Đặc biệt đối với thành phố phát triển mạnh về dịch vụ du lịch như Đà Nẵng hiện nay thì việc đào tạo nghề càng quan trọng hơn hết bởi du lịch thường phát triển mạnh về dịch vụ ăn uống, nhà hàng- khách sạn, khu nghỉ dưỡng, vui chơi, các loại hình giải trí, các ngành nghề thủ công mỹ nghệ ...Các doanh nghiệp mới dần ra đời nhiều mà những ngành nghề này đòi hỏi người lao động cần phải có trình độ kĩ thuật, chuyên môn của riêng từng ngành nghề nên việc không tuyển đủ số lao động cần thiết ( chủ yếu là lao động có tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ) trong khi đó lao động phổ thông không có việc làm lại dư khá nhiều, càng cho thấy công tác quản lí đào tạo nghề chưa đảm bảo chất lượng đáp ứng cho nhu cầu phát triển nhanh như hiện nay
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI (CS2)
KHOA QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
-***** -
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN NGUỒN NHÂN LỰC
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH TẠI
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
SỐ BÁO DANH: 103 SINH VIÊN THỰC HIỆN: Trần Bích Liên MSSV: 1653404040481
LỚP: Đ16NL3 GV: Lê Thị Cẩm Trang
TP HCM, ngày 20 tháng 4 năm 2018
Trang 2MỤC LỤC
1 Đặt vấn đề 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
2 Thực trạng về vấn đề nghiên cứu 3
2.1 Các khái niệm cơ bản 3
2.1.1 Khái niệm về đào tạo nghề và nghề 3
2.1.2 Phân loại các hình thức đào tạo nghề 3
2.2 Quan điểm về chất lượng đào tạo nghề và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề 4
2.2.1 Quan điểm về chất lượng đào tạo nghề 4
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề 4
2.3 Những hạn chế, khó khăn trong việc đào tạo nghề và chất lượng đào tạo 4
2.3.1 Tình hình chung của Đà Nẵng trong công tác đào tạo nghề 4
2.3.2 Thực tế trong công tác giảng dạy và đào tạo nghề 5
2.3.3 Bất cập trong đào tạo nghề đối với ngành du lịch Đà Nẵng 7
3 Giải pháp cho vấn đề nghiên cứu 10
3.1 Nâng cao chất lượng cán bộ giảng viên trong công tác đào tạo nghề 10
3.2 Các giải pháp cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng trong đào tạo nghề 11
3.3 Giải pháp của nhà nước 13
3.4 Tăng cường hợp tác trong và ngoài nước để phát triển nhân lực du lịch 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 31 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Lý do chọn đề tài
- Trong thời buổi công nghiệp hóa- hiện đại hóa và hội nhập WTO việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định nên sự phát triển bền vững kinh tế xã hội của một quốc gia Để đáp ứng những yêu cầu đó đòi hỏi cần phải
có đội ngũ nhân lực đông đảo, có trình độ kĩ năng lao động cần thiết Nguồn nhân lực được đào tạo với chất lượng cao tạo năng lực cạnh tranh cao trong tiến trình hội nhập quốc tế và đảm bảo chắc chắn cho sự thịnh vượng của một quốc gia
- Đối với nguồn nhân lực của cả nước nói chung và các tỉnh miền Trung nói riêng thì tình trạng thừa lao động phổ thông, lao động không có chuyên môn kĩ thuật, nhưng lại thiếu lao động có trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh, thiếu thợ kĩ thuật trong các ngành nghề và trong các khu vực kinh tế, tình trạng thất nghiệp vẫn còn đang được báo động Một trong những nguyên nhân chính là do các chính sách cũng như chất lượng đào tạo nghề không đáp ứng được đòi hỏi mà những diễn biến nhanh chóng của nền kinh tế và quá trình phát triển công nghệ đặt ra
