Lý thuyết này cũng chỉ ra rằng, trước khi quyết định đầu tư các nhà đầu tư thường xem xét 5 tiêu chí trọng điểm: ● của cải hay khả năng kinh tế hiện có của nhà đầu tư ● lợi suất hay mức
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua hơn mười năm hìnhthành và phát triển Đã có nhiều nhà đầu tư kiếm được những khoản lợi nhuậnkhông nhỏ từ việc đầu tư chứng khoán, bên cạnh đó cũng có những nhà đầu
tư phải chịu những thất bại nặng nề Những nhà đầu tư thành công trên thịtrường chứng khoán thường thiết lập một danh mục đầu tư và có chiến lượcquản lý danh mục hợp lý; ngược lại những nhà đầu tư thất bại thường do họkhông làm được điều vừa nêu Đầu tư vào nhóm cổ phiếu ngành bất động sảnhiện nay cũng là một trong những kênh đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư
Bởi vậy, em lựa chọn đề tài “ Xây dựng và quản lý danh mục đầu tư cổ phiếu nhóm ngành bất động sản ’’.
Chuyên đề thực tập gồm 3 chương:
● Chương I: Lý thuyết danh mục đầu tư và phương pháp CANSLIM
● Chương II: Xác định danh mục đầu tư cổ phiếu ngành bất động sản
● Chương III: Ứng dụng phân tích kỹ thuật vào điều chỉnh danh mục
Trang 21.1.1 Khái niệm danh mục đầu tư
Danh mục là tập hợp gồm ít nhất hai loại tài sản trở lên Vì vậy danhmục đầu tư chứng khoán là khoản đầu tư của cá nhân hoặc tổ chức vào việcnắm giữ các tài khoản chứng khoán như: cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản
1.1.2 Sự cần thiết phải đầu tư chứng khoán theo danh mục
1.1.2.1 Đối với nhà đầu tư trên thị trường
Việc đầu tư đơn lẻ vào một loại cổ phiếu thường phải chịu mức rủi ro rấtlớn,vì
vậy nhà đầu tư cần phải xác định một danh mục đầu tư cho phù hợp với mứcchấp nhận rủi ro
Những lợi ích cơ bản của việc đầu tư theo danh mục:
- Đầu tư chứng khoán theo danh mục giúp nhà đầu tư có thể đảm bảođược các yêu cầu về lợi suất đầu tư
- Đầu tư chứng khoán theo danh mục giúp đa dạng hóa rủi ro
- Với hình thức đầu tư chứng khoán theo danh mục, nhà đầu tư có thể đầu
tư vốn của mình vào chứng khoán bằng cách đầu tư gián tiếp Tức là hìnhthức đầu tư thông qua các tổ chức chuyên nghiệp
1.1.2.2 Đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán
Các tổ chức kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán nhằmmục đích thu được nguồn lợi nhuận từ hoạt động đầu tư chứng khoán Đầu tưbằng danh mục đầu tư giúp các tổ chức kinh doanh thu được các khoản lợinhuận dự tính trong khi vẫn đảm bảo khả năng an toàn hoạt động Khi đó, nhờvào việc đa dạng hóa danh mục đầu tư mà các tổ chức kinh doanh chứng
Trang 3khoán vừa tạo ra khoản lợi nhuận cao vừa đáp ứng được yêu cầu về an toànvốn đầu tư Các tổ chức kinh doanh có thể đầu tư bằng cách góp vốn vào công
ty cổ phần với tư cách là cổ đông sáng lập, hoặc tham gia giao dịch trực tiếptrên thị trường chứng khoán
1.2 Lý thuyết về danh mục đầu tư
1.2.1 Lý thuyết về sự lựa chọn tài sản đầu tư
Lý thuyết này được các nhà kinh tế Mỹ đưa ra từ những thập kỳ 50 thế
kỷ XX khi nghiên cứu về đầu tư của các cá nhân và tổ chức xã hội, nó giảithích vì sao nhà đầu tư lại lựa chọn đầu tư vào loại tài sản này mà không lựachọn loại tài sản khác Các loại tài sản có thể lựa chọn bao gồm: tiền, chứngkhoán, bất động sản
Lý thuyết này cũng chỉ ra rằng, trước khi quyết định đầu tư các nhà đầu
tư thường xem xét 5 tiêu chí trọng điểm:
● của cải hay khả năng kinh tế hiện có của nhà đầu tư
● lợi suất (hay mức lợi tức) kỳ vọng trên một tài sản so với lợi tức mongđợi trên những tài sản khác
● mức độ rủi ro đi liền với lợi tức mong đợi trên những tài sản khác
● tính lỏng của một tài sản so với những tài sản khác
● chi phí cho thông tin về một tài sản so với chi phí thông tin đi liền vớinhững tài sản khác
1.2.2 Lý thuyết về thị trường hiệu quả
Nội dung chính của lý thuyết thị trường hiệu quả (EMH) là thị trườngtrong đó giá chứng khoán đã phản ánh đầy đủ và tức thời của các thông tintrên thị trường Giá chứng khoán thay đổi một cách ngẫu nhiên do ảnh hưởngcủa các thông tin Các cấp của thị trường hiệu quả là: EMH cấp yếu, EMHtrung bình, EMH mạnh
● EMH cấp thấp: mọi thông tin trong quả khứ của chứng khoán đều đượcphản ánh vào giá của nó Các thông tin này đều được nhà đầu tư sửdụng
● EMH cấp trung bình: giá chứng khoán không những phản ánh thông tin
Trang 4quá khứ mà còn phản ánh những thông tin hiện tại.
