Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: nguồn nhân lực qua đào tạo nghề vẫn chưa đảm bảo đáp ứng yêu cầu của sản xuất và dịch vụ; chuyển dịch cơ cấu lao động chưa theo kịp chuyển dịch cơ cấu kinh tế; việc làm của người lao động thiếu bền vững dẫn đến tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn còn gia tăng; đào tạo nghề chưa thật sự gắn liền với giải quyết việc làm; các cấp, các ngành quản lý chưa thực sự quan tâm đúng mức đến vấn đề lao động - việc làm - dạy nghề; tính lồng ghép của các chương trình phát triển kinh tế - xã hội để tạo việc làm hiệu quả chưa cao; hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn nên việc thu hút lao động còn chậm; cơ chế, chính sách và môi trường làm việc của tỉnh chưa đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư, xã hội hóa lĩnh vực dạy nghề tuy có thực hiện nhưng chưa đạt hiệu quả... Mặt khác, công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề thời gian qua mới chủ yếu là quản lý đầu vào, quản lý quá trình đào tạo, chưa quản lý và kiểm soát được đầu ra cũng như 2 chất lượng sản phẩm trong quy trình đào tạo nghề… V
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI (CS2)
KHOA QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
-***** -
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN NGUỒN NHÂN LỰC
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN LAO ĐỘNG TẠI TỈNH
QUẢNG NGÃI
SỐ BÁO DANH: 096 SINH VIÊN THỰC HIỆN: Nguyễn Nhật Khoa MSSV: 1453404040476
LỚP: D16NL2 GV: Ths Lê Thị Cẩm Trang
TP HCM, ngày 19 tháng 4 năm 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI (CS2)
KHOA QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
-***** -
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN NGUỒN NHÂN LỰC
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN LAO ĐỘNG TẠI TỈNH
QUẢNG NGÃI
SỐ BÁO DANH: 096 SINH VIÊN THỰC HIỆN: Nguyễn Nhật Khoa MSSV: 1453404040476
LỚP: D16NL2 GV: Ths Lê Thị Cẩm Trang
TP HCM, ngày 19 tháng 4 năm 2018
Trang 3MỤC LỤC
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 2
2 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI 3
2.1 Thực trạng lực lượng lao động đang làm việc trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 3 2.2 Kết quả thực hiện công tác đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2016 7
2.3 Hạn chế trong công tác đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 9
3 GIẢI PHÁP CHO CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI 11
3.1 Tăng cường và đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và xã hội về đào tạo nghề 11
3.2 Liên kết, hợp tác quốc tế trong đào tạo nghề 11
3.3 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phương tiện dạy nghề 12 3.4 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý đào tạo nghề 12
3.5 Chính sách cho người học nghề 13
3.6 Chính sách đối với cơ sở đào tạo ghề 13
3.7 Chính sách đối với giáo viên và cán bộ quản lý tại các cơ sở đào tạo nghề 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 41 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, nền kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi có sự phát triển vượt bậc, Khu kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp của tỉnh đã và đang thu hút nhiều
dự án quan trọng Thực tế đòi hỏi cần phải có nguồn nhân lực tăng cả về số lượng và chất lượng, đó là nhân lực kỹ thuật trình độ cao, đội ngũ công nhân lành nghề, cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi, đội ngũ công chức tinh thông chuyên môn nghiệp vụ, những nhà lãnh đạo, quản lý có năng lực Nhận thức về tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực lao động xã hội, đặc biệt là nguồn nhân lực qua đào tạo nghề, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh đã quan tâm, ban hành nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy đổi mới công tác quản lý và triển khai thực hiện đào tạo nghề; gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm; qua đó, công tác đào tạo nghề đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động trên các lĩnh vực nông nghiệp sang hoạt động trên lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ - thương mại góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế hộ gia đình và địa phương, bước đầu đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: nguồn nhân lực qua đào tạo nghề vẫn chưa đảm bảo đáp ứng yêu cầu của sản xuất và dịch vụ; chuyển dịch cơ cấu lao động chưa theo kịp chuyển dịch cơ cấu kinh tế; việc làm của người lao động thiếu bền vững dẫn đến tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn còn gia tăng; đào tạo nghề chưa thật sự gắn liền với giải quyết việc làm; các cấp, các ngành quản lý chưa thực sự quan tâm đúng mức đến vấn đề lao động - việc làm - dạy nghề; tính lồng ghép của các chương trình phát triển kinh tế - xã hội để tạo việc làm hiệu quả chưa cao; hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn nên việc thu hút lao động còn chậm; cơ chế, chính sách và môi trường làm việc của tỉnh chưa đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư, xã hội hóa lĩnh vực dạy nghề tuy có thực hiện nhưng chưa đạt hiệu quả Mặt khác, công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề thời gian qua mới chủ yếu là quản lý đầu vào, quản lý quá trình đào tạo, chưa quản lý và kiểm soát được đầu ra cũng như
Trang 5chất lượng sản phẩm trong quy trình đào tạo nghề… Với thực trạng như trên, vấn đề đặt ra cho nhà quản lý hiện nay là cần phải nhìn nhận, đánh giá lại thực tiễn công tác quản lý đào tạo nghề để có định hướng, quy hoạch, kế hoạch, chính sách cụ thể để điều chỉnh kịp thời
Theo cục thống kê tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2013 dân số trung bình của tỉnh Quảng Ngãi là 1.236.250 người Toàn tỉnh có khoảng 324.000 hộ gia đình, bình quân 3.75 nhân khẩu/hộ Dân số thành thị có chiếm 14,62% và dân số nông thôn chiếm 85,38% Trong cơ cấu dân số phân theo giới tính, nữ chiếm 50,7%, nam chiếm 49,3%; phân theo độ tuổi, từ 0-59 tuổi chiếm khoảng 88,51%, chỉ tiêu này cho thấy đây là cơ cấu dân số trẻ, riêng dân số dưới 15 tuổi chiếm 25,55%, đây là lực lượng lao động dự trữ dồi dào của tỉnh Do đó vấn đề nâng cao, phát triển nguồn nhân lực, phát huy yếu
tố nội lực con người là nhiệm vụ cấp bách trước mắt cũng như chiến lược lâu dài của tỉnh nhằm đáp ứng kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế Vì lý do
đó, em chọn đề tài “Một số giải pháp trong đào tạo nghề cho người lao động để nâng cao chất lượng nguồn lao động tại tỉnh Quảng Ngãi” cho bài tiểu luận của mình
Đây chính là đề tài bài tiểu luận của em nhằm phục vụ cho lợi ích học tập của sinh viên Nghiên cứu về đề tài sẽ làm rõ thực trạng của vấn đề nhằm đưa ra những giái pháp hợp lý hoàn thiện việc thực hiện theo đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh nhà
1.2 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Lao động tỉnh Quảng Ngãi
Phạm vi nghiên cứu: Tỉnh Quảng Ngãi
1.3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Qua đề tài em đặt ra những mục tiêu cụ thể:
Làm rõ được thực trạng đào tạo nghề cho lao động tại tỉnh Quảng Ngãi
Phân tích, rút ra được những ưu, nhược điểm của việc đào tạo nghề cho lao động tại tỉnh Quảng Ngãi
Đưa ra một số giải pháp đào tạo nghề cho lao động tỉnh Quảng Ngãi
Trang 62 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ
TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI 2.1 Thực trạng lực lượng lao động đang làm việc trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Trong năm 2013, cả tỉnh có 88.340 người, tương ứng với 12,1% đã được đào tạo đang tham gia làm việc trên tổng số 730.661 người đang làm việc
Bảng 2.1.1 Tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo, năm 2013
Đơn vị tính: Phần trăm
Giới tính/ khu
Cao đẳng
Đại học trở lên
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Quảng Ngãi
Bảng 2.1.1 cho thấy có sự chênh lệch đáng kể về tỷ lệ lao động đang làm việc
đã qua đào tạo giữa nam và nữ mức chênh lệch 4,4% (nam là 14,5% và nữ là 10,1%) Tương tự vậy, cũng có sự chênh lệch đáng kể về tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo giữa thành thị và nông thôn, mức chênh lệch này là 22,5% (thành thị là 25,9%
và nông thôn là 10,1%)
