: - RPE1 : Tỷ lệ dân số 15 tuổi trở lên có việc làm trong dân số
- RPE1 : Dân số đủ 18 tuổi trỏ lên có việc làm
- P : Dân số
Qua bảng số liệu đã được thống kê kết hợp với chỉ tiêu đánh giá cho thấy, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên hiện đang làm việc có xu hướng ngày càng tăng Tỷ lệ này phản ánh một cách hiệu quả và đúng đắn quy mô dân số 15 tuổi trở lên đang làm việc, đang gánh vác hoạt động kinh tế trong nền kinh tế Tuy nhiên, theo số liệu của bảng thống
kê đã thấy có những chuyển biến ở giai đoạn năm 2014 – 2015 có xu hướng giảm nhẹ Nguyên nhân là do nền kinh tế thị trường giai đoạn đó phải đối mặt không ít khó khăn
về chuyển biến của nền kinh tế Nhưng sang giai đoạn sau đó (2015 - 2016), tỷ lệ có
xu hướng tăng trở lại Thành phố Hồ Chí Minh đã có những chuyển biến trong việc tạo thêm việc làm, đáp ứng nhu cầu và cơ hội làm việc cho người lao động
Bảng 2.3 Dân số trung bình và lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên tại
Nguồn: Số liệu tổng hợp của Niên giám thống kê thành phố Hồ Chí Minh năm 2016
Cụ thể bởi chỉ tiêu đánh giá quy mô nguồn nhân lực sau cho thấy:
RLF1 (%)=𝐿𝐸1
𝑃 1 × 100 Trong đó: - RLF1 : Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số 15 tuổi trở lên
- 𝐿𝐸1 : Dân số 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động
Trang 9- 𝑃1 : Dân số đủ 15 tuổi trở lên
Tỷ lệ tham gia của lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phản ánh quy mô tham gia vào lực lượng lao động Đồng thời thấy được tỷ lệ này đang tăng dần theo từng giai đoạn
Vì vậy, nếu điều này tiếp diễn sẽ dẫn đến hiệu quả về chất lượng lao động sẽ ngày càng được tăng cao trong tương lai Bên cạnh quy mô dân số ngày càng gia tăng qua giai đoạn từng năm thì lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của vùng cũng ngày một tăng theo
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị có nguồn nhân lực lớn nhất nước Với thế mạnh là nguồn nhân lực kết hợp cùng lực lượng lao động dồi dào, chiếm tỷ trọng khá lớn trong quy mô dân số Tuy nhiên, nhìn chung thì tỷ lệ tăng dân số tại khu vực luôn có sự biến đổi không ngừng qua từng năm, từng giai đoạn
Theo ông Nguyễn Văn Lâm, Phó giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội
TPHCM, trong năm 2016 đã giải quyết việc làm cho 311.135/270.000 lượt người (đạt
115,23% kế hoạch năm) và 130.109/125.000 chỗ việc làm mới được tạo ra (đạt 104%
kế hoạch năm), kéo giảm tỷ lệ thất nghiệp đô thị năm 2016 xuống còn 4,4%, đồng thời
tỷ lệ giải quyết việc làm tăng 5,98% (tương đương 15.859 lượt người), việc làm mới tăng 5,2% (tương đương 6.340 chỗ làm việc), tỷ lệ thất nghiệp đô thị giảm 0,1% Thành phố Hồ Chí Minh còn áp dụng những chính sách giải quyết thất nghiệp và tạo thêm việc làm để đáp ứng nhu cầu về việc làm mỗi năm là từ 200.000 đến 400.000 người lao động
Tuy nhiên, bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu việc làm thì xuất hiện tình trạng người lao động ở các tỉnh thành lân cận đổ bộ vào TPHCM để tìm việc làm một cách ồ ạt Theo báo cáo khảo sát của trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động thành phố Hồ Chí Minh, trong 6 tháng đầu năm, nhu cầu tuyển dụng lao động của thành phố cao gấp 2,24 lần so với cùng kỳ 2016 Từ đó tạo ra sự cạnh tranh gay gắt để đáp ứng nhu cầu lao động
* Làm việc trong điều kiện tự do
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO):
Làm việc hiệu quả, làm việc với đúng trình độ cá nhân, bảo đảm nhân phẩm tại nơi làm việc mong muốn của tất cả mọi người lao động là có công việc ổn định, đảm bảo cuộc sống của cá nhân và gia đình mình, phát huy tối đa khả năng cá nhân để
Trang 10phục vụ gia đình và cộng đồng