● EMH cấp cao: giá chứng khoán phản ánh tất cả những thông tin cầnthiết liên quan đến tổ chức phát hành thậm chí đó là những thông tinnội gián, thông tin mật Điều này có nghĩa là thị trường sẽ phản ánh hếtsức nhanh trước những thông tin Vì thế, trong hình thái này không thểthực hiện bất kỳ một hình thức phân tích nào
1.2.3 Lý thuyết quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận
Tỷ suất sinh lợi của chứng khoán chịu tác động của rất nhiều yếu tố rủi
ro, những yếu tố này có thể bị triệt tiêu hoàn toàn thông qua việc kết hợp danhmục đầu tư hiệu quả của nhiều chứng khoán được gọi là rủi ro không hệthống, phần lợi nhuận mong đợi để bù đắp cho loại rủi ro này chính là phần
bù rủi ro chứng khoán Loại rủi ro không thể triệt tiêu được gọi là rủi ro hệthống, phần lợi nhuận mong đợi tương ứng với loại rủi ro này chính là tỷ suấtsinh lợi phi rủi ro
Nhìn chung ếu một danh mục đầu tư này tốt hơn danh mục đầu tư kiathì danh mục đó phải có đồng thời mức lợi suất đầu tư lớn hơn và mức rủi ronhỏ hơn
1.2.4 Lý thuyết đa dạng hóa
Nhà đầu tư nên đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau để tạothành một danh mục đầu tư sao cho tổng mức rủi ro trên toàn bộ danh mục sẽđược giới hạn ở mức nhỏ nhất Có hiai loại rủi ro: rủi ro hệ thống và rủi ro phi
hệ thống Rủi ro hệ thống là rủi ro do thị trường gây ra và ảnh hưởng đến tất
cả các chứng khoán trên thị trường Do vậy, rủi ro hệ thống là rủi ro khôngthể tránh được bằng hình thức đa dạng hoá Ngược lại, rủi ro phi hệ thống cóthể hạn chế được bằng biện pháp đa dạng hoá đầu tư
Tức là, mức độ chấp nhận rủi ro cao hay thấp của danh mục sẽ phụthuộc vào mối quan hệ tương tác giữa các chứng khoán đưa vào danh mục vớicác chứng khoán khác Danh mục càng đa dạng thì khả năng giảm thiểu rủi rophi hệ thống càng lớn
1.2.5 Lý thuyết lựa chọn cổ phiếu theo mô hình của Markowitz
1.2.5.1 Mô hình của Markowitz
Trang 5Ý tưởng đa dạng hoá rủi ro là một ý tưởng đã tồn tại từ rất lâu Tuynhiên phải đến năm 1952, Harry Markowitz mới đưa ra một mô hình chínhthức trong việc lựa chọn danh mục đầu tư, trong đó đề cập tới nguyên tắc về
đa dạng hoá rủi ro Mô hình của ông chính là bước đầu tiên của quản lý danhmục đầu tư: xác định một hệ thống các danh mục đầu tư hiệu quả, tập hợp cácdanh mục này sẽ có một đường cong biên hiệu quả các danh mục chứngkhoán rủi ro, thường gọi là đường cong biên hiệu quả
Bản chất của việc xác định hệ thống các danh mục đầu tư hiệu quả là:tại mỗi mức rủi ro nhất định, chỉ quan tâm đến các danh mục có lợi tức lớnnhất Hoặc ngược lại, danh mục đầu tư quan tâm là danh mục có mức rủi rothấp nhất đối với mỗi mức lợi tức dự tính Trên thực tế thì hai phương phápnày đều cho kết quả như nhau
Trong phạm vi của chuyên đề chúng ta đề cập tới trường hợp danh mục
có rủi ro nhỏ nhất với mức lợi tức cho trước,và không đề cập đến danh mục
có tài sản phi rủi ro
Giả thiết của mô hình:
● Nhà đầu tư là e ngại rủi ro
● Nhà đầu tư dựa vào phương sai của danh mục để đánh giá mức độ rủi
ro của danh mục đầu tư
● Nhà đầu tư ra quyết định dựa trên đường biên hữu dụng - đường thểhiện mối tương quan giữa lợi suất kỳ vọng và phương sai của tỷ suất lợinhuận
● Xét cùng một mức rủi ro nhà đầu tư sẽ lựa chọn tài sản (danh mục) cólợi suất kỳ vọng lớn hơn, ngược lại xét cùng một mức lợi suất kỳ vọngnhà đầu tư sẽ chọn tài sản (danh mục) có rủi ro thấp hơn
Thiết lập mô hình
Giả sử có danh mục P với tỷ trọng các tài sản i là wi:
' 1
Trang 6Vector U là vector:
1 1
Trong danh mục không có bán khống tức là wi 0
Lợi suất của tài sản i: ~ ( , 2 )
i i
i N R
R với i 1,N
Hiệp phương sai của tài lợi suất tài sản i, j là: Cov R R( ,i j) ij với i j, 1,N
Kí hiệu: ma trận hiệp phương sai lợi suất của N tài sản là:
1, 1,
N p i
1 ' i 1
i N
Mô hình trên là bài toán quy hoạch lồi toàn phương, do đặc điểm của ma trận
V là ma trận xác định dương -> hàm mục tiêu là hàm lồi chặt Điều kiện KuhnTucker vừa là điều kiện cần, vừa là điều kiện đủ
Lập hàm Lagrange:
Trang 7Danh mục tối ưu (P*): W* Có dạng: W* = g + ro*h
Nhận thấy: g, h luôn xác định một cách duy nhất chỉ phụ thuộc vào V
và R do đó nếu các đại lượng này không thay đổi thì g và h không thay đổi.Với mỗi ro cho trước luôn xác định một danh mục tối ưu duy nhất W*(V, R ,
ro) = W*(ro) Một danh mục P* W* gọi là danh mục biên duyên
Khi cho ro thay đổi ro , ta có tập hợp các danh mục biênduyên gọi là tập các danh mục biên duyên
1.2.5.2 Chỉ số đánh giá hiệu quả của danh mục
Chỉ số Sharpe
Trang 8P f P
1.3 Quản lý danh mục đầu tư
1.3.1 Khái niệm quản lý danh mục đầu tư
Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là việc xây dựng một danh mụccác loại chứng khoán, tài sản đầu tư đáp ứng tốt nhất mục tiêu của chủ đầu tư
và sau đó thực hiện theo dõi, điều chỉnh các danh mục này nhằm tái tối ưuhoá danh mục để đạt được các mục tiêu đầu tư đề ra
1.3.2 Chiến lược quản lý danh mục đầu tư
Khi đã có danh mục các nhà đầu tư có chiến lược phù hợp đểquản lý danh mục của mình Thực tế có ba loại chiến lược, đó là:
Trang 9Chiến lược quản lý thụ động: nhà đầu tư mua bán theo một chuẩn mựcnào đó Mục đích của chiến lược này không phải để tạo ra danh mục vượt trội
so với chỉ số chuẩn trên thị trường mà tạo ra một danh mục có số lượng vàchủng loại gần giống với chỉ số chuẩn (chỉ số mục tiêu) để nhằm đạt đượcmức sinh lời dự kiến tương đương với mức sinh lời chuẩn
Khi các nhà đầu tư nhận định, đánh giá về lợi suất và rủi ro của tài sảnđều cho rằng các tài sản đã được định giá đúng và khi đó thay đổi danh mục
sẽ không đem lại lợi ích gì vì vậy họ thực hiện một chiến chiến lược quản lýdanh mục đầu tư thụ động còn gọi là chiến lược mua và nắm giữ
Chiến lược quản lý chủ động là chiến lược quản lý mà nhà đầu tư cho
rằng các tài sản được định giá sai hoặc qua phân tích và dự báo, lợi suất và rủi
ro của tài sản khác với số đông Lúc này, nhà đầu tư quyết định điều chỉnhdanh mục để kiếm lời
Chiến lược quản lý hỗn hợp: chiến lược quản lý thụ động đơn thuần chỉ
có tác dụng đa dạng hoá danh mục, không có tác dụng phòng tránh rủi ro hệthống Để danh mục đạt được các mục tiêu đề ra và phòng tránh được cả rủi
ro hệ thống, các nhà quản lý danh mục một mặt thiết lập danh mục theophương pháp thụ động, một mặt quản lý danh mục theo phương pháp chủđộng
1.4 Phương pháp CANSLIM
1.4.1 Lợi tức trên cổ phần quý hiện tại (Current Quarterly Earings per share)
1.4.1.1 Giới thiệu về chỉ số EPS
Đây là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thôngthường đang được lưu hành trên thị trường EPS được sử dụng như một chỉ sốthể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp, được tính bởi công thức
EPS = (Thu nhập ròng - cổ tức cổ phiếu ưu đãi) / lượng cổ phiếu bìnhquân đang lưu thông
Trong việc tính toán EPS, nên sử dụng lượng cổ phiếu lưu hành bình
Trang 10quân trong kỳ để tính toán vì lượng cổ phiếu thường xuyên thay đổi theo thờigian Tuy nhiên trên thực tế người ta thường hay đơn giản hoá việc tính toánbằng cách sử dụng số cổ phiếu đang lưu hành vào thời điểm cuối kỳ.