Trong dãy số liệu ta thấy rằng, xu hướng học cao đẳng và sử dụng trình độ cao đẳng trong nền kinh tế thấp, do đó tỉ lệ chênh lệch về lao động đang làm việc đã qua đào tạo cũng không đáng kể giữa nam và nữ cũng như thành thị và nông thôn ở nhóm trình độ này Chất lượng việc làm của tỉnh còn thấp và không đồng đều giữa các vùng
Trang 7Lao động có kỹ năng, đặc biệt là lao động sản xuất trực tiếp là tiền đề quan trọng cho
sự phát triển bền vững, thu nhập cao và đáp ứng được yêu cầu của các ngành trong việc sử dụng công nghệ hiện đại và hoạt động quản lý
Cơ cấu lao động có việc làm theo trình độ học vấn
Bảng 2.1.2 Tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo, năm 2013
Đơn vị tính: Phần trăm
Chưa tốt nghiệp tiểu học 16,4 13,0 19,9 59,8 Tốt nghiệp tiểu học 28,4 29,5 27,3 47,2
Trình độ chuyên môn
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Quảng Ngãi
Trong bảng 2.1.2, tỷ trọng lao động có việc làm chưa bao giờ đi học chiếm khá cao 9% trong tổng số lao động, trong đó nữ không đi học chiếm rất nhiều so với nam (74,2%), lực lượng này chủ yếu ở nông thôn đặc biệt là vùng sâu vùng xa Hơn một nửa số lao động trong nền kinh tế tốt nghiệp từ tiểu học (28,6%) đến trung học cơ sở (26,2%) Ở các trình độ học vấn thấp (từ chưa bao giờ đi học cho đến tốt nghiệp tiểu học) thì nữ chiếm số đông hơn nam, tuy nhiên càng ở các trình độ cao thì nam lại chiếm số đông hơn nữ Điều này cho thấy, vẫn còn sự bất bình đẳng về giới trong giáo dục phổ thông của lực lượng lao động
Cơ cấu lao động có việc làm theo nghề nghiệp
Trang 8Bảng 2.1.3 Số lượng và cơ cấu nghề nghiệp của LLLĐ có việc làm năm
2013
Nghề nghiệp
Số người
có việc làm (Người)
Tỷ trọng (%)
(%)
Nữ Tổng
Các nhà lãnh đạo trong các
ngành, các cấp và các đơn vị
10.029 1,4 2,4 0,4 13,9
CMKT bậc cao trong các lĩnh
vực
25.186 3,4 3,0 4,1 56,8
CMKT bậc trung trong các lĩnh
vực
17.260 2,4 2,2 2,6 53,7
Nhân viên dịch vụ cá nhân, bảo
vệ trật tự - ATXH và bán hàng
có kỹ thuật
82.285 11,2 6,3 15,9 70,9
LĐ có kỹ thuật trong nông
nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
46.765 6,4 8,8 3,9 30,0
Thợ thủ công có kỹ thuật và các
thợ kỹ thuật khác có liên quan
73.535 10,1 14,4 5,2 25,8
Thợ có kỹ thuật lắp ráp và vận
hành máy móc, thiết bị
24.534 3,4 5,1 1,7 24,6
Lao động giản đơn 441.815 60,5 56,5 65,0 52,7 Lực lượng quân đội 920 0,1 0,2 0* 4,7
*: Nữ tham gia lực lượng quân đội: 0,01%
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Quảng Ngãi
Trang 9Trong năm 2013 bảng 2.1.3 cho thấy, có 60,5% "Lao động giản đơn" (441.815người) Các nhóm nghề cơ bản khác bao gồm "Dịch vụ cá nhân, bảo vệ trật tự ATXH và bán hàng" (82.285 người tương đương 11,2%); "Lao động có kỹ thuật trong nông, lâm, ngư nghiệp" (46.765 người tương đương 6,4%) và "Thợ thủ công và các thợ khác có liên quan" (73.535 người tương đương 10,1%) Ngược lại, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật bậc cao và lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật bậc trung chiếm tỷ trọng khá khiêm tốn trong tổng số lao động đang làm việc (tỷ lệ tương ứng là 3,4% và 2,4%) Có tới 5 trong 10 nhóm nghề sử dụng ít lao động nữ hơn nam giới, đặc biệt chỉ có 13,9% nữ giới là "Nhà lãnh đạo", tỉ lệ này cho thấy nữ giới tham gia điều hành các hoạt động kinh tế còn rất thấp Nhóm nghề sử dụng nhiều lao động
nữ hơn nam giới nhất (70,9%) đó là dịch vụ cá nhân, bảo vệ và bán hàng Các nhóm nghề khác sử dụng số lượng lao động nữ nhiều hơn nam nhưng không đáng kể là chuyên môn kỹ thuật bậc cao (56,8%), chuyên môn kỹ thuật bậc trung (53,7%) và lao động giản đơn (52,7%)
Cơ cấu lao động có việc làm theo khu vực kinh tế
Bảng 2.1.4 Cơ cấu lao động của các khu vực kinh tế, chia theo thành
thị/ nông thôn, năm 2013
Đơn vị tính: Phần trăm
Tổng số Thành thị Nông thôn
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Quảng Ngãi
