KHOA TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI ---***---TIỂU LUẬN Môn học: Văn hóa Việt Nam và Hội nhập quốc tế ĐỀ TÀI ĐẶC TRƯNG CỦA ĐÔ THỊ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG VÀ SỰ THAY ĐỔI CỦA NHỮNG ĐẶC TRƯ
Trang 1KHOA TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI
-*** -TIỂU LUẬN
Môn học: Văn hóa Việt Nam và Hội nhập quốc tế
ĐỀ TÀI ĐẶC TRƯNG CỦA ĐÔ THỊ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG VÀ SỰ THAY ĐỔI CỦA NHỮNG ĐẶC TRƯNG NÀY TRONG QUÁ TRÌNH HỘI
NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Giảng viên : T.S Đào Ngọc Tuấn
T.S Trần Thị Hồng Thúy
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Minh Thu
Mã sinh viên : TTQT49C1-1883
Hà Nội, tháng 12 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 3
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3
I CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1 Đô thị 3
2 Hội nhập quốc tế 5
II NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA ĐÔ THỊ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG 6
1 Những đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống 6
1.1 Đặc trưng 1: Đô thị Việt Nam là trung tâm chính trị, rồi sau đó mới là kinh tế, văn hóa 6
1.2 Đặc trưng 2: Đô thị Việt Nam thực hiện chức năng hành chính là chủ yếu 6
1.3 Đặc trưng 3: Đô thị ở Việt Nam không đáng kể so với nông thôn 7
1.4 Đặc trưng 4: Đô thị phụ thuộc vào nông thôn 7
2 Các đô thị truyền thống tiêu biểu 9
3 Tổng kết 10
4 Lý giải các đặc trưng từ góc độ văn hóa 11
III SỰ THAY ĐỔI NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA ĐÔ THỊ V IỆT N AM TRUYỀN THÔNG TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ .13
1 Tổng quan về đô thị Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế 13
2 Sự thay đổi những đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống 13
3 Ưu điểm và hạn chế của những thay đổi 14
4 Giải pháp 16
PHẦN 3 TỔNG KẾT – TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
I TỔNG KẾT 18
II TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
PHẦN 4 PHỤ LỤC 20
Trang 3PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, đô thị Việt Nam nói riêng và Việt Nam nói chung cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ Trước hết, phải khẳng định rằng, toàn cầu hóa mang đến những thay đổi tích cực, song, nó cũng gây ra nhiều vấn đề nhức nhối cho xã hội, đặc biệt là cho đô thị - những nơi đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của đất nước Chính vì vậy, đề tài “Đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống và sự thay đổi những đặc trưng này trong quá trình hội nhập quốc tế” là một đề tài nóng cần được nghiên cứu và giải quyết Những nghiên cứu ấy không chỉ giúp nâng cao nhận thức, mở rộng hiểu biết về những vấn đề liên quan đến đô thị
mà còn góp phần nâng cao ý thức gìn giữ diện mạo văn hóa riêng của dân tộcsong song với việc tiếp thu và phát triển đô thị trong bối cảnh hội nhập hiện nay Đó cũng chính là nhiệm vụ của thế hệ trẻ - những người nắm trong tay vận mệnh của đất nước: kế thừa và phát triển
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
- Tìm hiểu, phân tích lịch sử hình thành, những đặc trưng tiêu biểu của đô thị Việt Nam truyền thống và lý giải chúng từ góc độ văn hóa