1.4.1.2 Cách sử dụng chỉ số EPS theo CANSLIM
Tỷ lệ biến động của EPS là yếu tố riêng rẽ quan trọng nhất trong việclựa chọn cổ phiếu ngày nay Tỷ lệ này có giá trị dương ( tăng trưởng ) càngcao càng tốt Một nhà quản lý tài chính chuyên nghiệp sẽ không đầu tư vàomột cổ phiếu có báo cáo lợi tức mới nhất giậm chân tại chỗ hoặc đi xuống.Ngay cả khi tỷ lệ tăng trưởng lợi tức từ 5% tới 10% cũng không đủ kích hoạtmột giai đoạn tăng giá mạnh của cổ phiếu Việc chú trọng đến tăng trưởng lợitức trong chiến thuật CASLIM sẽ đảm bảo nhà đầu tư luôn luôn được dẫn dắtđến với những cổ phiếu mạnh mẽ trong bất kỳ một chu kỳ thị trường nào, bấtchấp hiện tượng bong bong giá Nhưng cũng nên nhớ, đừng mua chỉ dựa trênmột mình mức tăng trưởng lợi tức
● Đặt ra một mức sàn tối thiểu cho tỷ lệ tăng trưởng lợi tức
Không nên mua bất kỳ cổ phiếu nào mà báo cáo tỷ lệ tăng trưởng lợitức không vượt qua con số 18% trong quý gần nhất so với cùng kỳ năm ngoái
Trong thời kỳ tăng trưởng hãy tập trung vào những cổ phiếu có mứctăng lợi tức mạnh mẽ - từ 40% hoặc cao hơn Để làm tốt hơn nữa trong tiếntrình lựa chọn cổ phiếu hãy dự đoán lợi tức trong một hay hai quý tiếp theo và
so sánh với cùng kỳ năm trước Chú ý xem lợi tức trong các quý sắp tới có thể
sẽ đảo ngược một kết quả lợi tức lớn hoặc nhỏ bất thường trong cùng kỳ nămtrước hay không
Nếu những kết quả bất thường trong năm trước không phải do yếu tốthời vụ gây ra, bước đi này có thể giúp bạn dự đoán một báo cáo lợi tức tốthoặc xấu trong những tháng tiếp theo Ngoài ra cũng không quên tham khảonhững ước lượng lợi tức của một nhóm lớn các nhà phân tích cho một vài quýtiếp theo cũng như một hai năm tới để đảm bảo là công ty mà chúng ta đangquan tâm đang đi trên một lộ trình tích cực
Xem xét các báo cáo về lợi tức, chú ý sự tăng tốc trong tỷ lệ tăng trưởng EPS
Giả sử công ty A chúng ta đang quan tâm báo cáo doanh thu tăng 10%
Trang 11và lợi nhuận tăng 15% Nghe có vẻ tốt? Không chắc,bởi chúng ta không sởhữu toàn bộ công ty đó, mà chỉ sở hữu cổ phần của nó Công ty vừa pha loãng
cổ phiếu bằng cách phát hành thêm hoặc theo cách nào đó, vì vậy EPS (điều
mà chúng ta quan tâm với tư cách là nhà đầu tư có thể chỉ tăng 4% đến 5%
Do đó câu hỏi then chốt dành cho một nhà đầu tư thành công là: Lợi tức trên
cổ phần quý hiện tại tăng bao nhiêu phần trăm so với cùng kỳ năm trước?
Khi tính toán EPS cần loại bỏ những khoản lợi tức bất thường một lầncủa công ty
Khi xem xét các cổ phiếu thành công nhất cho thấy rằng, gần như trongmọi trường hợp, mức tăng trưởng lợi tức gấp đôi trong khoảng mười quýtrước khi cuộc leo thang về giá bắt đầu Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng lợi tứcgiảm mạnh trong hai quý liền có thể là dấu hiệu rắc rối
● Chú ý sự đồng bộ giữa mức tăng trưởng doanh thu và lợi tức
Một chi tiết khác giúp chúng ta củng cố niềm tin vào sự lựa chọn củamình đó là tănng trưởng lợi tức phài được hộ trợ bởi tăng trương về doanh thu(lợi nhuận) Lý giải cho điều này đó là việc con số lợi tức có thể bị thổi phồngtrong một vài quý do sự cắt giảm chi phí hoặc công tác nghiên cứu và pháttriển, do giảm phát, từ các nguồn vốn dự trữ
● Tham khảo biểu đồ tỷ lệ hàng tuần và các cổ phiếu khác trong ngànhCác biểu đồ biểu diễn sự tăng tốc hoặc giảm tốc của tỷ lệ tăng trưởnghàng quý lấy đơn vị là % khi đó sự tăng giảm sẽ được biểu hiện rất rõ Ngoài
ra khi xem xét EPS cần kiểm tra mức lợi tức của các công ty khác trongngành, nếu không tìm ra được một hoặc hai cổ phiếu khác thể hiện mức tănglợi tức mạnh mẽ, có khả năng chúng ta chọn lầm đối tượng đầu tư
1.4.2 Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm (A: Annual Earnings increases) Tìm
sự gia tăng đột biến
1.4.2.1 Tiêu chí về A
Bất kỳ một công ty nào cũng có thể báo cáo một quý có lợi tức tốt vàomột thời điểm nào đó, và mức lợi tức cao trong quý hiện tại là một tiêu chíthen chốt để lựa chọn hầu hết các cổ phiếu thành công nhất trên thị trường.Nhưng điều đó thôi là chưa đủ
Trang 12Để bảo đảm rằng kết quả mới nhất không phải là kết quả hiếm hoi, rằngcông ty mà chúng ta đang quan tâm là một công ty chất lượng,chúng ta phảidựa vào nhiều chứng cớ hơn, một trong số đó là xem xét tỷ lệ tăng trưởng lợitức hàng năm của công ty đó.