- Hiện nay đối với thành phố Đà Nẵng được mệnh danh là thành phố đáng sống với ngành du lich phát triển vượt bậc lại càng đòi hỏi nguồn nhân lực dồi dào song song cùng với chất lượng và trình độ chuyên môn kĩ thuật cao nhằm đưa thành phố Đà Nẵng phát triển lên thành địa điểm du lịch quốc tế Tuy nhiên hiện nay năng lực cạnh tranh giữa các trường đào tạo nghề còn rất thấp chưa đáp ứng được nhu cầu của những nhà sử dụng lao động đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên còn non trẻ, kinh nghiệm chưa nhiều, chương trình giáo trình còn nhiều bất cập và hạn chế, chưa đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo, chưa tích cực trong công tác gắn kết đào tạo giữa nhà trường và các cở sở sản xuất, chưa chú trọng nhiều vào công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giảng viên, chưa tích cực trong đổi mới nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, chưa đảm bảo được hết các điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị giảng dạy chuyên ngành sinh viên sau tốt nghiệp vẫn còn yếu tay nghề(31.6%) và bỡ ngỡ tại cơ sỡ sản xuất và trang thiết bị máy móc hiện đại
Trang 4- Theo điều 3 trong Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong đó
có nhu cầu của quốc gia, nhu cầu của doanh nghiệp và nhu cầu của bản thân người học
- Đặc biệt đối với thành phố phát triển mạnh về dịch vụ du lịch như Đà Nẵng hiện nay thì việc đào tạo nghề càng quan trọng hơn hết bởi du lịch thường phát triển mạnh
về dịch vụ ăn uống, nhà hàng- khách sạn, khu nghỉ dưỡng, vui chơi, các loại hình giải trí, các ngành nghề thủ công mỹ nghệ .Các doanh nghiệp mới dần ra đời nhiều mà những ngành nghề này đòi hỏi người lao động cần phải có trình độ kĩ thuật, chuyên môn của riêng từng ngành nghề nên việc không tuyển đủ số lao động cần thiết ( chủ yếu là lao động có tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ) trong khi đó lao động phổ thông không có việc làm lại dư khá nhiều, càng cho thấy công tác quản lí đào tạo nghề chưa đảm bảo chất lượng đáp ứng cho nhu cầu phát triển nhanh như hiện nay
- Đó là một trong số những lí do hạn chế trong việc đào tạo nghề vì vậy Đà Nẵng cần tập trung vào việc quản lí cũng như nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch nói riêng cũng như nền kinh tế của thành phố Đà Nẵng nói chung Xuất phát từ những lý luận và thực tiễn trên, tôi chọn đề tài “Một số giải pháp trong đào tạo nghề cho người lao động nhằm phát triển ngành du lịch tại thành phố Đà Nẵng”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Trình bày thực trạng nghiên cứu phân tích, đánh giá công tác quản lí đào tạo nghề tại thành phố Đà Nẵng
- Vận dụng các hệ thống chỉ tiêu để đánh giá chung về thực trạng nghiên cứu
- Nhận xét đưa ra nguyên nhân cùng các giải pháp giúp nâng cao chất lượng đào tạo nghề
Trang 51.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng vấn đề đào tạo nghề tại thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn năm 2012-2015 và giải pháp quản lí, đổi mới chất lượng đào tạo nghề nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
- Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề đào tạo nghề ở thành phố Đà Nẵng
2 THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1 Khái niệm về đào tạo nghề và nghề
- Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi
là do trình độ của nền sản xuất và trình độ phát triển
- Đào tạo nghề: Là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kĩ năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại hoặc trong tương lai
2.1.2 Phân loại các hình thức đào tạo nghề
- Có rất nhiều cách phân loại đào tạo nghề, tùy theo mỗi loại tiêu thức ta có thể phân loại theo các cách khác nhau:
+ Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề
+ Căn cứ vào nghề đào tạo đối với người học
+ Các hình thức đào tạo nghề
- Đối với đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng nhìn chung khá phong phú
và đa dạng Tuy vậy về cơ bản đào tạo nghề hiện nay thường áp dụng một số hình thức sau:
+ Đào tạo nghề chính quy
+ Đào tạo nghề ở các doanh nghiệp
+ Đào tạo nghề ở các lớp nghiệp vụ ngắn hạn
Trang 62.2 Quan điểm về chất lượng đào tạo nghề và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề
2.2.1 Quan điểm về chất lượng đào tạo nghề
Có thể hiểu một cách đơn giản với những điểm cơ bản như sau: Chất lượng đào tạo nghề là kết quả tác động tích cực của tất cả các yếu tố cấu thành lên hệ thống đào tạo nghề và quá trình đào tạo và vận hành trong môi trường nhất định
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề
- Các yếu tố bên trong: Cơ sở vật chất, tài chính, đội ngũ giáo viên dạy nghề, học sinh – sinh viên học nghề, mục tiêu đào tạo, chương trình, giáo trình đào tạo, kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo
- Các yếu tố bên ngoài: Tác động đến chất lượng đào tạo nghề thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: Chính trị, kinh tế- xã hội, khoa học – công nghệ, địa lí, truyền thống- văn hóa
2.3 Những hạn chế, khó khăn trong việc đào tạo nghề và chất lượng đào tạo
2.3.1 Tình hình chung của Đà Nẵng trong công tác đào tạo nghề
- Theo bà Nguyễn Thị Thanh Hưng (Giám đốc Sở LĐ-TB-XH Đà Nẵng ), hiện lực lượng lao động của Đà Nẵng khoảng 480.000 người, chiếm 50,1% dân số Tuy nhiên,
so sánh với cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn với tỉ lệ 1 cao đẳng, đại học - 4 trung cấp - 10 công nhân kỹ thuật của Quỹ Dân số Liên hiệp quốc thì cơ cấu lao động hiện nay của Đà Nẵng với tỉ lệ 1 - 0,5 - 1,3 cho thấy đang có sự mất cân đối lớn giữa đào tạo nghề và nhu cầu nhân lực cho mục tiêu phát triển KT-XH của TP Đà Nẵng Xuất phát từ nhu cầu của thị trường lao động, 5 năm tới, Đà Nẵng phải đạt mục tiêu 55% lao động qua đào tạo nghề, nghĩa là cần phải đào tạo nghề cho 195.500 người (gồm 10% trình độ cao đẳng, 28% trung cấp nghề) và 95% số người học nghề có việc
làm ( phát biểu trong “Hội thảo Đào tạo nghề - Giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho mục tiêu phát triển KT - XH" do UBND TP Đà Nẵng tổ chức ngày 25/10/2012 “)
- Thế nhưng công tác đào tạo nghề trên địa bàn lại đang chứa đựng rất nhiều bất cập Toàn TP hiện có tổng cộng 62 cơ sở dạy nghề, thuộc vào loại cao ở khu vực duyên hải miền Trung Tuy nhiên số cơ sở dạy nghề có quy mô đào tạo trên 2.000 học
Trang 7viên chỉ chiếm 4,8%, trong khi quy mô đào tạo dưới 500 học viên chiếm đến 62,9% Điều đó cho thấy số cơ sở dạy nghề ở Đà Nẵng hiện nay tuy nhiều nhưng quy mô tào tạo nhỏ, manh mún
- Về ngành nghề đào tạo, cũng chưa sát với yêu cầu thực tế Các cơ sở dạy nghề chủ yếu đào tạo ngắn hạn, thường tập trung vào các nghề đơn giản như điện dân dụng,
cơ khí gò hàn, may công nghiệp, lễ tân khách sạn, buồng phòng, trồng nấm, nuôi cá nước ngọt, dịch vụ thẩm mỹ Đáng chú ý, đào tạo nghề lái xe ô tô hiện chiếm 29,5% trên tổng số tuyển sinh đào tạo hàng năm, trong khi tỉ lệ lao động phục vụ cho phát triển kinh doanh, dịch vụ ở ngành nghề này chỉ đạt 0,65% Các ngành đòi hỏi tay nghề cao như làm đồ thủ công mỹ nghệ, nấu ăn, các công trình dịch vụ vui chơi giải trí vv lại chưa được tập trung đẩy mạnh vào đào tạo nghề đã cho thấy sự bất cập trong đào tạo nghề để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại tp Đà Nẵng còn rất nhiều hạn chế