- Nghiên cứu và phân tích sự thay đổi của các đặc trưng này trong quá trình hội nhập quốc tế
- Xác định những ưu điểm và hạn chế của những thay đổi đó Từ đây tìm ra giải pháp khắc phục những hạn chế và cách phát huy những mặt tích cực trong bối cảnh hội nhập quốc tế
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I Cơ sở lý luận
1 Đô thị
1.1 Khái niệm đô thị
Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếuhoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hànhchính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nộithành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn
Trang 4Đô thị gồm các yếu tố cơ bản:
- Là nơi trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúcđẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhấtđịnh;
- Quy mô dân số ít nhất là 4.000 người;
- Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động tối thiểu là65%;
- Cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70%mức tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại đô thị;
- Mật độ dân cư phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từngloại đô thị
1.2 Lịch sử hình thành
Đô thị đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện khá muộn so với các nước trên thếgiới Các đô thị cổ sau khi hình thành cũng không có sự phát triển liên tục màthường thay đổi, thăng trầm cùng với địa điểm kinh đô của các triều đại khácnhau
Các đô thị cổ Việt Nam ban đầu được hình thành trên các trung tâm chínhtrị quân sự, ở đó các toà thành phục vụ cho mục đích phòng thủ và bên trong lànơi đồn trú của các thế lực phong kiến Bên cạnh phần “đô” còn có phần “thị”;
là nơi tập trung các thợ thủ công sản xuất ra các hàng hoá tiêu dùng và những cưdân làm nghề buôn bán trao đổi hàng hoá cần thiết Như vậy thành thị ra đời,mang tính chất chính trị quân sự và kinh tế
Đô thị Việt Nam hiện nay được tổ chức rải đều cả nước, chủ yếu theokhông gian chùm đô thị Theo đó, chùm đô thị phía Bắc tập trung ở khu vựcsông Hồng, nổi bật là TP Hà Nội, chùm đô thị phía Nam là khu vực đồng bằngsông Cửu Long với đô thị trung tâm là TP Hồ Chí Minh
1.3 Vai trò của đô thị
Đô thị là trung tâm chính trị - hành chính, kinh tế, văn hoá, khoa học - kĩ thuật, , giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước
Cụ thể là:
Về mặt chính trị: Các đô thị là nơi tập trung nhiều trụ sở của các cơ quan
nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức
Trang 5quốc tế và là nơi diễn ra nhiều hoạt động đối nội đối ngoại của đất nước Cónhiều ý kiến cho rằng phần lớn đô thị Việt Nam thực hiện chức năng hành chínhnhiều hơn chức năng kinh tế.
Về mặt kinh tế : Các đô thị có vị trí là đầu tàu kinh tế, đóng vai trò hết sức
quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế quốc dân Đô thị vừa là thị trường laođộng, vừa là thị trường tiêu thụ Cho đến nay, 70-80% hoạt động kinh tế trênphạm vi đất nước hoặc thế giới đều diễn ra ở khu vực đô thị; điều này cho thấynguồn thu tài chính của nhiều quốc gia trong giai đoạn hiện nay đều đến từ các
đô thị
Về mặt văn hóa - xã hội : Quy mô dân cư đô thị ngày càng tăng dẫn theo khả
năng gia tăng vai trò của đô thị đối với sự phát triển văn hóa - xã hội Đô thị lànơi giao lưu và tiếp biến nhiều nền văn hóa nội - ngoại vùng, cùng với đó, đô thịcòn góp phần quan trọng trong việc đón đầu những thành tựu, cải tiến về khoahọc - kỹ thuật, cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y
tế, giáo dục, giải trí…
2 Hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, xuất phát từ bản chất
xã hội của lao động và quan hệ giữa con người, và được thúc đẩy bởi sự ra đờicủa kinh tế thị trường Trong giai đoạn hiện nay, hội nhập đã trở thành một xuthế lớn của thế giới, là lựa chọn chính sách của đa số các quốc gia để pháttriển.và nó có những tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và đời sống củatừng quốc gia
Đó là bởi những lý do sau:
- Các cuộc khủng hoảng tài chính dẫn đến những chuyển dịch trên phạm
vi toàn cầu, đồng thời, quá trình xã hội hóa và phân công lao động ở mức cao đãvượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia; dẫn đến nhu cầu tất yếu về việc hợp tácngày càng sâu sắc giữa các quốc gia theo hình thức song phương, tiểu khu vực,khu vực và toàn cầu trong quan hệ hợp tác đa ngành, liên ngành và đa phương
- Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ và kinh tế thị trườngdẫn đến sự phát triển trong các quan hệ sản xuất
Hiện nay, hội nhập quốc tế có ba cấp độ chính là: Hội nhập toàn cầu,khu vực và hội nhập song phương Và cho đến giai đoạn này, đối với Việt Nam,hội nhập quốc tế được triển khai trên ba lĩnh vực chính bao gồm các lĩnh vực cơbản như: Hội nhập trong lĩnh vực kinh tế, Hội nhập trong lĩnh vực chính trị,
Trang 6quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa – xã hội, giáodục, khoa học – công nghệ hay hội nhập trên lĩnh vực khác
II Những đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống
1 Những đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống
1.1 Đặc trưng 1: Xét về nguồn gốc, đô thị Việt Nam phần lớn do nhà nước sản sinh ra, vì vậy đô thị Việt Nam trước hết là trung tâm chính trị, rồi sau đó mới là kinh tế, văn hóa
Trái với hầu hết các đô thị phương Tây, đô thị Việt Nam do nhà nước khaisinh ra và thực hiện chức năng hành chính là chủ yếu Vào các giai đoạn khácnhau, các đô thị lớn nhỏ ra đời như Văn Lang, Cổ Loa, Luy Lâu, Thăng Long,Phú Xuân (Huế) đều hình thành theo con đường như thế Ví dụ, Cổ Loa – một
đô thị quan trọng thời cổ đại, được hình thành từ việc vua An Dương Vương dựatrên những thuận lợi về mặt địa lý, dời đô từ vùng núi và xây dựng thành trì tolớn tại đây
1.2Đặc trưng 2: Xét về chức năng, đô thị Việt Nam thực hiện chức năng hành chính là chủ yếu và chịu sự quản lý trực tiếp của nhà nước phong kiến
“Trong đô thị có bộ phận quản lí và bộ phận làm kinh tế (buôn bán);thường thì bộ phận quản lí hình thành trước theo kế hoạch, rồi dần dần, mộtcách tự phát, bộ phận làm kinh tế mới được hình thành Thậm chí trong nhiềutrường hợp, bộ phận quản lí của đô thị đã hoạt động rồi mà bộ phận làm kinh tếvẫn không phát triển được hoặc phát triển rất yếu ớt như trường hợp các kinh đôHoa Lư của nhà Đinh, phủ Thiên Trường của nhà Trần, Tây Đô của nhà Hồ,Lam Kinh của nhà Lê, Phượng Hoàng Trung Đô của nhà Tây Sơn ” Như vậy,1
trong khi đô thị phương Tây thực hiện chức năng kinh tế là chủ yếu thì đô thịcủa ta thực hiện chức năng hành chính là chủ yếu Khi nhà nước có nhu cầu mởtrung tâm hành chính thì họ thường chọn một trong những đô thị có sẵn như đôthị Athens tại Hy Lạp, đô thị Babylon – thành quốc của Lưỡng Hà cổ đại
1 Trích theo: Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999, tr92.
Trang 71.3 Đặc trưng 3: Xét về quy mô, số lượng và quy mô của đô thị ở Việt Nam không đáng kể so với nông thôn
Cho đến tận thế kỷ XVI, Đại Việt mới chỉ có một đô thị, một trung tâmchính trị - kinh tế - văn hóa là Kẻ Chợ (Thăng Long) Từ sau thế kỷ XVI, xuấthiện thêm một số đô thị mà chủ yếu là gắn với ngoại thương (Phố Hiến, Thanh
Hà, Hội An, Nước Mặn, Sài Gòn…) Từ giữa thế kỷ XX đến nay, khu vực2
nông thôn vẫn chiếm tỉ trọng lớn hơn nhiều so với đô thị, khoảng 90% diện tíchđất đai vẫn thuộc nông thôn Thêm vào đó, từ năm 1960 tới nay, tại Việt Nam, tỉ
lệ dân số thành thị chưa vượt quá 50%
1.4 Đặc trưng 4: Xét về mối quan hệ nông thôn - đô thị, đô thị phụ thuộc vào nông thôn, và bị nông thôn hóa, tư duy nông nghiệp, căn tính nông dân đã in đậm dấu ấn trong văn hóa đô thị của Việt Nam 3
Đến tận ngày nay, ảnh hưởng của nông thôn vẫn còn gây khó khăn rấtnhiều cho việc quản lí đô thị Trong Hội nghị Đô thị toàn quốc lần thứ II (tổchức tại Tp Hồ Chí Minh tháng 7-1995), Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhận xét: “Môhình tổ chức của bộ máy nhà nước hiện nay ở các đô thị không khác gì tổ chức
bộ máy ở các huyện, xã Về cung cách quản lí, nhiều nơi, nhiều cán bộ đangquản lí hành chính ở đô thị không khác gì lề lối quản lí ở các làng xã” 4
Biểu hiện sự phụ thuộc đô thị vào nông thôn:
Tổ chức hành chính của đô thị Việt Nam được sao phỏng theo tổ chức nông thôn Đô thị truyền thống cũng chia thành các phủ, huyện, tổng, thôn Cho
đến tận năm 1940, các làng quanh hồ Hoàn Kiếm vẫn còn chức tiên chỉ, thứ chỉ.Không chỉ vậy, đô thị Việt Nam đã xuất hiện từ rất sớm một loại đơn vị đặc biệtbắt nguồn từ nông thôn mà đến nay đã trở thành đơn vị hành chính cơ sở đô thị -
đó là phường[1] 5 hiện tượng tái phường hoá cũng xảy ra khá phổ biến khi mộtdãy phố trước đây bán mặt hàng này, nay cả phố chuyểkin sang kinh doanh mặthàng khác Điều này có thể được giải thích bởi tính cộng đồng và tính tự trị: (1)Tính cộng đồng: cách tổ chức theo phường tỏ ra có lợi cho người bán Họ cóđiều kiện tương trợ giúp đỡ nhau trong việc định giá, giữ giá, vay mượn hàng,
2 Xem: Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Trần Quốc Vượng (chủ biên), NXB Giáo dục, tái bản lần thứ năm,
2002, tr.47
3 Xem: Đại cương về Văn hóa Việt Nam, Phạm Thái Việt (chủ biên), NXB Văn hóa – thông tin, 2004, tr.90
4 Trích theo: Báo Tuổi Trẻ, ngày 27 tháng 07 năm 1995
5 Xem thêm: Yann, Croquis tonkinois, Hanoi, 1889, tr.55.
[1] Xem thêm ở Phụ lục [1], tr 28
Trang 8giới thiệu khách hàng cho nhau ; (2)Tính tự trị dẫn đến nếp sống tự túc, dânkhông có nhu cầu mua bán, vì vậy người buôn bán phải gian lận để kiếm sống.Vậy nên, cách tổ chức theo phường tỏ ra có lợi cho người mua: tuy mất công đi
xa để mua hàng, nhưng bù vào đó, người mua có điều kiện khảo giá (không bịmua đắt), và vì nhiều hàng ít có nguy cơ mua phải hàng giả.6
Phố nằm xen kẽ với làng Tại Hà Nội, trong lòng các đô thị, cho tới tận
bây giờ, vẫn còn tồn tại những lũy tre xanh giữa ốc đảo làng quê, có tiếng gà kêumỗi sáng
Lối sống của đô thị Việt Nam cũng tương tự như ở nông thôn vì có tính cộng đồng và tập thể cao Ở Việt Nam, có những làng xã nông thôn thực hiện
chức năng kinh tế của đô thị - đó là các làng công thương Làng Đại Bái (BắcNinh) đúc đồng, làng Bát Tràng (Gia Lâm) làm đồ gốm, làng Nhị Khê (Hà Tây)làm nghề tiện, Nếu ở phương Tây thì những làng công thương đó sẽ phát triển,
mở rộng và tự phát chuyển thành đô thị Tuy nhiên, ở Việt Nam thì mọi sinhhoạt của làng vẫn giống một làng nông nghiệp thông thường Đó là do tính cộngđồng - cả làng làm cùng một nghề (sản xuất cùng một sản phẩm, buôn cùng mộtmặt hàng) và tính tự trị - dân cư sống tự cấp tự túc, khép kín, không có nhu cầubuôn bán, giao lưu Không chỉ vậy, chất nông thôn của đô thị Việt Nam còn bộc
lộ ở tính cộng đồng (tập thể) của nó Các đô thị Việt Nam vẫn rất phổ biến lốikiến trúc “khu tập thể”(chung cư) 7
Như vậy, khác với phương Tây, ở Việt Nam làng xã nông nghiệp là một tổchức tự trị vững mạnh, còn đô thị lại yếu ớt, lệ thuộc Đó là do ở nền văn hóaViệt Nam nông nghiệp trọng tĩnh, làng xã là trung tâm, là sức mạnh, là tất cả,cho nên làng xã có quyền tự trị Còn ở các nền văn hóa châu Âu sớm phát triểnthương mại và công nghiệp, thì hiển nhiên là đô thị tự trị và có uy quyền
2 Các đô thị truyền thống tiêu biểu
2.1 Đô thị kinh đô
2.1.1 Đô thị cổ Hoàng thành Thăng Long [2]
Khu Hoàng thành Thăng Long được công nhận là Di sản văn hóa thế giớitại Việt Nam vào tháng 7 năm 2010 Với 3 tiêu chí nổi bật là: (1)Minh chứngduy nhất về truyền thống văn hóa lâu đời của người Việt ở vùng châu thổ sông
6 Xem: Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999, tr.95 – tr.96.
7 [2] Xem thêm ở phần Phụ lục, tr.23
Trang 9Hồng qua các thời kỳ lịch sử (2)Minh chứng đặc sắc về quá trình giao lưu vănhóa lâu dài, là nơi tiếp nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài, nhiều họcthuyết, tư tưởng có giá trị toàn cầu của văn minh nhân loại để tạo dựng nênnhững nét độc đáo, sáng tạo của một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa củaquốc gia (3) Có liên hệ trực tiếp với nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của quốc giatrong mối quan hệ với khu vực và thế giới
Về mặt địa lý, đất Thăng Long nằm giữa vùng Đồng Bằng đông dân, trùphú, lại ở vào vị trí của những đường giao thông quan trọng chủ yếu mà lúc bấygiờ chủ yếu là đường sông Đó là nơi mạng lưới giao thông quy tụ lại, là vị trí
“chính giữa Nam - Bắc - Đông - Tây”, “chỗ tụ hội trọng yếu của bốn phương”
2.1.2 Cố đô Huế [3]
Huế là một trong những trung tâm chính trị, văn hóa - nghệ thuật tiêu biểucủa Việt Nam Trải qua bao thăng trầm lịch sử, Huế vẫn giữ được diện mạo củamột kinh đô, “một kiệt tác thơ về kiến trúc đô thị” với hàng trăm công trình nghệthuật tinh vi, tuyệt mỹ, phong phú, đa dạng về phong cảnh, đậm đà bản sắc vănhóa dân tộc, hòa quyện vào cảnh quan kỳ diệu của thiên nhiên
Huế mang kiến trúc độc đáo và giá trị nổi bật của một kinh đô phong kiếnphương Đông Bên cạnh những kiến trúc cung đình lộng lẫy vàng son, Huế còn
có hàng trăm ngôi chùa thâm nghiêm cổ kính với kiến trúc truyền thống Dướigóc nhìn kiến trúc đô thị, Huế không chỉ là một hình mẫu về kiến trúc sinh hoạttruyền thống, mà còn là một đô thị đặc trưng về kiến trúc không gian - sinhcảnh Đây cũng chính là sự hội tụ về tinh thần của một trung tâm chính trị - vănhóa - nghệ thuật sôi động
2.2 Đô thị khác
PHỐ HIẾN [4]
Vùng này vốn là một lãnh địa của sứ quân Phạm Bạch Hổ, đến thời Tiền
Lê là thực ấp của Lý Công Uẩn Vào những năm đầu của thế kỉ 17, phố Hiến đã8
trở thành một đô thị sầm uất, nổi tiếng trong cả nước, một trung tâm kinh tế chính trị có nhiều mối giao lưu quốc tế
Phố Hiến là khu sản xuất và buôn bán của người Việt và các kiều dânngoại quốc Phố Hiến mang những nhu cầu về tâm linh văn hóa của nhiều cộng
8 Thực ấp: vùng đất được ban cho quan lại gồm một số lượng hộ dân và ruộng đất dưới sự quản lí của họ, được nhà Lý áp dụng rộng rãi.
[3] Xem thêm ở phần Phụ lục, tr.25
[4] Xem thêm ở phần Phụ lục, tr.27
Trang 10đồng khác nhau, thể hiện qua các công trình kiến trúc, nổi bật với các phongcách kiến trúc Việt Nam, Trung Hoa xen lẫn Châu Âu Tổng cộng lại Phố Hiến
có 60 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có nhiều kiến trúc tôn giáo của người Việt
và người Âu Tuy nhiên, cũng như các đô thị Việt Nam khác, bên cạnh nhữngkiến trúc bằng gạch ngói, đại bộ phận nhà ở của dân đều bằng gỗ, tre, nứa đượcxây ở sát nhau
3 Tổng kết
Với lịch sử phát triển, truyền thống kinh tế cùng với cách tổ chức, quy hoạch hiện nay, đô thị Việt Nam có những đặc trưng nổi bật được tổng kết từ nhiều họcgiả như sau:
Thứ nhất, đô thị Việt Nam có sự đan xen, hòa trộn giữa nông thôn và thành thị
ở hầu như tất cả các mặt: không gian địa lý, cơ sở hạ tầng, dân cư, tôn giáo, vănhóa, hoạt động kinh tế,
Thứ hai, ở đô thị, vấn đề chính trị là nhạy cảm, văn hóa đa dạng, hội tụ, diễn
biến phức tạp và tạo nên văn hóa riêng, đó là văn hóa đô thị Vấn đề an ninhquốc phòng tại đô thị cũng cần được chú trọng hơn địa bàn nông thôn
Thứ ba, các đô thị Việt Nam có chức năng của một trung tâm hành chính (của cả
nước hoặc tỉnh, huyện) hơn là chức năng kinh tế
Thứ tư, về tốc độ đô thị hóa: quá trình đô thị hóa ở Việt Nam được đánh giá là
chậm chạp cho đến trước thời kỳ đổi mới và sau đó phát triển mạnh mẽ
Thứ năm, đô thị Việt Nam cũng như các đô thị khác, có vị trí là đầu tàu kinh tế,
là nơi có tỷ lệ phát triển kinh tế cao nhất và cũng đóng góp GDP nhiều nhất sovới các khu vực nông thôn, có vai trò thúc đẩy kinh tế, là cực tác động cho cảnước và khu vực
Như vậy, đô thị có đặc trưng hoàn toàn khác biệt với nông thôn và việc quản lý
đô thị cần thiết phải có cơ chế phù hợp
4 Lý giải các đặc trưng từ góc độ văn hóa
Nhìn từ góc độ văn hóa, đô thị Việt Nam truyền thống có những đặc trưng nhưtrên vì những yếu tố dưới đây
4.1 Thành thị bị nông thôn chi phối
Đô thị chịu ảnh hưởng của nông thôn và mang đặc tính nông thôn đậm nét Thể chế làng xã Việt Nam mang tính bao trùm tới mức tất cả các cộng đồng lớn
Trang 11hơn (đô thị, nhà nước) đều là sự phòng chiếu của chính nó Đô thị truyền thống9
cũng chia thành các phủ, huyện, tổng, thôn Thậm chí, đô thị lớn nhất nước như Thăng Long chỉ là cửa hàng lớn bán các sản phẩm nông thôn
4.2 Văn hóa nông thôn chi phối không cho làng xã phát triển thành đô thị
Các làng nghề của Việt nam không thể phát triển được thành các thị trấn, để từ
đó phát triển tiếp lên thành các đô thị vì:
Trước hết, cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam Các làng nghề không bị thiếu đất đai canh tác đến độ phải chuyển hẳn sang sống bằng nghề thủcông.10
Thị trường tiêu thụ không mở rộng được, do hàng hoá tiểu thủ công nghiệp chủ yếu phục vụ nhu cầu nhỏ hẹp của tầng lớp quan lại phong kiến, do chính quyền quản lý và dùng để đổi lấy hàng hóa nước ngoài Từ đó, thủ công