Theo CANSLIM thì hãy tìm những cổ phiếu có mức lợi tức trên cổphần hàng năm tăng đều đặn trong suốt ba năm vừa qua,tỷ lệ tăng trưởng nàyphải từ 25% đến 50% hoặc cao hơn Thêm vào đó chúng ta cũng cần quantâm tới lợi suất trên vốn cổ phần (ROE) hàng năm của công ty đang xét,thấpnhất là 17% Lợi suất trên vốn cổ phần giúp phân biệt những công ty đượcđiều hành tốt và những công ty có bộ máy điều hành kém cỏi Ngoài ra, hãytìm những cổ phiếu tăng tiến – có mức quay vòng vốn hàng năm trên mỗi cổphần cao hơn lợi tức thực tế trên mỗi cổ phần ít nhất 20%
1.4.2.2 P/E và việc sử dụng sai ý nghĩa của nó.
● Nhận định chung về P/E
Trong hầu hết các trường hợp, việc tính toán tỷ lệ P/E đều có sử dụngtới chỉ số EPS của 4 quý trước Điều này được hiểu như là một dấu hiệu củaP/E Tuy nhiên, cũng có lúc chỉ số EPS được lấy từ việc ước tính lợi nhuận kìvọng cho 4 quý tiếp theo P/E tính theo cách này được gọi là P/E định hướnghay P/E kế hoạch Một cách tính khác cũng thường được thấy là sử dụng EPScủa hai quý trước đó hoặc ước tính cho hai quý tiếp theo
Trên thực tế thì không có sự khác biệt lớn lắm giữa các cách tính trên.Điều quan trọng là phải nhận ra rằng trong cách tính đầu tiên, bạn sử dụng dữliệu có thật từ hoạt động trong quá khứ của công ty Hai cách tính khác dựavào những tính toán ước lượng, do đó không phải lúc nào cũng hoàn hảo vàchính xác
Nếu một công ty có hệ số P/E cao hơn mức trung bình của toàn bộ thịtrường mức bình quân ngành, điều này có nghĩa là thị trường đang kỳ vọngvào khả năng tăng trưởng tốt của công ty trong một thời gian tới, có thể là vàitháng hoặc vài năm nữa Một công ty có hệ số P/E cao cuối cùng sẽ phải
“xứng đáng với kì vọng của thị trường” thể hiện thông qua sự tăng trưởnglớn về lợi nhuận hoạt động, nếu không chắc chắn giá cổ phiếu của công ty đó
Trang 13sẽ giảm Tất nhiên trên thị trường khi một cổ phiếu được bán với giá gấp
30-40 lần lợi tức (P/E cỡ 30 đến 30-40) thì chắc chắn phải có lý do riêng và do thịtrường tự quyết định, vì vào thời điểm nào cũng vậy, mọi cổ phiếu đều đượcmua bán với giá gần với giá trị thực của chúng Thế nên, nếu chỉ nhìn con sốtuyệt đối P/E của một mã cổ phiếu thấy quá cao, có thể chúng ta đã bỏ lỡ sựtăng giá phi mã của PVD từ 120 (P/E là 140) lên 310
Một trường hợp khác, cổ phiếu có chỉ số P/E cao là vì một lý do nào đóthu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) rất nhỏ, dù thị giá của cổ phiếu này khôngcao nên người ta chấp nhận với kỳ vọng EPS được cải thiện, giá cổ phiếu sẽtăng Chú ý rằng việc so sánh chỉ số P/E cao thấp giữa hai ngành khác nhau làkhập khiễng vì mỗi ngành có các đặc thù riêng Chẳng hạn các ngành ngânhàng, bán lẻ, đầu tư tài chính, công nghệ thông tin được các nhà đầu tư chấpnhận với chỉ số P/E cao, các ngành sản xuất cơ bản như cơ khí, sản xuất giấyđược chấp nhận với hệ số P/E thấp hơn
● P/E thấp
Xảy ra ở TTCK giảm giá mạnh, ngủ đông nhiều năm liền hoặc nềnkinh tế tăng trưởng rất chậm hay đang trên đà suy thoái Chỉ số P/E thấp cũngnằm trong một số ngành không có tiềm năng phát triển hoặc ở cổ phiếu củacác công ty yếu kém, đội sổ trong một ngành, hoặc các cổ phiếu không được
sự quan tâm nắm giữ của các tổ chức Lời khuyên của các chuyên gia chứngkhoán là tập trung vào các cổ phiếu có chỉ số P/E thấp, tuy nhiên điều nàykhông hoàn toàn đúng Bất kỳ ai mua một chứng khoán cũng tìm kiếm lợi
Trang 14nhuận đến từ hai nguồn: cổ tức và sự tăng giá của cổ phiếu Thông thường lợinhuận đến từ việc tăng giá cổ phiếu gấp hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàngngàn lần lợi nhuận thu được từ nguồn cổ tức Vì thế, nếu quan tâm quá mứcđến việc bỏ ra bao nhiêu đồng để có một đồng cổ tức (tức là bạn chỉ chấpnhận các cổ phiếu có chỉ số P/E thấp) có thể bạn bỏ mất cơ hội thu được lợinhuận lớn từ viêc tăng giá phi mã của cổ phiếu có chỉ số P/E cao.
● P/E và những mặt hạn chế
Chúng ta biết được rằng trong một số trường hợp nhất định, P/E có thểgiúp xác định xem liệu một công ty có được đánh giá quá cao hoặc đang bịđịnh giá thấp hay không Nhưng việc phân tích tỷ lệ P/E cũng chỉ có giá trịtrong một số trường hợp nào nhất định và việc phân tích nà vẫn có những
“cạm bẫy” Một vài nhân tố có thể khiến cho việc phân tích P/E trở nên vô íchbao gồm:
Hoạt động kế toán: Lợi nhuận ròng là một chỉ số kế toán bao gồm cảnhững khoản mục phi tiền tệ Hơn nữa việc tính toán lợi nhuận doanh nghiệp
bị chi phối bởi các nguyên tắc kế toán Mà các nguyên tắc kế toán (GAAP) cóthể thay đổi theo thời gian, cũng có sự khác biệt giữa các quốc gia Để khiếncho mọi việc thêm phức tạp, EPS có thể bị bóp méo, hoặc ẩn chứa dưới nhiềucon số, phụ thuộc vào cách thức làm sổ sách kế toán của doanh nghiệp nhưthế nào Và kết quả là chúng ta vẫn không thể biết được liệu có so sánh đúngnhững số liệu này không, thông thường việc tuân thủ các nguyên tắc kế toán(GAAP) mà những nguyên tắc này thay đổi theo thời gian và khác nhau trongtừng nước
Lạm phát: Trong thời gian lạm phát cao, hàng tồn kho và chi phí khấuhao có khuynh hướng giảm đi vì chi phí thay thế hàng hoá và trang thiết bịtăng theo mức giá chung của thị trường Do đó, tỷ lệ P/E có khuynh hướngthấp hơn trong suốt thời gian lạm phát cao bởi lợi nhuận đã bị bóp méo đi, lớnhơn với con số thực tế Cũng như tất cả các chỉ số khác, việc xem xét P/Etrong một thời gian để xác định xu hướng sẽ hữu ích hơn nhiều Lạm phát sẽkhiến cho việc theo dõi trở nên khó khăn vì thông tin trong quá khứ sẽ khôngcòn phù hợp với điều kiện hiện tại nữa
Trang 15● Việc sử dụng sai ý nghĩa của hệ số P/E
Một cách vận dụng tỷ số P/E sai lầm mà cả nhà đầu tư nghiệp dư lẫnchuyên nghiệp đều mắc phải là đánh giá các cổ phiếu trong cùng một nghànhrồi kết luận rằng cổ phiếu nào được bán ở tỷ số P/E thấp nhất luôn có giá rẻhơn giá trị thật và do đó là mục tiêu hấp dẫn nhất để mua vào.Thực ra tỷ số P/
E thấp thường thuộc về các cổ phiếu “hãi hùng” nhất,và đó là lý do nó đượcbán với giá thấp nhất
1.4.3 N: Sản phẩm mới,lãnh đạo mới,đỉnh giá mới (New Products, New qualified Management, new highs)
Thực tiễn cho thấy, giá cổ phiếu tăng thường gắn với một điều gì đómới mẻ từ công ty Đó có thể là một sản phẩm hoặc dich vụ mới quan trọngđược bán chạy và khiến mức tăng trưởng lợi tức tăng lên một tỷ lệ cao hơn Hoặc đó có thể là một sự thay đổi về mặt quản lý giúp tạo ra nguồn sinh khímới, những ý tưởng mới ,hoặc ít nhất là một vị lãnh đạo mới muốn dọn dẹpsạch sẽ những tồn tại của cơ quan Những điều kiện mới của nghành côngnghiệp - chẳng hạn như sự thiếu hụt sản lượng ,tăng giá ,hoặc những côngnghiệp mang tính cách mạng – có thể tác động lên đa số cổ phiếu trongnghành công nghiệp đó
1.4.4 S: Quy luật cung cầu của cổ phiếu (Supply and Demand)
Quy luật cung cầu quyết định giá cả của gần như tất cả các thứ trongđời sống hàng ngày của bạn Chẳng hạn như ở ,các cửa hàng tạp hóa ,cái giá
mà bạn phải trả cho rau diếp ,cà chua ,trứng và thịt bò phụ thuộc vào cửahàng đó có bao nhiêu sản phẩm của mỗi loại và có bao nhiêu người muốnmua sản phẩm đó Quy luật này tác động lên giá của thực phẩm và hàng tiêudung của tất cả các nước trên thế giới Ở một số nước lượng hàng do chínhquyền cung cấp luôn luôn thiếu thốn và hấu như chỉ đủ cung cấp cho tầng lớpđược ưu tiên hoặc chỉ có mặt trên thị trường chợ đen để dành cho nhữngngười nào có thể trả nổi cái giá cắt cổ Quy luật căn bản về mối quan hệ giữacung và cầu này cũng được áp dụng đối với thị trường chứng khoán, và ở đây
nó mang tầm quan trọng lớn hơn tất cả các quan điểm cá nhân của mọi nhàphân tích phố wall
Trang 161.4.4.1 Lượng cổ phiếu được cung cấp lớn hay nhỏ.
Giá của một cổ phiếu phổ thông có tới 5 tỉ cổ phần trên thị trường khólòng nhúc nhích vì nó có nguồn cung ứng quá lớn loại cổ phiếu này cần đếnmột lượng mua vào ,hay nhu cầu ,cực lớn để có thể tạo ra một chuyển biếntăng trưởng đáng kể về giá
Trái lại ,nếu có một công ty chỉ có 50 triệu cổ phần được phát hàng trênthị trường ,một nguồn cung ứng tương đối nhỏ thì chỉ cần mua vào hoặc nhucầu tương đối cũng có thể đẩy giá tăng mạnh Nếu bạn phải chọn lựa cổphiếu có tổng số phát hành là 5 tỷ và một cổ phiếu có 50 triệu cổ phần để mua,thì thông thường cổ phiếu có số lượng cổ phần nhỏ hơn sẽ là ừng cử viên tốthơn ,nếu những nhân tố khác ngang bằng nhau Tuy nhiên vì cổ phiếu huyđộng vốn nhỏ mang tính đậm đặc hơn nên chúng có thể rớt giá cũng nhanhnhư khi lên giá Nói cách khác ,đi kèm theo cơ hội lớn là sự gia tăng tỉ lệ rủi
do đáng kể Nhưng vẫn có những phương pháp chắc chắn để giảm mức rủi docho bạn Những công ty trong đó các nhà quản lý cao cấp sở hữu một tỉ lệ lớn
cổ phần (ít nhất 2% hoặc 3% đối với các công ty lớn và cao hơn đối vớinhững công ty nhỏ ) thông thường là các ứng cử viên tốt hơn dành cho bạnbởi lẽ chúng ta có một tỉ lệ cổ phiếu phi giao dịch
1.4.4.2 Tách cổ phần quá mức có thế gây ảnh hưởng xấu
Việc chia nhỏ cổ phần quá mức sẽ tạo ra một nguồn cung ứng lớn hơn
và có thể đẩy công ty vào tình trạng nặng nề và uể oải sớm hơn
Có lẽ việc một công ty có cổ phiếu đang tăng giá trong vòng một hoặchai năm quyết định chia nhỏ cổ phần của mình vào thời điểm gần cuồi giaiđoạn thị trường tăng trưởng hoặc cầu thị trường suy thoái là không khônngoan Thế nhưng đây chính xác là điều mà nhiều công ty lớn vẫn thực hiện
Nói chung , các công ty cảm thấy giữ giá cổ phiếu thấp sẽ hấp dẫn đượcnhiều người mua hơn Điều này có thể đúng với người mua nhỏ ,nhưng có thểgây ra kết quả trái ngược có nhiều người bán hơn đặc biệt nếu đó là lần tách
cổ phần một năm trong vòng một hoặc hai năm Các chuyên gia am tường vàmột số ít các nhà đầu tư cá nhân khôn ngoan có thể sẽ coi sự kích thích sinh
Trang 17ra do động thái tách cổ phần như một cơ hội để bán cổ phiếu ra kiếm lời.
1.4.4.3 Tìm những công ty đang mua cổ phiếu của chính họ trên thị trường tự do
Trong đa số ( nhưng không phải tất cả ) trường hợp ,thông thường cóthể coi dấu hiệu tốt khi thấy một công ty và đặc biệt là công ty thuộc loại vừahoặc nhỏ có thành tích tăng trưởng thỏa mãn , điều kiện CANSLIM (hay còngọi là thu hồi )cổ phiếu của chính nó trên thị trường tự do sau một khoảngthời gian thích hợp (Mua lại một tỉ lệ 10% có thể coi là nhiều ) Điều này làmgiảm số cổ phần lưu hành trên thị trường và hàm ý rằng công ty đó đang trôngđợi sự tăng trưởng về doanh thu và lợi tức trong tương lai
Kết quả của động thái thu hồi cổ phiếu này là lợi nhuận ròng công ty sẽđược chia một số loại cổ phấn nhỏ hơn, và do đó làm tăng giá trị lợi tức trên
cổ phần Như chúng ta đã đề cập ,tỉ lệ tăng trưởng của giá trị lợi tức trên cổphần một động lực chủ chốt đứng đằng sau những cổ phiếu ngoại hạng
1.4.4.4 Tỉ suất nợ thấp là dấu hiệu tốt
Một công ty đã và đang cắt giảm tỉ suất nợ của nó trong hai hoặc banăm vừa qua là rất đáng chú ý Nếu không có sự tác động của nhân tố khác thìkhoản lãi vay phải trả sẽ giảm mạnh ,giúp tạo ra giá trị lợi tức trên cổ phầncao hơn
Bên cạnh đó ,sự góp mặt của các loại trái phiếu khả chuyển (có thể chuyểnđổi thành nhiều cổ phiếu phổ thông ) trong cấu trúc vồn có thể làm “loãng “giá trị lợi tức nếu và khi các trái phiếu đó được chuyển thành cổ phiếu phổthông
1.4.4.5 Đánh giá cung
Cách tốt nhất để ước lượng tình hình cung và cầu của một số cổ phiếu
là bằng cách theo dõi số lượng cổ phần giao dịch hàng ngày của nó Khi một
cổ phiếu giảm giá ,bạn sẽ muốn thấy khối lượng giao dịch của nó không tăngthể hiện không có áp lực bán ra đáng kể Ngược lại ,khi nó tăng giá, bạn sẽmuốn thấy khối lượng giao dịch tăng lên, thông thường thể hiện vận động thumua của các tổ chức lớn
1.4.5 Dẫn đầu đội sổ (L: Leader/Laggard)
Trang 18Cách phân biệt các cổ phiếu dẫn đầu với những kẻ đội sổ :Sử dụng chỉ
số sức mạnh giá tương đối
Nếu sở hữu một danh mục đầu tư cổ phiếu, bạn phải học cách bánnhững cổ phiếu kém cỏi nhất trước khi giữ lại những cổ phiếu tốt nhất lâuhơn Nói cách khác, luôn luôn bán những cổ phiếu thua lỗ và sai lầm, đồngthời theo dõi những lựa chọn tốt hơn của bạn để xem liệu chúng có tiến triểnthành những thắng lợi của bạn hay không Có một cách nhanh chóng và dễdàng để xác định cổ phiếu của bạn là một người dẫn đầu hay một kẻ đội
sổ :hãy kiểm tra chỉ số sức mạnh già tương đối (Relative price Strength_RS)trong IBD Chỉ số RS được định nghĩa như sau:
Một chỉ số độc quyền nhằm tính toán thành tích về giá của một cổ phiếu cho trước so với phấn còn lại của thị trường trong 52 tuần gần nhất Mỗi cổ phiếu được gán một điểm số đánh giá từ 1 đến 99 ,với 99 là tốt nhất Một chỉ
số RS=99 nghĩa là cổ phiếu đang xét ưu việt hơn 99% tất cả các công ty khác
Hãy tìm những cổ phiếu “cường tráng “ bất thường trên thị trường suy thoái
1.4.6 Sự bảo trợ của các tổ chức (I: Institutional Sponsorship)
Trang 19Khái niệm sự bảo trợ của các tổ chức dùng để chỉ lượng cổ phần củamột cổ phiếu thuộc quyền sở hữu của các tổ chức, chẳng hạn như quỹ đầu tưtín khác, quỹ hưu bổng các doanh nghiệp, công ty bảo hiểm, nhà cố vấn đầu
tư lớn, quỹ đầu tư hợp tác ,bộ phận đầu tư tín khác của ngân hàng cùng với tổchức của nhà nước, từ thiện và giáo dục, một cổ phiếu thành công không cầnphải có thật nhiều cổ đông tổ chức, nhưng phải có ít nhất vài cổ đông Nếumột cổ phiếu không có được sự bảo trợ chuyên nghiệp ,nhiều khả năng thànhtích của nó sẽ rất tầm thường Phải có ít nhất vài chục trong số hơn một nghìnnhà đầu tư hiện nay để mắt tới cổ phiếu đang xét và mua nó Ngay cả nếu họsai lầm thì số lượng lớn cổ phần mà họ mua vào vẫn có thể kích thích một đợttăng giá quan trọng
1.4.6.1 Chú ý cả chất lượng lẫn số lượng
Các nhà đầu tư cần mẫn còn đào sâu hơn một bậc Họ không chỉ muốnbiết một cổ phiếu đang có bao nhiêu nhà bảo trợ tổ chức và số lượng đó cótăng lên trong những quý gần đây hay không, mà họ còn muốn biết những nhàbảo trợ đó là ai Họ tìm kiếm những cổ phiếu được sở hữu bởi ít nhất là mộthoặc hai trong số những nhà quản lý tài chính khôn ngoan có thành tích xuất
sắc nhất Yếu tố này được gọi là chất lượng của sự bảo trợ Khi phân tích chất
lượng của sự bảo trợ dành cho một cổ phiếu, thành tích trong 12 tháng gầnnhất cộng với giai đoạn ba năm vừa qua của một nhà bảo trợ tổ chức thường
tỏ ra chính xác nhất Một cách nhanh chóng và dễ dàng thực hiện việc này làkiểm tra thành tích trong 36 tháng của một quỹ bất kì trên nhật báo kinhdoanh của nhà đầu tư Điểm đánh giá A+ cho biết quỹ đang xét nằm trong số
5 % xuất sắc nhất về mặt thành tích trong tất cả các quỹ đầu tư Những quỹđược đánh giá A- trở lên có thể coi là ứng cử viên tốt của bạn Tuynhiên ,những kết quả này có thể sẽ thay đổi đáng kể nếu các nhà quản lý chủchốt rời khỏi một công ty tài chính để sang đầu quân cho một công ty khác
1.4.6.2 Mua những công ty có số lượng tổ chức bảo trợ tăng lên.
Như đã đề cập ở trên, việc có bao nhiêu tổ chức bảo trợ sở hữu cổphiếu không quan trọng bằng việc có ai trong số những tổ chức có thành tích
Trang 20tốt nhất sở hữu hoặc mới mua cổ phiếu đó gần đây không Một yếu tố thenchốt khác cần biết là tổng số nhà bảo trợ đang tăng lên hay giảm đi Chi tiếtchính là yếu tố cần tìm hiểu là xu hướng trong quý gần nhất Mua những cổphiếu có số lượng cổ đông tăng đều trong vài quý vừa qua luôn luôn tốt nhất.
1.4.6.3 Chú ý những khoản đầu tư củng cố vị trí trong quý gần nhất
Một khoản đầu tư mới của một tổ chức bảo trợ hiện tại được thực hiệntrong quý gần nhất thông thường quan trong hơn so với khoản đầu tư đã kéodài một thời gian Đó là khi một quỹ gia tăng nguồn vốn để củng cố vị trí đầu
tư ,nhiều cơ hội nó sẽ tiếp tục hành động như vậy sẽ ít có khả nằng bán cổphiếu ra trong tương lai gần Trong thời gian ngắn nhất và hãy đầu tư vàonhững cổ phiếu có tổng số cổ đông tổ chức tăng lên trong các quý gần nhất.Hãy tận dụng sự bảo trợ của các tổ chức và luôn luôn biến nó thành một công
cụ cực kì quan trọng khi nghiên cứu một cổ phiếu để mua
1.4.7 Market Trend (Xu hướng thị trường)
Đầy là một tiêu chí quan trọng của CANSLIM tuy nhiên nó không nằm trongtiêu chí lựa chọn cổ phiếu nên không trình bầy ở chuyên đề này
1.5 Giới thiệu về một số chỉ báo trong phân tích kỹ thuật
Tác giả sẽ giới thiệu về cách sử dụng một số chỉ báo như : đườngMACD, dải Bollinger,chỉ số RSI
3.1.1 Đường MACD
3.1.1.1 Ý nghĩa
MACD là chỉ số kỹ thuật theo dõi sự biến động của xu hướng và chỉ rahướng biến động xu hướng của giá chứng khoán Khởi đầu, chỉ số này đượcthiết kế để quan sát chu kỳ biến động đối với 26 và 13 tuần Sự giao độngquang đường 0 của 2 đương trung bình trượt mũ MACD nhanh và MACDchậm thể hiện dấu hiệu mua quá mức và bán quá mức để nhà đầu tư quyếtđịnh mua và bán chứng khoán
3.1.4.2 Cách xác định
Đường MACD nhanh: Là chênh lệch giữa trung bình trượt mũ ngắn
Trang 21hạn và trung bình trượt mũ dài hạn của giá với hệ số làm trơn tương ứng vớicác chu kỳ 12/13 và 26 phiên của EMA thông thường.