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, quá trình này tất yếu làm thay đổi tỷ trọng lao động trong các ngành kinh tế Tuy nhiên, so với cả nước và một số tỉnh trong khu vực miền trung, chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 10của tỉnh đang diễn ra chậm Bảng 2.1.4, tỷ trọng lao động sản xuất nông lâm thuỷ sản còn cao (64%), trong khi lao động trong sản xuất công nghiệp, xây dựng (12,8%) và dịch vụ (23,2%) Tương tự cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế cũng thay đổi chậm So sánh cơ cấu lao động ở hai khu vực thành thị và nông thôn cho thấy: khu vực nông thôn số lượng lao động trong nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn (71,1%), trong khi công nghiệp( 11,2%), dịch vụ (18,7%) điều này cho thấy, chính sách phát triển các làng nghề, hoạt động sản xuất công nghiệp, dịch vụ còn tập trung ở thành thị
2.2 Kết quả thực hiện công tác đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2016
Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đến năm 2016 đạt 45%
Tuyển mới học nghề trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2012 - 2016 cho 99.868/106.050 người, đạt 94% so với kế hoạch giai đoạn 2012 – 2016 (gồm các cấp trình độ nghề đào tạo Cao đẳng: 6.963 người, Trung cấp: 13.547 người, Sơ cấp và dạy nghề dưới 03 tháng: 79.358 người) Trong đó, tuyển sinh học nghề tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh cho 78.746 người, gồm các cấp trình độ nghề đào tạo Cao đẳng: 6.178 người, Trung cấp: 11.894 người, Sơ cấp và dạy nghề dưới 03 tháng: 60.674 người
Tốt nghiệp học nghề giai đoạn 2012 – 2016 tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh với 70.419 người Trong đó, Cao đẳng: 2.126 người, Trung cấp: 7.619 người, Sơ cấp và dạy nghề dưới 03 tháng: 60.764 người
Mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp của tỉnh ngày càng phát triển, tăng từ 30
cơ sở năm 2012, đến cuối năm 2016 tiếp tục tăng lên 40 cơ sở Gồm:
03 trường Cao đẳng nghề; 03 trường Trung cấp nghề và 05 Trung tâm dạy nghề; 14 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên cấp huyện Trong
đó, số cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập 23 cơ sở và ngoài công lập 02 cơ sở
15 cơ sở đào tạo khác có tham gia dạy nghề Trong đó, số cơ sở đào tạo công lập 10 cơ sở và ngoài công lập 05 cơ sở
Mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã tương đối phủ khắp 14 huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh, đây là một trong những thuận lợi giúp cho người học có thể đăng
ký học ngay tại địa phương và lựa chọn cho mình một cơ sở để tham gia đào tạo
Trang 11Theo thống kê, có 61% số cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã được đầu tư xây dựng, cải tạo, mở rộng đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập Hầu hết các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đủ thiết bị tối thiểu phục vụ công tác đào tạo nghề Một số được đầu tư tập trung trọng điểm đã có thiết bị hiện đại ở một số nghề, được xây dựng đồng bộ từ phòng học lý thuyết, xưởng thực hành, ký túc xá, khu giáo dục thể chất Ngoài hệ thống phòng học lý thuyết, xưởng thực hành tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn hợp đồng liên kết thêm hàng trăm phòng học lý thuyết tại các xã để dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn, hàng trăm xưởng thực hành của các cơ sở sản xuất phục vụ quá trình thực tập cho học sinh, sinh viên
Công tác đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề ngày càng được chú trọng, góp phần nâng cao năng lực, trách nhiệm và nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức về công tác đào tạo nghề phát triển nguồn nhân lực Số lượng cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề phát triển từ 863 người vào năm
2012 lên 1.708 người vào năm 2016, trong đó cán bộ quản lý: 364 người; giáo viên cơ hữu: 758 người; giáo viên thỉnh giảng: 586 người Về chất lượng, trình độ Tiến sỹ: 14 người (0,8%); Thạc sỹ: 238 người (13,9%), Đại học: 801 người (46,9%); Cao đẳng, Cao đẳng nghề: 511 người (30%); Trung cấp chuyên nghiệp, Trung cấp nghề, Công nhân kỹ thuật và trình độ khác: 144 người (8,4%) Có trên 70% giáo viên dạy nghề đạt chuẩn theo quy định, trong đó, giáo viên dạy nghề tại các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề trên địa bàn tỉnh cơ bản được chuẩn hóa, đạt chuẩn theo quy định của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội