1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận Ngôn ngữ và ngôn ngữ nhóm trong giao tiếp của sinh viên K13 APD hiện nay, thực trạng và giải pháp

17 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngôn ngữ và ngôn ngữ nhóm trong giao tiếp của sinh viên K13 APD hiện nay, thực trạng và giải pháp
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Học viện Chính sách và Phát triển
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 33,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Ngôn ngữ và ngôn ngữ nhóm trong giao tiếp của sinh viên K13 APD Học viện Chính sách và phát triển hiện nay, thực trạng và giải pháp. (tiểu luận triết học về đề tài ngôn ngữ và ngôn ngữ nhóm trong cộng đồng sinh viên)

Trang 1

Đề tài: Ngôn ngữ và ngôn ngữ nhóm trong giao tiếp của sinh

viên K13 APD hiện nay, thực trạng và giải pháp

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tiếng Việt là một thứ tiếng muôn hình muôn vẻ với những cấu trúc ngữ pháp riêng biệt kết hợp với thanh âm Sự

đa dạng và phong phú ấy đã tạo nên nét đẹp riêng cho Tiếng Việt của chúng ta, là người Việt Nam, tôi tự hào khi sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình Thế nhưng thực tế tôi nhận ra một điều, Tiếng Việt đang dần bị biến hóa đủ mọi kiểu Người ta

sử dụng chúng một cách tùy tiện mà không cần biết những từ ngữ đó có nghĩa gì và cách dùng chúng như thế nào Đáng buồn hơn là thực trạng đó đang xảy ra ngay trong chính ngôi trường mà tôi đang theo học – Học viện chính sách và phát triển APD

Vì vậy, trong phạm vi của một bài tiểu luận này, tôi đã chọn đề tài “Ngôn ngữ và ngôn ngữ nhóm trong giao tiếp của sinh viên K13 APD" để nói lên quan điểm của bản thân về vấn

đề này

2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài này bao gồm:

- không gian: Học viện Chính sách và Phát triển

- thời gian: từ ngày 9/12/2022 đến ngày 23/12/2022

Trang 2

- khách thể: sinh viên K13 APD

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng sử dụng ngôn ngữ và ngôn ngữ nhóm trong giao tiếp của sinh viên K13 APD hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng phương pháp quan sát khoa học, cụ thể thì phương pháp này được tiến hành trong thời gian khá dài, không gian rộng, số lượng người quan sát được tương đối nhiều Ngoài ra trong quá trình làm đề tài, các phương pháp phân tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh, đối chiếu, phê bình đều được sử dụng triệt để

5 Dự kiến kết quả nghiên cứu đạt được

Thông qua nghiên cứu ta có thể thấy được thực trạng hiện

nay trong việc sử dụng ngôn ngữ và ngôn ngữ nhóm trong giao tiếp của sinh viên K13 học viện chính sách và phát triển,

từ đó đưa ra được những giải pháp đúng đắn nhằm hạn chế cũng như chấm dứt tình trạng sử dụng ngôn ngữ sai mục đích

B PHẦN NỘI DUNG Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

1 Tổng quan các kết quả nghiên cứu các đề tài cùng loại

1.1 Một số kết quả nghiên cứu của các học giả nước ngoài

Trang 3

Giới trẻ ở Italia ngày nay đang có xu hướng sử dụng thêm các ngoại ngữ vào trong tiếng mẹ đẻ của mình Bà Dacia cho biết, bà từng gặp gỡ và trò chuyện cùng nhiều sinh viên, và thấy họ ưa chuộng tiếng Anh để thay thế cho rất nhiều từ

chuyên ngành thậm chí vốn có sẵn trong tiếng Ý

Bà cho rằng con người thường có xu hướng sử dụng ngôn ngữ một cách thụ động, nhiều khi cũng chưa hiểu cặn kẽ ý nghĩa của chính ngôn ngữ đó Học và biết nhiều ngoại ngữ là điều rất nên làm, nhất là trong bối cảnh giao lưu mạnh mẽ giữa các quốc gia trên thế giới hiện nay, nhưng cần phải tách biệt rõ ràng việc sử dụng các ngôn ngữ khác nhau Mỗi ngôn ngữ có một vẻ đẹp thuần khiết riêng, mang đậm dấu ấn văn hoá, lịch

sử, kinh tế, chính trị, xã hội… của từng quốc gia, cho nên giữ gìn vẻ đẹp thuần khiết của ngôn ngữ cũng là giữ gìn từng đấy giá trị

(nguồn: https://nhandan.vn/giu-gin-su-trong-sang-cua-tieng-me-de-kinh-nghiem-tu-nuoc-y-post554347.html)