MACD nhanh = EMA (26) – EMA (13)
Hệ số làm trơn ( Smoothing factor) = 2/n+1Trong đó n là số phiên
Thời điểm mua vào bán ra:
● Dấu hiệu bán ra: Khi đường MACD nhanh chuyển động từ trên xuốngdưới và cắt đường MACD chậm và cả hai đều có giá trị dương Giaođiểm này trên đường 0 và càng cách xa điểm 0 thì dấu hiệu bán ra càngđược khẳng định Không xác định dấu hiệu nếu giao điểm có giá trị âm
● Dấu hiệu mua vào: Khi đường MACD nhanh chuyển động từ dưới lêntrên, cắt đường MACD chậm và cả hai đều có giá trị âm Giao điểmnày dưới đường 0 và càng cách xa điểm 0 thì dấu hiệu mua vào càngđược khẳng định Không xác định dấu hiệu nếu giao điểm có giá trịdương
Xác định xu thế thị trường:
○ Trên cơ sở chênh lệch giữa 2 đường MACD nhanh và MACDchậm, xác định được đường “forest line” Đây là một công cụ kỹ
Trang 22thuật quan trọng để dự đoán xu thế thị trường
○ Các giá liên tiếp cao nhất (hoặc thấp nhất ) của thị trường tươngứng với các điểm cao nhất ( hoặc thấp nhất ) của MACD
○ Sự khác biệt giữa MACD và giá cả thị trường được coi là dấuhiệu cho sự biến động đảo chiều của chứng khoán
3.1.2 Đường RSI
3.1.2.1 Ý nghĩa
RSI dùng để đo tỉ lệ của các biến động đi lên và các biến động đi xuốngcủa giá chứng khoán và phổ thông hoá các tính toán nhằm làm cho chỉ số thểhiện trong phạm vi khoảng điểm từ 0 – 100 RSI là công cụ dùng để so sánhmột cách tương đối với chính các giá quá khứ của nó Nó không dùng để sosánh với các công cụ khác
Điểm mua quá mức và điểm bán quá mức Nếu RSI đạt đến mức 70/80
ta nói chứng khoán này đã đạt đến mức mua quá mức Tại mức này, nhà đầu
tư cần thận trọng khi đặt lệnh mua Nếu RSI rơi xuống dưới mức 30/20 thìchứng khoán được coi là ở mức bán quá mức Tại thời điểm này nhà đầu tưcần có những quyết định thận trọng khi đặt lệnh bán
Đỉnh/ Đáy : RSI ở mức 80/70 được coi là đỉnh điểm và giá của chứng
khoán sẽ giảm sau khi đạt được mức đỉnh này Ngược lại, 20/30 được coi làđiểm đáy RSI Sau điểm này thì giá chứng khoán sẽ hồi phục trở lại Cần lưu
Trang 23ý rằng, việc phân tích chỉ số RSI chỉ là một trong những dấu hiệu chứng tỏ
mức đỉnh hoặc mức đáy, cần kết hợp việc phân tích các chỉ số khác Pattern:
Các dấu hiệu nhận biết xu hướng điển hình như đầu-vai, đỉnh-đáy, pennants
được thể hiện rõ hơn ở biểu đồ RSI hơn là biểu đồ giá Divergence: Sự khác
biệt giữa RSI và biến động giá chứng khoán thường được xem như một dấuhiệu rõ ràng chứng tỏ sắp có một sự biến động đảo chiều của chứng khoán
3.1.3 Dải Bollinger Band 3.1.3.1 Ý nghĩa
Các đường BB cũng tương tự như các đường bao trung bình trượt (MAenvelopes), chúng được xây dựng trên cơ sở đường trung bình trượt (MA), dovậy chúng đều có ý nghĩa là đưa ra dự báo về xu hướng biến động giá trongtương lại dựa vào những số liệu thu thập được trong quá khứ Điểm khác biệtgiữa đường BB và đường bao trung bình trượt là:Các đường Upper Band(UB) và Lower Band (LB) được hình thành bằng cách nối các điểm phía trên
và phía dưới cách đường trung bình trượt (hay đường MB) một khoảng cách bằng D lần độ lệch chuẩn Các đường bao trung bình trượt được hình thành
bằng cách nối các điểm phía trên và phía dưới cách đường trung bình trượt
một khoảng bằng x% (x là số cố định do người phân tích lựa chọn) Vì độ
lệch chuẩn là thước đo của mức độ biến động giá, nên đường BB sẽ thay đổikhi giá chứng khoán biến động: Khoảng cách giữa đường UB và LB sẽ nớirộng khi thị trường biến động và thu hẹp trong giai đoạn ổn định của thịtrường
Average Đường trung bình trượt
UB Upper Band Đường Bollinger nằm phía trên
MB Middle Band Đường Bollinger nằm giữa (cách tính tương tự như đường MA)
LB Lower Band Đường Bollinger phía dưới
Trang 24và D=2 Trong quá trình xây dựng và ứng dụng các đường BB, nếu sử dụng n
≤10 thì các đường BB sẽ cho kết quả không chính xác
đường giá sẽ biến động ngược lại với xu thế hiện thời (xem hình vẽ)
A: Các điểm cực đại
B: Các điểm cực tiểu
Trang 25xu thế giá
Hình 3.3: Dải Bollinger Bands
Trang 26CHƯƠNG II: XÁC ĐỊNH DANH MỤC ĐẦU TƯ
2.1 Phương pháp CANSLIM hiệu chỉnh (Bộ lọc cổ phiếu)
2.11 Chỉ tiêu về ngành, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp
Vào mỗi giai đoạn khác nhau của nền kinh tế sẽ có những ngành có khảnăng phát triển khác nhau Do đó, cần luôn theo dõi sát sao biến động kinh tế
vĩ mô để lựa chọn ngành để đầu tư một cách phù hợp Ví dụ, giai đoạn vừa
qua khi nền kinh tế VN chịu ảnh hưởng nặng nề của lạm phát và nhập siêu thìnhững ngành như phát triển cơ sở hạ tầng, sản xuất vật liệu xây dựng, nănglượng hay những ngành xuất khẩu thu ngoại tệ dựa trên nguồn nguyên vật liệutrong nước như cao su, café…) là những ngành được ưu tiên để đầu tư Khinền kinh tế phát triển mạnh, thì khối tài chính, ngân hàng, bất động sản lại làlựa chọn tốt
2.1.2 Chỉ tiêu về vị thế công ty trong ngành, chiến lược phát triển
Chỉ tiêu này tương ứng tiêu chuẩn L, N trong Canslim Cần xem xét thị
