1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chính quyền địa phương ở đô thị”

22 11 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chính quyền địa phương ở đô thị
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Chính quyền Địa phương
Thể loại Luận văn/thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 42,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 2 1 Lý do chọn đề tài 2 2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3 4 Phương pháp nghiên cứu 3 5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 3 NỘI DUNG 4 Chương I Một.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 3

NỘI DUNG 4

Chương I: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính quyền địa phương ở đô thị 4

1.1 Khái niệm chính quyền địa phương 4

1.2 Vai trò của chính quyền địa phương 4

1.3 Mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam 6

Chương II: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chính quyền địa phương ở đô thị 8

2.1 Mô hình tổ chức chính quyền địa phương theo Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) 9

2.2 Thực trạng xây dựng chính quyền địa phương ở đô thị ở nước ta hiện nay 10

2.3 Một số bất cập, hạn chế khi thực hiện chính quyền địa phương ở đô thị hiện nay 12

Chương III: Một số giải pháp và định hướng nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về chính quyền địa phương ở đô thị 16

KẾT LUẬN 21

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội khóa XIII,

kỳ họp thứ sáu thông qua ngày 28/11/2013 (Hiến pháp năm 2013), có hiệu lực thi hành từngày 01/01/2014 – đã dành Chương IX quy định về chính quyền địa phương thay choChương IX Hiến pháp 1992 về Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Với 07 điều (từĐiều 110 đến Điều 116), Hiến pháp 2013 đã sử dụng cụm từ “chính quyền địa phương”làm tên chương, đồng thời quy định vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địaphương theo hướng khái quát; bổ sung những quy định mới mang tính khái quát, xác địnhnguyên tắc nhằm tạo điều kiện xây dựng mô hình chính quyền địa phương có những thayđổi mang tính hiệu quả Đảng ta luôn xác định việc tổ chức hợp lý chính quyền địaphương, phân biệt giữa chính quyền nông thôn, đô thị, hải đảo; đẩy mạnh phân cấp giữaTrung ương và địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương nhằm nâng cao hiệulực, hiệu quả quản lý, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt trong tổ chức và hoạt động củachính quyền địa phương các cấp Khác với chế độ liên bang của các quốc gia khác trênthế giới, chính quyền địa phương của Việt Nam là một bộ phận hợp thành của chế độ đơnnhất Chính quyền địa phương Việt Nam được tổ chức gồm có Hội đồng nhân dân và Ủyban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hànhchính – kinh tế đặc biệt do luật định Tổ chức và hoàn thiện bộ máy chính quyền địaphương trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiệnnay là vấn đề đặc biệt quan trọng Tuy nhiên, phân cấp quản lý và tổ chức mô hình chínhquyền địa phương không đơn thuần là sự cắt khúc công việc cho các cấp mà đòi hỏi phải

có sự phối hợp giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa phương và giữa các cơquan trong chính quyền địa phương với nhau Vì vậy, phân cấp quản lý phải xác định rõnhiệm vụ cần làm, phải làm của từng cấp, không có sự chồng lấn về công việc giữa cáccấp, làm cho mỗi cấp, nhất là địa phương thể hiện được tính năng động, sáng tạo, quyền

tự chủ, tự chịu trách nhiệm và hoạt động có hiệu quả Từ những lý luận và sự đòi hỏi của

thực tiễn tôi xin chọn đề tài “Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chính quyền địa phương ở đô thị” để làm đề tài nghiên cứu cho bài tiểu luận Do đây là một đề

Trang 3

tài lớn, tôi đã cố gắng đi sâu tìm hiểu nhưng vì kiến thức còn hạn chế, sự hiểu biết chưanhiều nên không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong cô xem xét và góp ý để tôi có cơ

sở tiếp thu và sửa chữa cho bài tiểu luận này được hoàn thiện hơn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận của chính quyền địa phương ở nước ta

Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở Việt Nam.Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở Việt Nam,phân tích rõ những ưu thế và hạn chế, nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm

Đề xuất các phương hướng đổi mới của chính quyền địa phương ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là mô hình tổ chức, hoạt động của chính quyềnđịa phương nước ta hiện nay

Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là mô hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhândân và Ủy ban nhân dân theo Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương

2015 (sửa đổi, bổ sung 2019)

4 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,

sử dụng một số phương pháp nghiên cứu: Phân tích, tổng hợp, so sánh, tiếp cận hệ thống;kết hợp các phương pháp: Lịch sử, xã hội học

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã kế thừa một số kết quả nghiên cứu có liênquan, các đánh giá, nhận định trong các báo cáo tổng kết của các công trình nghiên cứu

mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta

5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

Thông qua việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn quy định của pháp luật về chínhquyền địa phương ở đô thị đã đẩy mạnh sự phân cấp giữa Trung ương và địa phương vàgiữa các cấp chính quyền địa phương nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, bảo đảmtính thống nhất, thông suốt trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cáccấp

Trang 4

NỘI DUNG Chương I: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính quyền địa phương ở đô thị 1.1 Khái niệm chính quyền địa phương

Khái niệm chính quyền địa phương là khái niệm phái sinh từ khái niệm hệ thống các

cơ quan nhà nước ở địa phương Khái niệm này được sử dụng khá phổ biến trong nhiềuvăn bản pháp luật của nhà nước Là một khái niệm được sử dụng nhiều trong tổ chức vàhoạt động của nhà nước vào đời sống thực tế xã hội, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có mộtvăn bản pháp luật nào định nghĩa khái niệm chính quyền địa phương bao gồm những thiếtchế nào, mối quan hệ và cơ chế hoạt động cụ thể của các bộ phận cấu thành Xuất phát từgóc độ nghiên cứu lý luận, tò góc độ thực tiễn hay cách thức tiếp cận vấn đề nghiên cứucủa các nhà khoa học, các nhà thực tiễn và quản lý tập trung vào 3 quan niệm như sau:

Một là, chính quyền địa phương là khái niệm dùng chung để chỉ tất cả các cơ quan nhà

nước (mang quyền lực nhà nước) đóng trên địa bàn địa phương

Hai là, chính quyền địa phương gồm hai phân hệ cơ quan – cơ quan quyền lực nhà nước ở

địa phương (Hội đồng nhân dân) và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (Uỷ bannhân dân)

Ba là, chính quyền địa phương bao gồm bốn phân hệ cơ quan tương ứng với bốn phân hệ

cơ quan nhà nước tối cao ở trung ương (Quốc hội, Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao,Viện Kiểm sát nhân dân tối cao) là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (Hội đồngnhân dân các cấp), cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (Uỷ ban nhân dân cáccấp), cơ quan tư pháp (Tòa án nhân dân các cấp) và cơ quan kiểm sát (Viện kiểm sát nhândân các cấp)

1.2 Vai trò của chính quyền địa phương

Trong thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp, mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nướcchủ yếu được quan tâm theo hệ thống dọc từ trung ương đến cơ sở Nói đến cơ cấu của bộmáy nhà nước là nói đến các hệ thống cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phươngnhư:

Trang 5

Hệ thống cơ quan đại diện, hệ thống cơ quan hành chính;

Hệ thống Tòa án nhân dân, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân

Khi đó, chính quyền địa phương với tính chất là một chỉnh thể thống nhất ít được đềcập Đến thời kỳ đổi mới, các hệ thống dọc này, nhất là hệ thống các cơ quan hành chínhnhà nước, cơ quan đại diện đứng trước nhiều thách thức mới Đó là sự phát triển năngđộng của khu vực thị trường, tính đa dạng của lợi ích, trình độ dân trí, dân chủ được nânglên Xã hội đòi hỏi một bộ máy nhà nước trách nhiệm, minh bạch, thích ứng, linh hoạt,hiệu lực, hiệu quả Từ đó, chủ trương phân cấp đã ra đời, nhằm khắc phục tính quan liêu,cồng kềnh của bộ máy nhà nước Mối quan tâm đến quan hệ chiều ngang giữa Hội đồngnhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp với tính chất là những bộ phận không thể thiếu củamột cấp chính quyền dần được đề cao

Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2019) ra đời làmột minh chứng rõ nét cho những thay đổi trong nhận thức về vị trí, vai trò của chínhquyền địa phương Cùng với quá trình phát triển và hoàn thiện của bộ máy nhà nước ViệtNam trong thời kỳ đổi mới, chính quyền địa phương đang ngày càng khẳng định mạnh mẽhơn vị trí, vai trò và tính độc lập tương đối của mình Sự ra đời của các chỉ số về năng lựccạnh tranh cấp tỉnh PCI; chỉ số quản trị và hành chính công cấp tỉnh PAPI; chỉ số cải cáchhành chính PAR INDEX là những minh chứng quan trọng cho quá trình này

Đồng thời, các chỉ số này cũng là những tác nhân quan trọng cho những nỗ lực nângcao năng lực tự chủ của chính quyền địa phương trong quá trình đổi mới Có địa phương

đã khẳng khái: "Chúng tôi cần cơ chế riêng chứ không xin" miếng bánh "to hơn" và việcchính quyền trung ương đồng ý thí điểm cơ chế đặc thù ở một số địa phương cho thấyviệc bảo đảm sự độc lập tương đối cho chính quyền địa phương đã trở thành nhu cầu rấtbức thiết và khách quan cho sự phát triển Tuy nhiên, là một bộ phận hợp thành của hệthống cơ quan nhà nước thống nhất, chính quyền địa phương phải được đặt trong sự kiểmsoát chặt chẽ của chính quyền trung ương

Như vậy, với thay đổi trong nhận thức về vị trí, vai trò của chính quyền địa phươnghiện nay, có thể hiểu chính quyền địa phương là một bộ phận của bộ máy nhà nước, cótính độc lập tương đối trong quan hệ với chính quyền trung ương, được tổ chức để thực

Trang 6

thi những chức năng, nhiệm vụ nhất định của quản lý nhà nước trên một đơn vị hànhchính lãnh thổ, bằng những nguồn lực được phân cấp hay chuyển giao theo quy định củapháp luật.

1.3 Mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam

Mô hình tổ chức chính quyền địa phương luôn gắn liền với vấn đề phân chia các đơn

vị hành chính lãnh thổ của quốc gia Tất nhiên việc phân chia các đơn vị hành chính lãnhthổ phụ thuộc trước hết vào hình thức cấu trúc của Nhà nước, Việc phân chia các đơn vịhành chính lãnh thổ (các cấp hành chính lãnh thổ; quy mô các đơn vị hành chính lãnh thổ)một cách hợp lý, khoa học là cơ sở cơ bản quyết định tính hợp lý và hiệu quả của mô hình

tổ chức chính quyền địa phương Vấn đề xây dựng chính quyền mấy cấp, quy mô phạm vicủa các đơn vị hành chính lãnh thổ được xác định như thế nào phụ thuộc vào rất nhiềuyếu tố như: Kết cấu cộng đồng dân cư theo đơn vị hành chính lãnh thổ truyền thông; đặcđiểm của yếu tố địa lý - văn hóa; đặc điểm địa - kinh tế của từng khu vực quy định khảnăng, định hướng phát triển kinh tế; các yêu cầu về an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xãhội của đất nước cũng như của mỗi địa bàn; thể chế chính trị, đường lối phát triển kinh tế

- xã hội của Đảng và Nhà nước

Do vậy, không thể có một mô hình tổ chức thống nhất đối với chính quyền địaphương cho mọi quốc gia Mỗi một nhà nước tùy thuộc vào các điều kiện, đặc điểm lịch

sử về địa chính trị, kinh tế, văn hóa, truyền thống và bản chất chính trị của chế độ xã hội

mà xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương phù hợp

Trên thế giới có nhiều cách tổ chức chính quyền địa phương với nhiều tên gọi khácnhau Ngay trong một nước cũng có nhiều mô hình tổ chức cơ quan quản lý khác nhau ởđơn vị hành chính khác nhau cùng tồn tại Về cơ bản có những mô hình sau đây:

Cơ quan chính quyền địa phương là một bộ máy hành chính đứng đầu là tỉnh trưởng, thịtrường, quận trường, xã trưởng được bổ nhiệm tin trên Toàn bộ quyền hạn trong tayngười đứng đầu, họ có toàn quyền thực hiện mọi công việc quản lý hành chính nhà nước

ở địa phương theo quy định của pháp luật Mô hình này tồn tại phổ biến ở thời kỳ phongkiến trước đây và hiện nay

Một số đơn vị hành chính "trung gian" ở một số nước Bắc Âu, châu Mỹ và châu Á

Trang 7

Chính quyền địa phương là cơ quan hành chính cho cấp trên bổ nhiệm, hoặc được bầu rakết hợp với một hội đồng tự quản do dân cư bầu ra Ở đây, vai trò chủ đạo thuộc về cơquan hành chính, còn hội đồng tự quản chỉ đóng vai trò tư vấn, nằm dưới sự giám hộ của

cơ quan hành chính và chỉ được

Bàn định những vấn đề thuần túy địa phương không được tham gia vào những vấn

đề quốc gia trừ các vấn đề có tính chất chính trị Hình thức quản lý này phổ biến ở cácđơn vị hành chính "trung gian" các nước châu Âu lục địa (ví dụ như ở Pháp trước cải cáchhành chính 1982)

Mô hình quản lý địa phương bởi một ủy ban hành chính do dân cư hay các hội đồng

tự quản bầu ra Ủy ban cũng có người đứng đầu song hoạt động chủ yếu mang tính tậpthể Ủy ban quyết định tập thể các vấn đề quản lý địa phương, các thành viên phân côngphụ trách từng mảng công việc Hình thức này phổ biến ở đơn vị hành chính cấp huyện,quận ở Anh, Mỹ, Bắc Âu

Mô hình chính quyền địa phương là một cơ quan đại diện (Xô viết, Hội đồng) donhân dân địa phương bầu ra, vừa đại diện cho nhân dân địa phương vừa đại diện cho cơquan nhà nước cấp trên Đây là những cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Cơquan này đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức quyền lực (quản lý) trên địa bàn lãnhthổ Một cơ quan chấp hành được cơ quan này lập ra để tổ chức thực hiện các nghị quyếtcủa cơ quan quyền lực và chính sách, pháp luật của nhà nước nói chung Đây là cơ quanchấp hành và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Mô hình này là mô hình tổchức chính quyền địa phương ở các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta

Các hình thức tổ chức cơ quan quản lý địa phương trên đây mặc dù có tên gọi khácnhau, cơ cấu và địa vị pháp lý của mỗi bộ phận không giống nhau nhưng nhìn chung đềumang một tính chất là cơ quan chính quyền địa phương, được lập ra để thực hiện các chứcnăng quản lý địa phương, thực hiện quyền lực nhà nước trên địa bàn lãnh thổ Hay nóicách khác chúng được lập ra để thi hành pháp luật của nhà nước trong việc quyết địnhnhững việc được giao ở địa phương

Về hình thức tổ chức lãnh thổ nhà nước, Việt Nam là một quốc gia đơn nhất Do vậy

mô hình tổ chức chính quyền địa phương được xác định phù hợp với cơ chế tổ chức

Trang 8

quyền lực theo các đơn vị hành chính lãnh thổ Tính thống nhất của quyền lực nhà nước

về phương diện cấu trúc hành chính lãnh thổ đòi hỏi bộ máy nhà nước phải luôn được tổchức theo một hệ thống thống nhất, đảm bảo tính liên thông của quyền lực từ trung ươngxuống địa phương Trong quan hệ quyền lực theo chiều dọc, tức là theo các đơn vị hànhchính lãnh thổ, quyền lực nhà nước phải được xác định theo từng cấp đơn vị hành chínhlãnh thổ theo các mục tiêu, mức độ phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương,giữa các cấp hành chính - lãnh thổ khác nhau trong một quốc gia

Mặt khác, yêu cầu của tổ chức quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền,quyền lực không chỉ thống nhất mà còn phải đảm bảo các yêu cầu của một nền dân chủ,Điều này có nghĩa là trong mối quan hệ giữa trung ương và địa phương, giữa các cấpchính quyền được tổ chức theo các đơn vị hành chính lãnh thổ vừa phải tuân thủ yêu cầucấp dưới phụ thuộc cấp trên, chịu trách nhiệm trước cấp trên, vừa phải đảm bảo tính độclập, tự chủ của mỗi một cơ cấu chính quyền trong mỗi cấp hành chính - lãnh thổ Có nhưvậy mới đảm bảo được yêu cầu quyền lực nhà nước thống nhất, vừa được thực hiện tậptrung, vừa được thực hiện dân chủ theo đúng tinh thần của nguyên tắc tập trung dân chủtrong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Trong khi nghiên cứu mô hình chính quyền địa phương không thể không nói đến vaitrò lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền địa phương thông qua hai mối quan hệ:

Một là, quan hệ dọc: Sự lãnh đạo của Trung ương Đảng đối với các tổ chức đảng vàchính quyền địa phương, của tổ chức đảng cấp trên đối với tổ chức đảng, chính quyền cấpdưới;

Hai là, quan hệ ngang sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng đối với chính quyềncung cấp Sự lãnh đạo đó được thể hiện cụ thể bằng việc ra nghị quyết về những vấn đề

cơ bản, quan trọng trong xây dựng chính quyền địa phương cử đảng viên của Đảng thamgia bộ máy chính quyền, kiểm tra, giám sát hoạt động của cán bộ, bộ máy chính quyềncác cấp

Chương II: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chính quyền địa phương

ở đô thị

Trang 9

2.1 Mô hình tổ chức chính quyền địa phương theo Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

Trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước Việt Nam, khái niệm chính quyền địaphương được sử dụng để chỉ tổ chức và hoạt động của hai cơ quan là Hội đồng nhân dân

và Ủy ban nhân dân Nghị quyết lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII)ngày 18 tháng 6 năm 1997 tại phần III, mục 4 về tiếp tục cải cách hành chính nhà nướcđối với chính quyền địa phương chỉ đề cập tới việc kiện toàn củng cố Hội đồng nhân dân

và Uỷ ban nhân dân các cấp và hướng cải cách tổ chức và hoạt động của hai cơ quan này

mà không đề cập tới các cơ quan nhà nước khác trong hệ thống các cơ quan nhà nước ởđịa phương Cho đến khi Hiến pháp 2013 được ban hành thì những quy định về tổ chức

mô hình chính quyền địa phương mới được linh hoạt hóa Cụ thể, tại Điều 111 Hiến phápnăm 2013 quy định: “chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính củanước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cấp chính quyền địa phương gồm có Hộiđồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị,hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do luật định” Như vậy, so với Hiến phápnăm 1992, chế định chính quyền địa phương đã có sự phát triển mới khi quy định linhhoạt về đơn vị hành chính Hiến pháp không quy định áp dụng thống nhất một loại môhình chính quyền địa phương cho toàn quốc mà chính quyền địa phương sẽ được tổ chứcdựa trên cơ sở đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt vàcác nguyên tắc phân cấp, phân quyền giữa trung ương với địa phương cũng như giữa cáccấp chính quyền địa phương với nhau Có ba cấp đơn vị hành chính phổ biến là cấp tỉnh,cấp huyện, cấp xã và một cấp không phổ biến là đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Với

ba cấp đơn vị hành chính phổ biến, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửađổi, bổ sung 2019) vẫn xác định mỗi đơn vị hành chính đều thiết lập hai loại cơ quan làHội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân

Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phânđịnh thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấpchính quyền địa phương Khoản 1 Điều 112 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định rõ chínhquyền địa phương có hai loại nhiệm vụ, quyền hạn được phân biệt với nhau, đó là: Tổ

Trang 10

chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương và quyết định cácvấn đề của địa phương do luật định Như vậy, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của chínhquyền địa phương quy định trong Hiến pháp năm 2013 không có những thay đổi căn bản

so với Hiến pháp 1992 nhưng quy định rõ hơn chức năng và nhiệm vụ của chính quyềnđịa phương Trong một Nhà nước đơn nhất như nước ta, nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu củachính quyền địa phương là tổ chức và bảo đảm thực hiện Hiến pháp, pháp luật tại địaphương Đồng thời, chính quyền địa phương thực hiện các nhiệm vụ xuất phát từ tính đặcthù của địa phương Đây là quy định thể hiện nhiệm vụ có tính tự quản cao của chínhquyền địa phương nhằm phát huy lợi thế của mỗi địa phương trên thực tế Ngoài ra, Hiếnpháp cũng quy định nghĩa vụ quan trọng của chính quyền địa phương là “chịu sự kiểm tra,giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên”

Khoản 2 Điều 112 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ “Nhiệm vụ, quyền hạn củachính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quannhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương” Khoản 3Điều 112 Hiến pháp năm 2013 quy định trong trường hợp cần thiết, chính quyền địaphương được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điềukiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó Trên thực tế rất nhiều nhiệm vụ của Trung ươnggiao cho địa phương thực hiện nhưng chỉ giao việc mà không kèm theo các điều kiện bảođảm để thực hiện công việc, gây rất nhiều khó khăn cho địa phương Quy định này tạo cơ

sở hiến định giải quyết nhiều khó khăn của các địa phương hiện nay

2.2 Thực trạng xây dựng chính quyền địa phương ở đô thị ở nước ta hiện nay

Quá trình đô thị hóa ở nước ta đang diễn ra với quy mô lớn và tốc độ nhanh, nênviệc xây dựng chính quyền đô thị là đòi hỏi tất yếu Vì thế, lộ trình, cách thức triển khaiphải được nghiên cứu nghiêm túc, toàn diện để hướng tới xây dựng mô hình chính quyền

đô thị phù hợp, thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, đáp ứng yêu cầu pháttriển chung của đất nước trong giai đoạn mới Trong thời gian qua, công tác quản lý nhànước ở các đô thị đã được tăng cường một bước Tổ chức, hoạt động của chính quyền đôthị cũng như hoạt động quản lý nhà nước tại đô thị đã có những bước phát triển mới

Trang 11

Trong bối cảnh cải cách nền hành chính nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa hiện nay, chính quyền đô thị ở nước ta có những tiến bộ nhất định về năng lực,hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phục vụ nhân dân trên địa bàn Trong đó phải kểđến những kết quả tích cực như sau:

Thứ nhất, việc phân định nhiệm vụ, quyền hạn đặc thù của chính quyền đô thị có

những điểm khác biệt với chính quyền nông thôn Chính quyền ở thành phố thuộc tỉnh, thị

xã ngoài việc quyết định các vấn đề của địa phương giống như đối với địa bàn nông thôn,còn tập trung quyết định các vấn đề quy hoạch phát triển, xây dựng kết cấu hạ tầng, quản

lý và tổ chức đời sống dân cư đô thị… Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền ở cấp quận

và phường được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu quản lý thống nhất, liên thông trong khuvực nội thành, nội thị tại các đô thị Với các mức độ khác nhau, các cấp chính quyền đôthị đã và đang quan tâm nhiều hơn đến việc bảo đảm các dịch vụ công cộng cơ bản, thiếtyếu, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của dân cư, như dịch vụ hạ tầng kỹ thuật (cấpthoát nước, cấp điện, chiếu sáng công cộng, giao thông, thông tin liên lạc), giáo dục, bảo

vệ sức khoẻ, vệ sinh môi trường…, góp phần phục vụ các nhu cầu, lợi ích chính đáng củangười dân

Thứ hai, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, bộ máy của hội đồng nhân dân và ủy

ban nhân dân đã được sắp xếp, điều chỉnh theo các quy định của Luật Tổ chức chínhquyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019) và của chính quyền thànhphố, phù hợp hơn với đặc điểm, tính chất của quản lý đô thị Hội đồng nhân dân các thànhphố, thị xã, thị trấn ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địaphương, thực hiện tốt hơn chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đô thị và chứcnăng giám sát các hoạt động của bộ máy hành chính đô thị Ủy ban nhân dân các cấp ở đôthị ngày càng có nhiều đổi mới về tổ chức và hoạt động theo hướng đáp ứng yêu cầu cảicách và hiện đại hóa nền hành chính Với các mức độ khác nhau, các cấp chính quyền đôthị đã và đang quan tâm nhiều hơn đến việc bảo đảm các dịch vụ công cộng cơ bản, thiếtyếu cho người dân Trong hoạt động của mình, ủy ban nhân dân thực hiện ngày càng cóhiệu lực, hiệu quả hơn công tác quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội trênđịa bàn theo phân cấp, ủy quyền của chính quyền đô thị, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa

Ngày đăng: 27/05/2023, 20:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Nguyễn Văn Cương (2015), Về phân định thẩm quyền giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương tại Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phân định thẩm quyền giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương tại Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Cương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2015
5.Nguyễn Đăng Dung (2016), Về Luật Tổ chức Chính quyền địa phương, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 32, Số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Luật Tổ chức Chính quyền địa phương
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học
Năm: 2016
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2021
7. Nguyễn Thị Hạnh (2017), Hoàn thiện pháp luật về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hạnh
Nhà XB: Học viện CTQG Hồ Chí Minh
Năm: 2017
8. Trương Đắc Linh (2014), bài Nội dung chương IX “Chính quyền địa phương của Hiến pháp năm 2013” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung chương IX “Chính quyền địa phương của Hiến pháp năm 2013”
Tác giả: Trương Đắc Linh
Năm: 2014
9. Đinh Xuân Thảo (2014), bài Chế định Chính quyền địa phương in trong sách: Bình luận khoa học Hiến pháp Nước CHXHCN Việt Nam năm 2013, Nxb Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Hiến pháp Nước CHXHCN Việt Nam năm 2013
Tác giả: Đinh Xuân Thảo
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2014
1. Nguyễn Hoàng Anh (2018), Một số vấn đề về thực tiễn triển khai chế định Chính quyền địa phương theo Hiến pháp năm 2013, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Đánh giá 5 năm thi hành Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013, Khoa Luật, ĐHQGHN Khác
2. Báo cáo Tổng hợp kết quả nghiên cứu Đề tài khoa học cấp Bộ “Hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước phù hợp với Hiến pháp” do PGS,TS. Lê Minh Thông làm Chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy Ban thường vụ Quốc hội Chủ trì, nghiệm thu năm 2017 Khác
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2017), Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả Khác
10. Phan Trung Tuấn (2018), Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới cơ cấu tổ chức, hoạt động của chính quyền đô thị Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w