1.2 Một số kết quả nghiên cứu của các học giả trong nước

Từ khía cạnh tâm lý học, tuổi teen là độ tuổi có đặc trưng tâm lý thích cái mới, ưa sự khám phá, thường hành động theo trào lưu Vì vậy như một “làn sóng” dây chuyền, chỉ trong vài năm, cách nói, viết sai lệch ngày càng lan rộng trong giới trẻ Nhiều teen xem đó như là một "phát minh", một thứ ngôn ngữ riêng giúp giới trẻ có thể trao đổi, bày tỏ mọi thứ

Trang 4

Qua khảo sát, hầu hết các bạn trẻ thưởng sử dụng “ngôn ngữ teen" một cách quá đà và thiếu kiểm soát Bản thân những người sử dụng loại ngôn ngữ này tự hình thành cho mình một thói quen đọc và hiểu được những biến đổi ngôn ngữ khi thực hiện hành vi "chat" hay nhắn tin một cách linh hoạt Hay nói cách khác, họ tự tạo ra sự tiện lợi cho quá trình giao tiếp, trao đổi với những thông điệp ngôn ngữ chuyển tải riêng Điều này tạo nên một mô thức biểu đạt cảm xúc “nhóm" của thanh niên thời hiện đại

2 Khái niệm

2.1 Khái niệm (chung):

Ngôn ngữ là một hệ thống những đơn vị vật chất phục vụ cho việc giao tiếp của con người và được phản ánh trong ý thức tập thể, độc lập với ý tưởng, tình cảm và nguyện vọng cụ thể của con người, trừu tượng hóa khỏi những tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng đó

(nguồn: Ngôn ngữ học đại cương - Bùi Ánh Tuyết)

2.2 Khái niệm cụ thể:

Ngôn ngữ nói là những lời nói trong giao tiếp hằng ngày,

ở đó người nói và người nghe được tiếp xúc trực tiếp với nhau

và có thể luân phiên nhau trong vai trò nghe và nói Ngôn ngữ nói cũng có thể không được nghe trực tiếp mà được thực hiện qua những thiết bị trung gian

Trang 5

(nguồn:https://luathoangphi.vn/dac-diem-cua-ngon-ngu-noi-va-ngon-ngu-viet/)

2.3 Quan điểm cá nhân:

Ngôn ngữ và ngôn ngữ nhóm trong bài tiểu luận này có thể hiểu là cách giao tiếp giữa các sinh viên K13 APD với nhau – trong cùng một nhóm hoặc với một đối tượng khác, đó

có thể là giảng viên, các anh/chị khóa trên hay là với những người xung quanh

3 Các nhân tố tác động đến ngôn ngữ và ngôn ngữ nhóm trong giao tiếp của sinh viên K13 APD hiện nay

3.1 Các nhân tố khách quan:

Nguyên nhân thứ nhất, do đặc thù của tiếng Việt, hệ thống chữ viết tiếng Việt và đặc thù của hình thức giao tiếp mail, chat, nhắn tin

-Tiếng Việt là một ngôn ngữ phân tích tính Về mặt phát

âm, mỗi âm tiết tiếng Việt chiếm một khúc đoạn thời gian nhỏ nhất, tách rời các âm tiết khác Một từ tiếng Việt có thể gồm một âm tiết hoặc nhiều âm tiết Trên văn bản, có bao nhiêu âm tiết thì có bấy nhiêu dấu cách Điều này cũng có nghĩa là số lần đánh dấu cách gần bằng số lượng âm tiết và việc tạo tác văn bản tiếng Việt phải mất nhiều thời gian cho dấu cách Bên cạnh đó, tiếng Việt còn là một ngôn ngữ giàu thanh điệu, có

mô hình âm tiết phong phú, dễ tạo vần vè, nhịp điệu

Trang 6

-Về đặc thù của kênh giao tiếp, như ta đã biết, mail – chat, nhắn tin là một dạng giao tiếp hai chiều, gần gũi hình thức hội thoại, hay nói đúng hơn nó là một dạng phát sinh của hội thoại

mà ở đó thông tin được truyền đạt thông qua chữ viết Sự mâu thuẫn giữa khoảng cách về không gian giao tiếp và nhu cầu giao tiếp nhanh, biểu cảm buộc các sinh viên phải tìm mọi cách để chuyển tải được thông tin nhanh nhất, ngắn gọn nhất, làm sao để người nhận vừa nắm được thông tin, vừa cảm nhận được tình cảm, cảm xúc của người gửi thông qua các phương tiện chính tả, từ ngữ, ngữ pháp