phần, thương hiệu của doanh nghiệp trong ngành, chiến lược phát triển cácsản phẩm mới hay công nghệ mới
2.1.3 Chỉ tiêu về cơ cấu cổ đông, Ban lãnh đạo
Cơ cấu sở hữu của cổ phiếu phải có cổ đông là các tổ chức, các địnhchế tài chính lớn Ban lãnh đạo phải có nhiều kinh nghiệm, năng động, sángtạo, đã từng trải qua nhiều vị trí quan trọng tương đương với vị trí hiện tại.2.1.4 Chỉ tiêu tài chính
● Chỉ tiêu về kết cấu tài sản
Chọn doanh nghiệp có cơ cấu tài sản cố định lớn vì tài sản tạo ra EBIT,doanh nghiệp có kết cấu TSCĐ lớn có khả năng tạo lợi nhuận lớn và đặc biệt
là gia tăng giá trị doanh nghiệp trong dài hạn TSCĐ lớn cũng đồng nghĩa vớikhấu hao lớn, khấu hao lớn sẽ cho phép doanh nghiệp tăng dòng tiền, giảmthuế, tránh hao mòn vô hình và mau chóng thay đổi công nghệ
Ngoài ra kết cấu tài sản phải hợp lý: tài sản dài hạn phải được đảm bảo
bằng nguồn vốn dài hạn, tài sản ngắn hạn bằng nguồn vốn ngắn hạn và doanh
Trang 27nghiệp phải đảm bảo được nguồn Vốn lưu động thường xuyên (VCSH + Vaydài hạn – tài sản dài hạn)
● Chỉ tiêu về cơ cấu vốn:
Tập trung vào doanh nghiệp có hệ số nợ cao nhưng đảm bảo khả năng
thanh toán vì ROE = ROI / (1-vay/nguồn vốn) = ROI/(1- hệ số nợ) Hệ số nợ
cao cho phép tăng tối đa ROE, tăng giá trị sử dụng tài sản, tăng tốc độ tăngtrưởng, tránh lạm phát, tiết kiệm thuế từ lãi vay
Mặt khác ROE = [ROA + Nợ/VCSH x (ROA – r)] x (1-t) trong đó t làthuế TNDN
Hệ số nợ càng cao sẽ đem lại tỷ suất ROE càng cao Chỉ cần ROA> chiphí lãi vay thì có thể đẩy hệ số nợ lên max để tối đa hoá tỷ suất sinh lời của cổphiếu
● Chỉ tiêu về tăng trưởng (g-tuơng ứng chỉ tiêu C, A trong Canslim)Giá cổ phiếu tỷ lệ thuận với g vì Giá cổ phiếu = Cổ tức năm sau / (r-g)trong đó r là lãi suất chiết khấu
g = ROE x k (hệ số lợi nhuận giữ lại)
= Doanh thu/Tài sản x Lợi nhuận/Tài sản x Tài sản/VCSH x k = vòng quay vốn x ROS x 1/(1-hệ số nợ) x k
Do đó, 1 hệ số nợ cao sẽ có khả năng tạo ra hệ số tăng trưởng cao
● Chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Các chỉ tiêu này phải đảm bảo lớn hơn một
Khả năng thanh toán nhanh = (TSNH – Hàng tồn kho)/Nợ ngắn hạnKhả năng thanh toán ngắn hạn = TSNH/Nợ ngắn hạn
● Chỉ tiêu sinh lời: ROE, ROA, Profit margin
● Chỉ tiêu thị trường: EPS, P/E, P/B (tiêu chuẩn C, A trong Canslim)
● Cơ cấu đầu tư tài chính, đầu tư BĐS
2.1.5 Chỉ tiêu về hỗ trợ từ các nhà đầu tư, tổ chức lớn
Dựa vào quy mô lệnh mua, bán bình quân của cổ phiếu Nếu con số này
Trang 28lớn cho thấy cổ phiếu thường được giao dịch bởi các tổ chức và nhà đầu tưlớn.
2.1.6 Tỷ lệ vốn hoá thị trường:
Tuỳ vào từng thời điểm mà tiêu chí lựa chon sẽ khác nhau Những cổ phiếu
có vốn hoá nhỏ nhưng thanh khoản và có suất sinh lời cao thường có biếnđộng về giá rất lớn và dễ bị làm giá Trong trường hợp thị trường lên, đầu tưvào các cổ phiếu này là một lựa chon không tồi Ngược lại, trong trường hợpkhông rõ xu hướng thị trường, hay thị trường tăng nhưng tiềm ẩn nhiều rủi rothì đầu tư vào Top 20 cổ phiếu vốn hoá lớn nhất thị trường sẽ là khôn ngoanhơn
2.2 Xác định danh mục đầu tư
2.2.1 Xác định cổ phiếu trong danh mục
Để có được danh mục theo các tiêu chí ở trên (theo phương phápCANSLIM ở hiệu chỉnh), nguồn dữ liệu cung cấp cho việc chọn cổ phiếuđược lấy trên thị trường Sử dụng bảng thống kê giao dịch hàng ngày trên haisàn tính đến ngày 7/2/2009, bảng tỷ trọng vốn hóa thị trường, dữ liệu trongbáo cáo tài chính quý, năm của các công ty, có thể chọn được danh sách gồm
7 cổ phiếu: BCI, CII, DIG, HAG, ITA, NTL, OGC
2.2.2 Giới thiệu các cổ phiếu trong danh mục
*BCI:
Tên pháp định: công ty cổ phần đầu tư xây dựng Bình Chánh
Lĩnh vực kinh doanh:
- Kinh doanh bất động sản, thiết kế, thi công
- Đầu tư, xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp
- Cao ốc văn phòng cho thuê Dịch vụ bất động sản
Trang 29Một số chỉ tiêu của BCI:
- Kết hợp cùng các doanh nghiệp khác đầu tư vào các dự án kinh doanh địa ốc
Sản phẩm của công ty là các cơ sở hạ tầng kỹ thuật như Cầu, đường, các thiết
bị tiêu dùng trong lĩnh vực thu phí giao thông và xây dựng Các dịch vụ tưvấn, đầu tư tài chính và các dịch vụ khác
Một số chỉ tiêu của công ty:
Trang 30Lĩnh vực kinh doanh:
- Sản xuất và kinh doanh xi măng
- Clinker, vật liệu xây dựng
- Xây lắp các công trình xây dựng dân dụng; công nghiệp, giao thông, thủylợi; san lấp mặt bằng
Một số chỉ tiêu của công ty:
- Đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng đô thị và khu công nghiệp
- Dịch vụ tư vấn xây dựng và đầu thầu các công trình
- Khai thác mỏ, sản xuất vật liệu xây dựng
- Chế tạo và lắp đặt các cấu kiện cơ khí, xây dựng, phụ tùng, ô tô, phụ tùngmáy xây dựng và xe máy
- Xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị công nghệ xây dựng
- Kinh doanh vận tải hàng hóa, xăng, dầu, mỡ; bất động sản và văn phòng chothuê
Một số chỉ tiêu của công ty: