0 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 I Khái quát chung về pháp nhân nước ngoài 1 1 1 Khái niệm pháp nhân 1 II Địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam 3 2 1 Khái niệm địa.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Khái quát chung về pháp nhân nước ngoài 1
1.1 Khái niệm pháp nhân 1
II Địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam 3
2.1 Khái niệm địa vị pháp lý 3
2.2 Cơ sở xác định địa vị pháp lý cho pháp nhân nước ngoài 3
2.3 Đặc điểm pháp lý của pháp nhân nước ngoài 6
2.4 Các điều ước quốc tế mà Việt Nam gia nhập và ký kết 6
III Quyền lợi và nghĩa vụ của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam 7
3.1 Quyền lợi của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam 7
3.2 Nghĩa vụ của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam 8
IV Thực trạng và giải pháp trong vấn đề giải quyết các vụ án có liên quan đến pháp nhân nước ngoài 8
4.1 Thực tiễn giải quyết các vụ án có liên quan đến pháp nhân nước ngoài 8
4.2 Giải pháp hoàn thiện 9
KẾT LUẬN 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 2MỞ ĐẦU
Xu thế chung trên thế giới ngày nay là quá trình quốc tế hóa mọi mặt đời sống, đặc biệt đời dống kinh tế ngày càng được đẩy mạnh Do dự phát triển mạnh mẽ của quá trình khu vực hóa, toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, giao lưu kinh tế, thương mại, khoa học – công nghệ và văn hóa giữa các quốc gia phát triển với tốc độ hết sức nhanh chóng
đã dẫn đến việc gia tăng số lượng người nước ngoài đầu tư kinh doanh, lao động, học tập, du lịch… hoặc pháp nhân nước ngoài trực tiếp thực hiện các hoạt động đồng tư, sản xuất kinh doanh trên lãnh thổ mỗi quốc gia Trong bối cảnh đó, ngày càng xuất hiện nhiều những vụ việc phát sinh từ các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Do đó, việc nghiên cứu cá quy định của pháp luật hiện hành về địa vị pháp luật của pháp nhân nước ngoài là một việc làm cần thiết, có tác động mạnh mẽ tới quá trình thúc đẩy phát triển giao lưu về mọi mặt giữa các quốc gia, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân, pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam Và để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề, em xin
chọn đề tài số 19: “Làm rõ địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam
theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành” cho bài tập học kỳ cá nhân lần này
NỘI DUNG
I Khái quát chung về pháp nhân nước ngoài
1.1 Khái niệm pháp nhân
Theo từ điển bách khoa toàn thư thì pháp nhân là một định nghĩa trong luật pháp
về một thực thể mang tính hội đoàn, thường dùng trong luật kinh tế Về pháp nhân có rất nhiều quan điểm và học thuyết như: có thuyết cho pháp nhân là một chủ thể giả tạo,
có thuyết cho nó là một chủ thể thực sự… nhưng quan trọng nhất phải chỉ ra được pháp nhân có các thực thể hội đoàn có những biểu hiện tương tự như thể nhân Qua các quan điểm, các học thuyết về pháp nhân, mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng tựu trung lại, các pháp nhân vẫn được coi là một chủ thể pháp luật đích thực bởi vì pháp nhân cũng có những đặc điểm thể hiện năng lực chủ thể Pháp nhân được coi là cá thể riêng biệt, có tài sản chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản và thực hiện những hành vi pháp
Trang 3lý nhân danh mình, có quyền làm nguyên đơn, bị đơn trước Tòa án, có trách nhiệm độc lập về tài sản
Quan điểm pháp lý ở Việt Nam:
Trong thời kỳ Pháp thuộc và thời kỳ kinh tế kế hoạch tập trung, chế định pháp nhân là vấn đề pháp lý ít được nhắc đến và đều phục vụ cho chủ trương chính sách quản