Nguyên nhân thứ hai, do cấu tạo của phím điện thoại di động và máy tính không có sẵn nhiều kí tự ghi âm tiếng Việt

Do vậy, để tạo tác một từ trên điện thoại di động và máy tính, phải mất nhiều thao tác

Nguyên nhân thứ ba là do xã hội và gia đình Chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ là giao tiếp và tư duy Xã hội thay đổi thì ngôn ngữ cũng phải đổi thay để đáp ứng nhu cầu giao tiếp của cộng đồng Bước sang thế kỉ thứ XXI, trước sự biến đổi năng động của cuộc sống, tiếng Việt buộc phải phát triển, mở rộng vốn từ vựng bằng nhiều cách như tổ chức lại những yếu tố đã có để tạo ra từ mới cho tiếng Việt hoặc vay mượn từ nước ngoài TS Mai Xuân Huy cho rằng: “Về mặt khách quan, đó là những nguyên nhân ngoài ngôn ngữ như: xu hướng đổi mới, sự thay đổi, sự hội nhập, các trào lưu xã hội,

sự bùng nổ của Internet… và trong ngôn ngữ, đó chính là quy

Trang 7

luật tiết kiệm Đó là quy luật không ai có thể phá vỡ nổi,

không có đạo luật nghiêm khắc nào có thể ngăn chặn, can thiệp được, dù ghét nó người ta cũng phải nhượng bộ” Đó còn

do tác động của gia đình, bè bạn Gia đình là tế bào của xã hội,

là môi trường trực tiếp ảnh hưởng đến hành vi, nhân cách của sinh viên Ngoài ra môi trường sống, bạn bè, những người xung quanh cũng là một nhân tố tác động đến thói quen sử dụng ngôn ngữ của sinh viên Thật vậy, nhiều sinh viên tâm sự rằng họ cảm thấy ngại ngùng, cảm thấy như bị lạc lõng khi mình giao tiếp bằng thứ ngôn ngữ không giống với bạn bè

“Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” Thường xuyên tiếp xúc với môi trường giao tiếp xấu thì thói quen ngôn ngữ của sinh viên cũng ít nhiều nguy cơ bị lây nhiễm

3.2 Các nhân tố chủ quan:

Nguyên nhân chủ quan chính xuất phát từ đặc thù tâm lí lứa tuổi Như ta đã biết, lứa tuổi sinh viên vừa bước vào

ngưỡng cửa đại học là lứa tuổi thanh niên đang hình thành nhân cách Chưa được xác định về vị trí xã hội, vừa được coi

là người lớn, vừa bị coi là trẻ em, chính vì thế nên sinh viên luôn tìm cách khẳng định mình ở mọi lĩnh vực (trong trường học, trong quan hệ xã hội, bạn bè, tình cảm…), sinh viên

muốn tự lập, thích tìm tòi, sáng tạo

Qua việc khảo sát một số bạn sinh viên K13 APD có thể rút ra được một số nguyên nhân dẫn tới việc sử dụng ngôn ngữ

và ngôn ngữ nhóm trong giao tiếp như sau:

Trang 8

- Truyền tin nhanh, giảm thiểu thời gian, công sức tạo tác văn bản

- Thể hiện sự trẻ trung, tinh nghịch, nhí nhảnh, đáng yêu

- Biểu lộ được cảm xúc / thân mật với người đối thoại

- Thể hiện được cá tính phóng khoáng, tự do

- Thể hiện được đẳng cấp / Thể hiện được năng lực tiếng Anh

- Bảo đảm bí mật / chuyện riêng tư

- Thể hiện được rõ nét cá tính, địa phương

3.3 Các nhân tố cơ bản:

Tóm lại có mấy nguyên nhân chủ yếu tác động đến sự

hình thành ngôn ngữ và ngôn ngữ nhóm trong giao tiếp của sinh viên K13 APD hiện nay như sau: do đặc thù về mặt ngữ

âm, từ vựng của tiếng Việt và chữ Quốc ngữ; do đặc thù của hình thức giao tiếp mạng và cấu tạo của bàn phím điện thoại, máy tính; do sự tác động của xã hội, bạn bè và đặc thù tâm lí lứa tuổi, trong đó có cả sự yếu kém về mặt trình độ kiến thức

và nhận thức Dù đánh giá ở góc độ nào thì một sự thật không thể phủ nhận đó là hành động làm biến dạng đến méo mó của

hệ thống tín hiệu ngôn ngữ dân tộc trong cộng đồng sinh viên K13 APD Để có thể tìm ra một hướng xử trí phù hợp, một mặt không kìm hãm sự phát triển ngôn ngữ tự nhiên trong cộng đồng sinh viên K13 APD, mặt khác vẫn đảm bảo sự trong sáng và phát triển của tiếng Việt, cần chỉ ra ảnh hưởng

Trang 9

của chúng đối với ngôn ngữ học đường và kĩ năng sử dụng ngôn ngữ của sinh viên cùng tính cách của chúng

Chương II THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

1 Thực trạng

1.1 Phân tích thực trạng:

1.1.1 Những hạn chế trong việc sử dụng ngôn ngữ và ngôn ngữ nhóm trong giao tiếp của sinh viên K13 APD:

- Sinh viên K13 APD có xu hướng sử dụng ngôn ngữ tự chế, ngôn ngữ tuổi teen VD: “M có dj choj 0” (Mày có đi chơi không), “G9” (good night - chúc ngủ ngon), “gato” (ghen

ăn tức ở), “klq” (không liên quan), “iu wá” (yêu quá), “lun lun” (luôn luôn), … Kiểu ngôn ngữ “tự chế” này đang rất phổ biến và thịnh hành trong cộng đồng sinh viên K13 APD Dù không theo bất cứ quy ước nào, song với kiểu ngôn ngữ “tự chế” này đa số các sinh viên đều dễ dàng nhận biết Thậm chí, không ít sinh viên xem loại ngôn ngữ “tự chế” là sành điệu, theo kịp thời đại vì nhanh, đỡ tốn thời gian, nhắn trực tiếp vào nội dung chính, không cần suy nghĩ về cấu trúc ngữ pháp…

- Không những sử dụng ngôn ngữ sai ngữ pháp, sinh viên K13 APD còn thường xuyên sử dụng những từ ngữ vi phạm quy chuẩn đạo đức của xã hội, những từ ngữ thô tục, xúc

phạm như: ĐCM, VL, VCL, LMM, CC,

1.1.2 Những tích cực trong việc sử dụng ngôn ngữ và ngôn ngữ nhóm trong giao tiếp của sinh viên K13 APD:

Trang 10

- Bên cạnh việc có một bộ phận nhỏ sinh viên sử dụng sai lệch mục đích của ngôn ngữ và ngôn ngữ nhóm thì hầu hết sinh viên K13 APD vẫn giữ gìn được sự chuẩn mực của ngôn

từ trong giao tiếp Đây là một động thái đáng mừng trong cái thời kỳ mà ngôn ngữ “rác” đang không ngừng phát triển và trở thành một trào lưu như hiện nay

- Việc sinh viên sử dụng ngôn ngữ một cách sai lệch chủ yếu chỉ xảy ra trên các không gian mạng Trên thực tế, việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày một cách trực tiếp giữa các sinh viên K13 APD vẫn luôn đảm bảo được sự chuẩn mực về mặt ngôn từ

1.2 Đánh giá thực trạng:

1.2.1 Mặt tích cực trong việc sử dụng ngôn ngữ và ngôn ngữ nhóm trong giao tiếp của sinh viên K13 APD:

Trên thực tế, việc sử dụng ngôn ngữ và ngôn ngữ nhóm trong giao tiếp của sinh viên K13 APD cũng đã đem lại một số lợi ích nhất định:

- Giúp truyền tin nhanh, giảm thiểu thời gian, công sức tạo tác văn bản

- Thể hiện sự trẻ trung, tinh nghịch, nhí nhảnh, đáng yêu

- Biểu lộ được cảm xúc / thân mật với người đối thoại

- Thể hiện được cá tính phóng khoáng, tự do

- Bảo đảm bí mật / chuyện riêng tư

Trang 11

- Thể hiện được rõ nét cá tính, địa phương

- Tăng sự gắn kết, đồng điệu giữa các sinh viên

1.2.2 Mặt tiêu cực trong việc sử dụng ngôn ngữ và ngôn ngữ nhóm trong giao tiếp của sinh viên K13 APD:

- Trước hết, loại ngôn ngữ này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự trong sáng của tiếng Việt trong cộng đồng sinh viên K13 APD Đồng thời có tác đông sâu sắc đến văn hóa giao tiếp trong xã hội Những từ ngữ chuẩn mực với đầy đủ hàm nghĩa và sự biểu đạt của nó không còn được sử dụng Thay vào đó là lớp ngôn ngữ lai căng, cẩu thả, tối nghĩa, dung tục lại được phổ biến trong cộng đồng sinh viên K13 APD Điều này là rất nguy hại, có thể làm biến dạng ngôn ngữ và nền văn hóa dân tộc trong cả một tập thể

- Việc sử dụng ngôn ngữ sai lệch trong giao tiếp là

nguyên nhân dẫn đến sự tha hóa về nhân cách Không những thế nó còn gây nên lối sống buông thả, không còn tôn trọng pháp luật Sự lệch chuẩn của ngôn ngữ giao tiếp làm nảy sinh những suy nghĩ sai lầm Từ đó có thể dẫn đến các hành vi phạm tội trong một số sinh viên

- Lệch lạc, thiếu chuẩn mực trong giao tiếp là nguyên nhân gây ra mâu thuẫn, xung đột Nhiều mâu thuẫn trong cộng đồng sinh viên xảy ra cũng chỉ bởi vì “lời nói khó nghe” hoặc

“khó hiểu”

Trang 12

- Giao tiếp kém tế nhị khiến cho hình ảnh của sinh viên xấu xí hơn trong mắt người khác Người có lời nói thô tục, thiếu chân thực thường không được mọi người yêu thương, hợp tác hay giúp đỡ Họ còn bị xa lánh, bị xua đuổi trong cộng đồng

- Từ việc lệch lạc trong ngôn ngữ, thái độ sống của con người cũng lệch lạc theo đó Một số sinh viên thường tỏ vẻ ta đây, khó chịu với người khác Họ thường ghét những gì thuộc

về cái đẹp, cái chuẩn mực Họ thường kết giao với những

người thấp kém, tầm thường Sớm muộn gì họ cũng tự rơi vào

hố sâu của các tệ nạn xã hội

2 Giải pháp giải quyết

- Nhà nước phải có những biện pháp cứng rắn để bảo vệ

sự trong sáng của tiếng Việt Kiên quyết loại bỏ những

chương trình phát sóng trên truyền hình không đảm bảo chất lượng và trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc Kiểm soát chặt chẽ thông tin mạng, sàng lọc thông tin kĩ lưỡng trước khi người đọc tiếp cận

- Mỗi sinh viên cần có ý thức tự trau dồi và rèn luyện tiếng mẹ đẻ và tiếng nước ngoài để có vốn từ phong phú và sử dụng đúng chuẩn mực Không nên chạy theo lối giao tiếp dễ dãi, lệch lạc mà làm mất đi văn hóa giao tiếp của chính mình

Ngày đăng: 27/05/2023, 21:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. nguồn: https://nhandan.vn/giu-gin-su-trong-sang-cua-tieng-me-de-kinh-nghiem-tu-nuoc-y-post554347.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ: Kinh nghiệm từ nước Ý
Tác giả: Dacia Maraini
Nhà XB: Báo Nhân Dân điện tử
Năm: 2009
2. nguồn: https://luathoangphi.vn/dac-diem-cua-ngon-ngu-noi-va-ngon-ngu-viet/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
Nhà XB: Luật Hoàng Phi
3. Ngôn ngữ học đại cương - Bùi Ánh Tuyết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đại cương
Tác giả: Bùi Ánh Tuyết
4. Nguyễn Văn Khang, 2012, Những vấn đề về luật ngôn ngữ và kinh nghiệm xây dựng luật ngôn ngữ của một số quốc gia, Tc Ngôn ngữ số 8 + 9 – 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về luật ngôn ngữ và kinh nghiệm xây dựng luật ngôn ngữ của một số quốc gia
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: Tc Ngôn ngữ
Năm: 2012
5. Nguyễn Đức Tồn, 2013, Quan điểm mới về chuẩn ngôn ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ, Tc Ngôn ngữ số 1-2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm mới về chuẩn ngôn ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ
Tác giả: Nguyễn Đức Tồn
Nhà XB: Tc Ngôn ngữ
Năm: 2013
6. Hồng Hạnh, 2011, Giải mã ngôn ngữ @ của tuổi teen Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải mã ngôn ngữ @ của tuổi teen
Tác giả: Hồng Hạnh
Năm: 2011
7. Nguyễn Đàm Thanh Trang, Nguyễn Thị Thanh Thúy, Sự tác động của ngôn ngữ @ lên tiếng mẹ đẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tác động của ngôn ngữ @ lên tiếng mẹ đẻ
Tác giả: Nguyễn Đàm Thanh Trang, Nguyễn Thị Thanh Thúy
8. Nguyễn Đức Dân, 2011, Xã hội thay đổi thì ngôn ngữ cũng thay đổi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội thay đổi thì ngôn ngữ cũng thay đổi
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 2011
9. Nguyễn Hằng, 2011, Phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Hằng
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w