- "Các ngành có hàm lượng kỹ thuật công nghệ cao như bảo dưỡng, sửa chữa lắp ráp các thiết bị chính xác, cơ khí chế tạo máy, hàn công nghệ cao, công nghệ ô tô, các nghề thuộc lĩnh vực tự động hoá mà thị trường đang cần lại chưa được chú trọng đầu tư về chất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng và cấp trình độ đào
tạo nên các doanh nghiệp thường phải đào tạo lại sau khi tuyển dụng" - Giám đốc Sở LĐ-TB-XH Đà Nẵng Nguyễn Thị Thanh Hưng nói
2.3.2 Thực tế trong công tác giảng dạy và đào tạo nghề
- Về việc thiết kế chương trình dạy nghề theo mô đun và môn học đã thiếu sự tích hợp cần thiết giữa việc thiết lập tiêu chuẩn nghề với tiêu chuẩn đào tạo (chuẩn đầu ra, nội dung, đánh giá, giáo viên, giáo trình, phương pháp, tổ chức quản lý, cơ sở vật chất), trong việc phát triển chương trình dạy nghề Mỗi năm, nhà nước đầu tư hàng nghìn tỉ đồng, nhưng chất lượng đào tạo nghề còn nhiều hạn chế, nguyên nhân chủ yếu
do thiếu đội ngũ giáo viên có năng lực và kinh nghiệm nghề nghiệp Giáo trình dạy nghề cũng khá nghèo nàn do thiếu các chuyên gia có kinh nghiệm và tâm huyết biên soạn
- Ngoài ra, sự hợp tác giữa trường đào tạo nghề và doanh nghiệp chưa được đẩy mạnh Chương trình dạy nghề được thiết kế khá tốt (chỉ đối với dạy nghề) nhưng thiếu
Trang 8điều kiện thực hiện và không đồng bộ Hệ thống đánh giá kỹ năng nghề phát triển khá chậm, nhưng lại chỉ bó gọn vào kỹ năng nghề do Bộ Lao động Thương bình và Xã hội quản lý nhà nước mà không phải là đánh giá và công nhận kỹ năng nghề nghiệp cho những người lao động có trình độ đào tạo khác cao hơn các trình độ nghề hiện tại
- Đào tạo nghề chưa theo sát với nhu cầu nhân lực và bối cảnh dân số, việc làm trong xã hội Đối với một số nghề, học sinh ra trường có việc làm ngay (lĩnh vực kỹ thuật công nghệ) nhưng rất nhiều nghề rất khó kiếm việc làm do năng lực thực hành, thái độ lao động của học sinh yếu Việc đào tạo kỹ năng cho người lao động trong doanh nghiệp thiếu cơ chế khuyến khích hiệu quả Tư nhân hóa công tác dạy nghề diễn
ra còn chậm, doanh nghiệp dường như đứng ngoài cuộc trong công tác đào tạo nghề
- Hiệu quả công tác dạy nghề thể hiện ở việc đầu tư của nhà nước rất lớn nhưng người học nghề ít Việc đầu tư vẫn còn mang tính giàn trải, phong trào chưa tạo ra được những mô hình hay những điển hình tốt cũng như những đột phá về chất lượng dạy nghề Không ít cơ sở dạy nghề khang trang hiện đại nhưng trang thiết bị, đội ngũ giáo viên không đồng bộ nên rất lãng phí (đào tạo nghề chưa theo sát với nhu cầu nhân lực và bối cảnh dân số, việc làm trong xã hội.)
Hình 2.1 Tổng số sinh viên – học sinh dư nợ vay
(Nguồn: giaoduc.net.vn)
Trang 92.3.3 Bất cập trong đào tạo nghề đối với ngành du lịch Đà Nẵng
- Trong thời gian qua, du lịch Đà Nẵng phát triển hết sức nhanh chóng cả trong lĩnh vực lưu trú, ăn uống lẫn vận chuyển và vui chơi giải trí Sự tăng trưởng nhanh chóng của nguồn khách và phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp du lịch tạo nhu cầu rất lớn trên thị trường lao động du lịch Ước tính đến hết tháng 6-2017 ở Đà Nẵng
có 30.322 lao động đang làm việc trong lĩnh vực du lịch, tăng 12,2% (tương ứng với 3.292 người) so với năm 2016
- Nhu cầu lao động du lịch to lớn đang đặt ra cho các doanh nghiệp du lịch Đà Nẵng thường xuyên gặp phải những khó khăn trong đảm bảo nguồn nhân lực, không chỉ với các doanh nghiệp mới thành lập mà cả các doanh nghiệp đang hoạt động bởi tỷ
lệ bỏ việc cao của lao động trong ngành
- Giai đoạn 2012 - 2015 toàn thành phố có 234.600 học sinh, sinh viên; trong đó: Trình độ sơ cấp nghề 62%, trung cấp nghề 28% và cao đẳng nghề 10% Với 66 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó có 21 trường cao đẳng, 6 trường trung cấp, 12 trung tâm giáo dục nghề nghiệp và 27 cơ sở khác có đăng kí hoạt động giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn TP.Đà Nẵng là gần 69.860 học sinh, sinh viên với 198 ngành nghề đào tạo
ở các cấp trình độ khác nhau Trong đó ở Đà Nẵng có hàng chục cơ sở tham gia đào tạo nghề trong du lịch, trong đó bậc đại học có 3 trường: Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Duy Tân, Trường Đại học Đông Á
- Công tác đào tạo chưa được quan tâm đúng mức, chương trình đào tạo chưa chú trọng đến tính thực tiễn và gắn với doanh nghiệp nên chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp và doanh nghiệp chưa quan tâm đến công tác đào tạo
- Về chất lượng đào tạo, hạn chế lớn nhất là các chương trình đào tạo tại các cơ sở đào tạo, nhất là đào tạo ở bậc đại học, nặng về kiến thức, thậm chí nặng về kiến thức
cơ bản, chưa chú trọng đến kỹ năng và thái độ
- Trong khi đó, kinh doanh du lịch đòi hỏi người lao động không những phải có kiến thức mà cả kỹ năng, thái độ tốt trong giao tiếp phục vụ khách và điều này chỉ có thể có được qua rèn luyện tại thực tế phục vụ khách
Trang 10- Bất kỳ ai trong doanh nghiệp du lịch, kể cả nhà quản trị doanh nghiệp, không thể
không thông qua những hoạt động tác nghiệp phục vụ khách Các bất cập nêu trên giải
thích thực tế là các doanh nghiệp du lịch phải đào tạo lại sau tuyển dụng
- Một hạn chế nữa của nguồn nhân lực du lịch Đà Nẵng đang khiến các doanh
nghiệp trăn trở là tỷ lệ bỏ việc cao của người lao động du lịch Đà Nẵng Đó có thể là
do họ chưa thật sự yêu nghề và hoặc chưa toàn tâm gắn bó với doanh nghiệp
- Doanh thu ngành lữ hành và lưu trú tại TP.Đà Nẵng ước tính tháng 02/2016 đạt
321 tỷ đồng, tăng 0,76% so với tháng trước và giảm 3,3% so với cùng kỳ năm 2015 Trong đó: hoạt động khách sạn ước đạt 248,9 tỷ đồng, tăng 0,46% so với tháng trước
và giảm 9,37% so với cùng kỳ năm 2015; hoạt động du lịch lữ hành đạt 72 tỷ đồng,
tăng 1,82% so với tháng trước và tăng 25,83% so với tháng 2/2015 Cộng dồn 2 tháng
đầu năm 2016, doanh thu ngành lữ hành lưu trú đạt 639 tỷ đồng, giảm 6,94% so với
cùng kỳ năm 2015
- Tổng lượt khách phục vụ tháng 02/2016 là 262 nghìn lượt, tăng 0,42% so với
tháng trước và giảm 3,92% so với cùng kỳ năm 2015, trong đó: lượt khách lữ hành là
20,4 nghìn lượt khách, bằng 96,12% so tháng trước và bằng 99,99% so với năm trước,
lượt khách lưu trú là 241,2 nghìn lượt khách, tăng 0,8% so với tháng trước và bằng
95,76% so với cùng kỳ năm 2015
- Ngành du lịch Đà Nẵng tính đến năm 2016 có gần 900 HDV tiếng Việt và hơn
1.200 HDV quốc tế nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu cho hàng triệu lượt khách đến
thành phố mỗi năm Theo thông tin từ các doanh nghiệp lữ hành, thiếu hụt nhất vẫn là
HDV tiếng Hàn Quốc và Trung Quốc, trong khi lượng du khách các nước này đến đây
ngày một tăng cao, trong đó có nguyên nhân từ việc mở đường bay trực tiếp từ nước
ngoài đến Đà Nẵng
- Nhìn chung, nhân lực du lịch ở thành phố Đà Nẵng cũng như cả nước hiện nay
tuy đã tăng về số lượng nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế Điều này dẫn đến
tình trạng thiếu hụt, khan hiếm và chuyển dịch lao động, nhất là nhân lực chất lượng
cao như các vị trí quản lý, điều hành, hướng dẫn viên du lịch Đặc biệt, vào mùa cao
điểm, thiếu hụt nhân lực trầm trọng khiến các cơ sở kinh doanh du lịch phải thuê nhân
lực du lịch từ nước ngoài hoặc từ các địa phương khác như Hà Nội, thành phố Hồ Chí