và thương nghiệp bị bóp nặn đến kiệt sức và không có khả năng mở rộng, khôngđộc lập và do đó, không đủ lực để bứt ra khỏi quỹ đạo của làng xã Chính vì vậy,
ở Việt Nam, không tồn tại một tầng lớp thương nhân độc lập, mà chỉ có những thương nhân gắn chặt với làng quê, thuộc đẳng cấp bình dân và mang đậm tính cách thị dân, luôn tưởng vọng về quê nhà Thêm vào đó, hệ thống giao thông thời gian này không phát triển, bởi vậy, việc lưu thông và trao đổi các sản phẩm thủ công trở nên hết sức khó khăn 11
Ở Việt Nam có một số làng công thương, ví dụ: làng Bát Tràng (Gia Lâm)làm đồ gốm, làng Đại Bái (Bắc Ninh) đúc đồng,… Khác với ở phương Tây thì ở
Việt Nam thì chúng không trở thành đô thị được Sở dĩ như vậy là vì do tính
cộng đồng và tính tự trị
4.3 Chế độ phong kiến Việt Nam mang tính tập quyền
Trong chế độ này, quyền lực nhà nước tập trung trong tay nhà vua Tất cả các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đều thuộc về vua Để duy trì tính tập quyền này và lo sợ cấu trúc khép kín sẽ bị phá vỡ, các nhà nước phong kiến ViệtNam đã “đồng mưu” với thể chế làng xã để loại trừ những tác nhân gây ra
9 Trích theo: Đại cương về Văn hóa Việt Nam, Phạm Thái Việt (chủ biên), NXB Văn hóa – thông tin,
Trang 12khuynh hướng phân quyền trong xã hội, đe dọa đến quyền lực tối thượng của nhà vua, đó là: nghề thủ công, thương mại, giai tầng thương nhân và văn hoá đô thị Thủ công nghiệp và thương nghiệp bị kìm hãm, ví dụ với Hà Nội, nhà Nguyễn muốn trói chặt người nông dân với ruộng đất nơi cư trú nhằm hạn chế nền kinh tế hàng hóa đô thị phát triển ở tỉnh thành này.12
4.4 Tư tưởng trọng nông ức thương
Thành kiến của người Việt đối với thương nghiệp rất nặng; tư tưởng
"trọng nông, ức thương" bám rễ quá sâu trong nhân dân, thể hiện khắp mọi nơi Trái hẳn với phương Tây, Việt Nam xưa kia coi trọng nhất nông nhì sĩ, hoặc nhất
sĩ nhì nông, thương nhân bị khinh rẻ, các nghề khác thường bị coi là nghề phụ
III Sự thay đổi những đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thông trong quá trình hội nhập quốc tế
1 Tổng quan về đô thị Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Giữa giá trị toàn cầu và giá trị địa phương về văn hóa không thể tránh khỏi xung đột và mâu thuẫn, chính vì vậy mà rất cần được nghiên cứu và giải quyết Các đặc trưng đô thị đã trải qua một thời kì “biến đổi khôn lường” xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc Hai mươi năm qua thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, công tác quy hoạch và quản lý xây dựng đô thị đã
có nhiều thay đổi lớn Nền kinh tế thị trường đang phát triển mạnh, hội nhập quốc tế càng ngày càng mở rộng và sâu sắc hơn, đã làm cho đất nước Việt Nam nói chung và đô thị Việt Nam nói riêng đang thay đổi toàn diện theo hướng tích cực [5]
Tuy nhiên, bản chất của quá trình đô thị hóa và phát triển đô thị ở ViệtNam hiện nay đang nằm trong giai đoạn quá độ: biến đổi văn hóa từ nông thônsang đô thị với những đặc trưng tiêu biểu như đa dạng hóa, phức tạp hóa, hiệnđại hóa…, trong đó chứa đựng nhiều yếu tố tích cực nhưng cũng không ít nhữngtiêu cực, trái chiều Nước ta nằm trong nhóm các nước đang phát triển, chịu sức
ép của rất nhiều vấn đề: trình độ và năng lực quản trị xã hội thấp, gia tăng dân
số, kinh tế chậm phát triển, Cho nên, việc quy hoạch, xây dựng và phát triển
đô thị cũng gặp nhiều khó khăn [6]13
12 Theo Phong Kiều, bài viết Điểm qua một số chính sách của các nhà nước phong kiến đối với nông nghiệp Thăng Long - Hà Nội, NXB Hà Nội, 2015
[5] Xem thêm ở phần Phụ lục [5], tr.28
13 [6] Xem thêm ở phần Phụ lục, tr.29
Trang 132 Sự thay đổi những đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống trong quá trình hội nhập quốc tế
Số lượng đô thị tăng nhanh chóng.
Nếu như trước đây, số lượng đô thị gần như bị áp đảo bởi nông thôn khiđến thế kỷ 19, Việt Nam mới chỉ có hơn 10 đô thị ở cả ba miền thì đến nay, sốlượng đô thị của Việt Nam cũng tăng với tốc độ đáng ngạc nhiên cùng với quátrình đô thị hóa
Sự phát triển các đô thị đã tạo nên các vùng đô thị hóa cao độ
Mật độ các đô thị trên cả nước cũng có sự thay đổi đáng kể từ khi bắt đầuquá trình đô thị hoá Sự phát triển của các vùng đô thị dựa trên cơ sở của mộtthành phố lớn và các đô thị lân cận Ở Việt Nam, hai vùng đô thị lớn được hìnhthành và phát triển vẫn là Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Nhìnchung, các đô thị có số dân tăng trưởng trung bình, các đô thị nhỏ có số dân tăngtrưởng chậm, riêng hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có
số dân tăng trưởng nhanh
Thay đổi về chức năng của đô thị
Hiện nay phần lớn các đô thị đều tập trung vào mục tiêu phát triển kinh tế,
xã hội Đô thị hóa gắn liền với quá trình công nghiệp hóa Quá trình công nghiệphóa là tiền đề cho sự hình thành đô thị hóa khi gia tăng về số lượng và quy môcác cơ sở sản xuất, và hệ thống đô thị cùng với sự phát triển về cơ sở vật chất,
kỹ thuật, hạ tầng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa phát triển, mở rộng quy mô
và hình thành mới các khu công nghiệp Cùng với đó, hệ thống đô thị quốc gia
đã phát triển mạnh cả về số lượng cũng như chất lượng, trở thành động lực pháttriển kinh tế - xã hội của cả nước và của mỗi vùng; bước đầu đã hình thành cựctăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới sáng tạo; khoa học, công nghệ; giáodục, đào tạo tại các đô thị lớn
3 Ưu điểm và hạn chế của những thay đổi
3.1 Ưu điểm
Giảm bớt sự ảnh hưởng văn hóa của làng
Quá trình đô thị hóa cũng như sự du nhập của văn minh phương Tây đã phần nào thay đổi quan niệm của nhân dân về văn hóa làng và những hủ tục của văn hóa làng, ví dụ quan niệm “phép vua thua lệ làng” đã dần được thay đổi mà thay vào đó là sống và quản lý nhà nước bằng pháp luật