lý và ký kết hợp đồng kinh tế, tức là với mục đích rất hẹp Đồng thời, quy chế về pháp nhân không được xây dựng trên nền tảng khoa học mà được ban hành nhằm phục vụ cho mục tiêu chủ quan của nhà nước Thời kỳ này, các quan hệ dân sự chưa phát triển, nhiều quan hệ kinh tế của nền kinh tế thị trường chưa được đặt ra như phá sản, giải quyết tranh chấp về hợp đồng kinh tế nên chế định pháp nhân chưa có được quy định đầy đủ ở các khía cạnh pháp lý của nó Trong thời kỳ kinh tế thị trường, nền kinh tế nước ta đã bắt đầu có những chuyển biến tích cực theo hướng kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước Theo pháp luật Việt Nam thì pháp nhân là những cá nhân, tổ chức có tư cách pháp lý độc lập để tham gia các hoạt động pháp lý khác như chính trị, kinh tế, xã hội… Một cá nhân, tổ chức không có tư cách pháp nhân thì cũng không được pháp luật công nhân có quyền ký kết các văn kiện pháp lý về kinh tế, chính trị, xã hội (nếu cố tính ký kết thì văn bản đó sẽ bị coi là vô hiệu lực) BLDS đã quy định khái niệm pháp nhân với những nội dung cụ thể Theo quy định tại Điều 74 BLDS 2015:
“Một tổ chức được công nhân là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;
b) Có cơ cấu thổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;
c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập”
1.2 Khái niệm pháp nhân nước ngoài
Trang 4Trong tư pháp quốc tế của hầu hết các nước trên thế giới đều thống nhất quan điểm cho rằng việc xác định như thế nào là pháp nhân nước ngoài phải dựa vào dấu hiệu quốc tịch của pháp nhân Trong khoa học về tư pháp quốc tế Việt Nam cũng thừa nhận, pháp nhân nước ngoài là tổ chức hưởng tư cách pháp nhân theo pháp luật nước ngoài và được công nhận là có quốc tịch Như vậy ta có thể hiểu pháp nhân nước ngoài
là pháp nhân được thành lập ở nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài nhưng thành lập chi nhánh, văn phòng tại Việt Nam, hoặc có các hoạt động thương mại tại Việt Nam thì cũng coi là pháp nhân nước ngoài
II Địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
2.1 Khái niệm địa vị pháp lý
Định nghĩa “địa vị pháp lý” theo nghĩa hẹp được hiểu là tổng hợp các quyền và
nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho một chủ thể pháp luật, tạo cho chủ thể đó có khả
năng tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập Theo nghĩa rộng thì “địa vị pháp
lý” là một khái niệm pháp lý phức tạp có nội dung rộng được thể hiện ở nhiều yếu tố
như quyền năng chủ thể, hệ thống quyền và nghĩa vụ pháp lý, cùng các nguyên tắc pháp
lý làm cơ sở xây dựng hệ thống quyền và nghĩa vụ pháp lý, các lợi ích hợp pháp cùng với những bảo đảm pháp lý đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể Trong
đó thì quyền năng chủ thể, hệ thống các quyền và nghĩa vụ pháp lý, các lợi ích hợp pháp của chủ thể là những yếu tố cơ bản cấu thành nên địa vị pháp lý của chủ thể
2.2 Cơ sở xác định địa vị pháp lý cho pháp nhân nước ngoài
Theo thực tiễn và pháp luật của các nước trên thế giới, địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài nói chung được xây dựng trên các cơ sở: Chế độ đối xử như công dân, chế độ đối xử tối huệ quốc, chế độ đối xử đặc biệt và chế độ có đi có lại
Chế độ đối xử như công dân (NT – National Treatment)
Trang 5Đây là chế độ phổ biến trong luật pháp của đông đảo các quốc gia trên thế giới Nội dung của chế độ này là: chế độ cho phép người nước ngoài được hưởng các quyền cũng như thực hiện các nghĩa vụ ngang hoặc tương đương với những quyền và nghĩa
vụ mà công dân nước sở tại đang được hưởng và sẽ được hưởng trong tương lai
Ở Việt Nam, theo quyết định số 122/CP ngày 25/04/1977 của hội đồng Chính
phủ về chính sách đối với người nước ngoài cư trú và làm ăn ở Việt Nam: “Ngoại kiều
được hưởng quyền sở hữu cá nhân về thu nhập hợp pháp, về tư liệu sinh hoạt và tư liệu sản xuất theo pháp luật Việt Nam”; “Ngoại kiều được quyền thừa kế tài sản theo pháp luật Việt Nam” Theo khoản 2 Điều 673 BLDS 2015 quy định: “Người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật CHXHCN Việt Nam có quy định khác.”
Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Nga tại khoản 1 Điều 1 quy định:
“ Công dân của bên ký kết này được hưởng trên lãnh thổ của bên ký kết kia sự bảo hộ pháp lý đối với nhân thân và tài sản như công dân của bên ký kết kia” Người nước
ngoài có thể được mua, nhận, tặng cho và sở hữu nhà ở tại Việt Nam
Chế độ đối tử tối huệ quốc (MFN – Most Favoured Nation)
Chế độ đối xử hệ quốc là chế độ theo đó một nước dành cho công dân và pháp nhân của nước kia những quyền và ưu đãi đang hoặc sẽ dành cho công dân và pháp nhân của một nước thứ ba Nội dung cơ bản của chế độ tối huệ quốc thể hiện ở hai khía cạnh sau:
Thứ nhất, công dân nước ngoài được quốc gia sở tại dành cho sự đối xử đặc biệt,
bao gồm các quyền ưu đãi
Thứ hai, sự đối xử trên sẽ không kém thuận lợi hơn đối xử mà nước sở tại dành
cho công dân của một nước thứ ba
Ở Việt Nam áp dụng chế độ tối huệ quốc trong những trường hợp sau:
Trang 61) Pháp luật ở Việt Nam có quy định về áp dụng đối xử tối huệ quốc;
2) Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định áp dụng đối xử tối huệ quốc;
3) Quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trên thực tế đã áp dụng đối xử tối huệ quốc đối với Việt Nam;
4) Các trường hợp khác do chính phủ quy định
Tuy nhiên chế độ tối huệ quốc được ghi nhận trước hết và chủ yếu trong các điều ước quốc tế song phương và đa phương mà Việt Nam là thành viên
Chế độ đối xử đặc biệt dành cho cá nhân nước ngoài
Theo chế độ này, cá nhân nước ngoài được hưởng các quyền ưu đã đặc biệt mà chính công đân của nước sở tại cũng không được hưởng Đồng thời, người nước ngoài cũng không phải chịu trách nhiệm pháp lý mà công dân nước sở tại phải gánh chịu trong các trường hợp tương tự Bên cạnh với việc được hưởng những chế đô đặc biệt, công dân nước ngoài còn có nghĩa vụ tôn trọng và tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật của nước
sở tại Trong trường hợp vi pham pháp luật họ có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật nước sở tại hoặc theo các điều ước quốc tế hữu quan mà nước này tham gia Việc này, nhằm đảm bảo chủ quyền và các lợi ích chính đáng của nước sở tại khi bị xâm phạm
Chế độ có đi có lại
Nội dung của chế độ này thể hiện ở chỗ là một quốc gia dành một chế độ pháp lý nhất định cho thể nhân và pháp nhân nước ngoài tương ứng như nước đó đã dành và sẽ dành cho công dân và pháp nhân của mình ở đó trên cơ sở có đi có lại Trong thực tiễn quan hệ hóa quốc tế, chế độ có đi có lại được thực hiện dưới hai hình thức là: có đi có lại thực chất và có đi có lại hình thức
Có đi có lại thực chất được hiểu là một nước dành cho thể nhân và pháp nhân
nước ngoài một số quyền và nghĩa vụ hoặc những ưu đãi nhất định đúng bằng những
Trang 7quyền và nghĩa vụ giống như ưu đãi thực tế mà các thể nhân và pháp nhân của nước đó
đã được hưởng ở ngước ngoài kia Quy định trên đôi khi mới chỉ được áp dụng ở những nước có cùng chế độ kinh tế, chính trị, xã hội
Có đi có lại hình thức được thể hiện ở chỗ một nước dành cho thể nhân và pháp
nhân nước ngoài một chế độ pháp lý nhất định như chế độ đãi ngộ như công dân hoặc chế độ tối huệ quốc mà ở nước ta đã giành cho công dân và pháp nhân nước mình một chế độ tương ứng như thế Quy định trên được áo dụng rất hữu hiệu giữa các quốc gia
có chế độ chính trị, xã hội khác nhau
2.3 Đặc điểm pháp lý của pháp nhân nước ngoài
Pháp nhân mang quốc tịch của một nước nhất định và được tổ chức và hoạt động theo pháp luật của nước đó Tuy nhiên, khi hoạt động với tư cách là pháp nhân nước ngoài ở một nước nào đó, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân trên lãnh thổ nước
sở tại tùy thuộc vào quy định của pháp luật của nước mà pháp nhân mang quốc tịch
Việc cho pháp nhân nước ngoài vào hạo động hay không, cho phép vào để tiến hành những hoạt động gì, trong lĩnh vực nào, ở phạm vi nào, cho pháp nhân đó hưởng thêm những quyền gì và có những nghĩa vụ gì cụ thể, là quyền của nước sở tại ký kết hoặc tham gia Ví dụ như theo Điều 16 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 thì pháp
nhân nước ngoài chủ có thể hoạt động ở Việt Nam dưới hai hình thức: “Chi nhánh và
Văn phòng đại diện”
2.4 Các điều ước quốc tế mà Việt Nam gia nhập và ký kết
Tới nay, Việt Nam đã gia nhập và ký kết các điều ước quốc tế đa phương và song phương liên quan tới việc xác định quyền và nghĩa vụ Tố tụng dân sự của cá nhân và pháp nhân nước ngoài, bao gồm các điều ước quốc tế đa phương Có thể kể đến các công ước quan trọng như:
Công ước La Haye năm 1954 về các vấn đề Tố tụng dân sự;
Công ước năm 1965 về tống đạt giấy tờ về các vụ việc dân sự và thương mại;
Trang 8 Công ước La Haye năm 1958 về công nhận và thi hành quyết định của Tòa án về cấp dưỡng cho trẻ em;
Công ước Viên năm 1961về quan hệ ngoại giao;
Công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự
Bên cạnh đó, Việt Nam đã ký kết 18 hiệp định Tương trợ tư pháp với các nước khác, đó là: Hiệp định TTTP và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa các nước CHXHCN Việt nam và Liên bang CHXHCN Xô Viết (ký ngày 10/12/1981), với CHXHCN Tiệp Khắc (ký ngày 12/10/1982), với Cộng hòa Cu Ba (ký ngày 30/11/1984), với Cộng hòa nhân dân Hungary (ký ngày 18/01/1985), với Cộng hòa Bungary (ký ngày 03/10/1986), với Cộng hòa Ba Lan (ký ngày 22/03/1993), với Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (ký ngày 06/07/1998), với Liên bang Nga (ký ngày 25/08/1998), với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (ký ngày 19/10/1998), với cộng hòa Pháp (ký ngày 24/02/1999), với Cộng hòa Ucraina (ký ngày 06/04/2000), với Cộng hòa Mông Cổ (ký ngày 17/04/2000), với Cộng hòa Belarus (ký ngày 14/09/2000), với Cộng hòa dân chủ nhân dân Tiều Tiên (ký ngày 04/05/2002), với Cộng hòa dân chủ nhân dân Angiéri (ký ngày 14/04/2010), với Cộng hòa Kazakhstan (ký ngày 31/10/2011, chưa có hiệu lực), với Vương quốc Campuchia (ký ngày 21/01/2013, chưa có hiệu lực)
III Quyền lợi và nghĩa vụ của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam
3.1 Quyền lợi của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam
Quyền cư trú đi lại: cho phép người nước ngoài tự do đi lại, cư trú trên lãnh thổ Việt Nam trừ một số lĩnh vực an ninh
Quyền hành nghề: cho phép người nước ngoài tự do chọn nghề nghiệp trong khuôn khổ pháp luật Tuy nhiên hạn chế người nước ngoài làm việc trong một số ngành nghề an ninh quốc phòng Được phép làm luật sư tư vấn pháp luật tại Việt Nam với điều kiện học qua trường Luật tại Việt Nam
Quyền được sở hữu và thừa kế trong trường hợp được thừa kế tài sản từ người khác hay được phép sở hữu tài sản theo quy định
Trang 9 Quyền được học tập: cho phép người nước ngoài tự do lựa chọn các trường tuy nhiên hạn chế một số trường liên quan đến an ninh quốc phòng
Quyền tác giả và sở hữu công nghiệp quy định trong các điều 774 và 775 Bộ luật dân sự
Quyền trong lình vực hôn nhân và gia đình: cho phép người nước ngoài kết hôn với người Việt Nam, được phép nuôi con nuôi nếu đủ các điều kiện nuôi, và phải bảo đảm bình đẳng quyền lợi cho phụ nữ và trẻ em
Quyền tố tụng dân sự: áp dụng theo chế độ đãi ngộ quốc gia, người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài khi được khởi kiện ở Tòa án Việt Nam được Nhà nước Việt Nam cho hưởng chế độ đối xử quốc gia trong tố tụng dân sự
3.2 Nghĩa vụ của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam
Tôn trọng pháp luật Việt Nam, tuân thủ theo các quy định đã ban hành khi làm
ăn, sinh sống và làm việc
Tôn trọng phong tục tập quán, truyền thống tín ngưỡng tôn giáo cũng như lịch sử Việt Nam
Khi người nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất vi phạm,
họ có thể bị xử phạt, bị trục xuất trước thời hạn hoặc thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự
IV Thực trạng và giải pháp trong vấn đề giải quyết các vụ án có liên quan đến pháp nhân nước ngoài
4.1 Thực tiễn giải quyết các vụ án có liên quan đến pháp nhân nước ngoài
Thực tế trong những năm qua, vấn đề giải quyết các vụ án có liên quan đến pháp nhân nước ngoài có yếu tố nước ngoài vẫn còn nhiều khúc mắc:
Hiểu biết về pháp luật của Việt Nam cũng như pháp luật nước ngoài của công dân, thậm chí của pháp nhân Việt Nam còn chưa cao, do vậy khi tham gia quan
hệ pháp luật dân sự nhiều khi chủ thể là người Việt Nam, pháp nhân Việt Nam
Trang 10còn tùy tiện, không thận trọng nên khi quyền lợi của mình trước pháp luật Khi biết bị khởi kiện tại Tòa án, họ tìm cách rời khỏi Việt nam
Đối với các Tòa án nước ngoài yêu cầu thì Tòa án Việt Nam thực hiện tốt, kết quả trả lời nhanh, nhưng những việc Tòa án Việt Nam yêu cầu thì lại không có hiệu quả, Tòa án nước ngoài chưa đáp ứng, kết quả trả lời ít
Trình độ thẩm phán chưa thực sự đáp ứng với yêu cầu hiện nay Do không được dào tạo và bồi dưỡng thường xuyên nên Thẩm phán không nắm vững kiến thức chuyên môn của tư pháp quốc tế Mặt khác, trình độ ngoại ngữ còn hạn chế do
đó khi tiếp cận với pháp luật nước ngoài và khi tiến hành tố tụng những vụ án có công dân nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia tố tụng còn gặp nhiều khó khăn; việc mời phiên dịch cũng không dễ dàng
4.2 Giải pháp hoàn thiện
Để hạn chế những bất cập trong việc giải quyết các vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài, ta cần có những giải pháp sau:
Cần quy định rõ cơ quan nào có trách nhiệm cử người phiên dịch cho Tòa án khi giải quyết các vụ việc dân sự có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia
Các cơ quan Nhà nước, Tòa án cần thường xuyên mở lớp tập huấn những kiến thức cơ bản về tư pháp quốc tế để giúp cho Thẩm phán, cán bộ làm công tác pháp luật có điều kiện và cách thức tiếp cận với hệ thống pháp luật nước ngoài Tòa án nhân dân tối cao cũng nên mở lớp học ngoại ngữ cho Thẩm phán để họ có khả năng tiếp cận những thông tin, kinh nghiệm và phương pháp làm việc của nước ngoài, có khả năng giao tiếp, giúp Thẩm phán tự tin hơn khi giải quyết các vụ việc dân sự có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia tố tụng
Pháp luật nên sửa đổi, bổ sung những quy định trong BLDS và xây dựng các quy phạm xung đột phù hợp với các hiệp định Tương trợ tư pháp mà Nhà nước Việt