Làm việc với các điều kiện chấp nhận được, bình đẳng, có cơ hội phát triển và hoàn thiện các kỹ năng cá nhân Cùng với việc khẳng định vai trò của các tổ chức, cá nhân trong việc đảm bảo việc làm, thu nhập cho người lao động thì pháp luật cũng khẳng định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cả người lao động và người sử dụng lao động, xây dựng mối quan hệ lao động tiến
bộ, hài hòa và ổn định
Người lao động tham gia vào quan hệ lao động, có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào, làm bất cứ công việc gì mà pháp luật không cấm cũng như có quyền lựa chọn nơi làm việc phù hợp với điều kiện sinh sống Người lao động có quyền chủ động nắm bắt công việc phù hợp với khả năng, nguyện vọng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và sức khỏe của mình
Bên cạnh quyền tự do việc làm, các chế độ về tiền lương, điều kiện lao động, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi cũng được xác định theo nguyên tắc chung, không phân biệt thành phần kinh tế, giới tính Điều này góp phần cho việc thực hiện quyền tự do lao động của công dân Trong trường hợp điều kiện lao động không đảm bảo hoặc khi có cơ hội tốt hơn, người lao động có thể chấm dứt quan hệ lao động này để tham gia vào quan hệ lao động khác trên cơ sở của pháp luật
Khi tham gia vào quan hệ lao động, người lao động không chỉ tự do lựa chọn việc làm
mà còn được người sử dụng lao động cam kết đảm bảo làm việc lâu dài, phù hợp với sức khỏe và trình độ chuyên môn
Theo quy định của pháp luật lao động, quyền được đảm bảo việc làm của người lao động thể hiện rõ trong các quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động
Đó là, người lao động được đảm bảo việc làm theo đúng công việc, nơi làm việc, thời hạn đã được thỏa thuận trong hợp đồng lao động; đảm bảo việc làm trong các trường hợp đặc biệt như thay đổi cơ cấu tổ chức hoặc công nghệ sản xuất, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp; đảm bảo việc làm đối với một số lao động đặc thù như lao động nữ, lao động khuyết tật
Theo khoản 1 và 2, Điều 35 Hiến pháp năm 2013:
Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc Người
Trang 11làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được
hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi
Bên cạnh đó, điều kiện làm việc là các yếu tố hỗ trợ người lao động để thực hiện công việc của mình Nó là yếu tố căn bản quyết định năng suất, chất lượng sản phẩm người lao động làm ra và sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống của người lao động
Theo ông Nguyễn Thành Phong - chủ tịch UBND TPHCM đã có kết luận bỏ điều kiện
“có hộ khẩu tại TPHCM” trong tuyển dụng công chức, viên chức, kể cả cán bộ, công
chức khối Đảng, đoàn thể của TPHCM Đồng thời, ông Lê Hoài Trung - phó giám đốc
Sở Nội vụ đã khẳng định khi chủ tịch UBND thành phố kết luận thông qua rồi thì ngay
trong năm 2017, sẽ không còn điều kiện “có hộ khẩu tại TPHCM” khi tuyển dụng Đây là một trong bước phát triển mới nhằm tạo sự công bằng cho cán bộ, nhân viên nói riêng và bộ phận người lao động nói chung Tuy nhiên, điều này đã được thực hiện trước đó bởi các địa phương khác như Thành phố Cần Thơ và thành phố Đà Nẵng
(Theo Lê Dân – Trường Trung, 2017)
Tuy nhiên, việc để lại hạn chế là điều không tránh khỏi Nguyên nhân bởi chưa có hành lang pháp lý rõ ràng, tất cả các quy định pháp luật việc thể hiện chưa nhất quán, đồng thời có thể chưa được nâng cao nhận thức về trách nhiệm xã hội cho các doanh nghiệp
Chính vì thế, việc định hướng và thay đổi nhanh hơn để theo kịp thời đại, phát triển hơn nữa ở đội ngũ quản lý là nhu cầu hết sức cấp bách Để từ đó thúc đẩy việc phát triển bền vững việc làm cho bộ phận lao động ngày càng hiệu quả hơn
* Việc làm năng suất:
Là yêu cầu cần thiết của người lao động trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội
Làm việc có năng suất tạo ra được nhiều sản phẩm có giá trị về nội dung và hình thức trong một thời gian nhất định
Các yếu tố tác động tới việc làm bền vững, chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố như sau:
- Thứ nhất, các yếu tố mà người sử dụng lao động có thể tác động làm thay đổi năng
suất trong công việc của người lao động Các yếu tố này bao gồm: hiện đại hoá thiết
bị, cải tiến quy trình công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguyên-nhiên-vật liệu… Trong 40 năm qua, TPHCM đã tập trung đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng
Trang 12kinh tế, xã hội phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Điển hình là việc xây dựng Công viên phần mềm Quang Trung, khu Công nghệ cao, khu Nông nghiệp công nghệ cao, Viện KH-CN tính toán…
Còn Khu Công nghệ cao đã thu hút thành công các tập đoàn, công ty, doanh nghiệp công nghệ đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao (Intel, Samsung, Nidec, Jabil, Sonion, Sanofi, FPT ) Trong giai đoạn gần đây, hoạt động KH-CN của TPHCM đã cho thấy sự gắn kết với hầu hết các ngành kinh tế - xã hội của thành phố, có tác động quan trọng trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý
Chính vì thế, TPHCM đang là địa phương dẫn đầu trong tạo ra mô hình KH-CN điển hình như trên Điều này xuất phát từ lãnh đạo TPHCM luôn có sự quan tâm đặc biệt đến vai trò của KH-CN trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
- Thứ hai, các yếu tố tâm lý của lao động tác động tới công việc hoặc từ quá trình quản
lý, ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất Yếu tố này bao gồm: trình độ văn hoá, trình độ
chuyên môn của người lao động, tình trạng sức khoẻ, thái độ làm việc của người lao
động, sử dụng lao động và thời gian lao động của công nhân, điều kiện làm việc, tổ chức và phục vụ nơi làm việc, hoàn thiện bộ máy quản lý… Đây là yếu tố hàng đầu không thể thiếu để làm tăng năng suất lao động
Đi đôi với tiến bộ kỹ thuật cần nâng cao trình độ quản lý con người, như phân công và hiệp tác lao động, sự phân bố hợp lý lực lượng sản xuất và nguồn nhân lực… đều là các yếu tố làm tăng năng suất lao động xã hội
Bảng 2.4 Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua
đào tạo tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 132016 34,8
Nguồn: Số liệu tổng hợp của Tổng cục thống kê
Lao động đã qua đào tạo là những người đã học và tốt nghiệp ở một trường lớp đào tạo chuyên môn kỹ thuật của cấp học hoặc trình độ đào tạo tương đương thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ 3 tháng trở lên (có văn bằng hoặc chứng chỉ công nhận)
Bảng 2.5 Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp Trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí
Nguồn: Số liệu tổng hợp của Tổng cục thống kê
Đối với nguồn nhân lực trong tuổi lao động, lực lượng lao động và lao động đang làm việc thì chỉ tiêu dùng để đánh giá về trình độ học vấn cần phải nhắc tới đó là:
ItncIII =𝑇ổ𝑛𝑔 𝑠ố 𝑙𝑎𝑜 độ𝑛𝑔 𝑡ố𝑡 𝑛𝑔ℎ𝑖ệ𝑝𝑇𝐻𝑃𝑇 𝑡ℎ𝑢ộ𝑐 𝑁𝑁𝐿 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 độ 𝑡𝑢ổ𝑖 𝑙𝑎𝑜 độ𝑛𝑔;𝐿𝐿𝐿Đ; 𝐿ĐĐ𝐿𝑉
Trong đó, ItncIII : Tỷ lệ lao động tốt nghiệp THPT tính riêng cho nguồn nhân lực trong
độ tuổi lao động, cho LLLĐ hoặc của LĐĐLV (%)
Qua đánh giá, chỉ tiêu này không chỉ để đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực mà còn dùng làm căn cứ để lập chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Đồng thời, người lao động có thể phải học thêm văn hóa, tham gia đào tạo
để đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kì của khu vực
Bên cạnh việc đòi hỏi trình độ văn hóa, việc xây dựng và củng cố trình độ chuyên môn phải luôn được đề cao Một trong những hạn chế khá lớn cho vùng lãnh thổ hiện nay là việc chưa lựa chọn chính xác hay định hướng đúng đắn đã dẫn đến việc học sinh tốt nghiệp THPT đã không làm đúng công việc phù hợp với bản thân, gây ảnh hưởng cho