1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích dấu hiệu pháp lý của tội cưỡng dâm theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015

11 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích dấu hiệu pháp lý của tội cưỡng dâm theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015
Tác giả Phạm Hương Ly
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Bài thi kết thúc học phần
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 561,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: LUẬT HÌNH SỰ 2 Đề bài số 01: Phân tích dấu hiệu pháp lý của tội cưỡng dâm theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: LUẬT HÌNH SỰ 2 Đề bài số 01: Phân tích dấu hiệu pháp lý của tội cưỡng dâm theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: LUẬT HÌNH SỰ 2 Đề bài số 01: Phân tích dấu hiệu pháp lý của tội cưỡng dâm theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN

MÔN: LUẬT HÌNH SỰ 2

Đ

ề bài số 01:

Phân tích dấu hiệu pháp lý của tội cưỡng dâm theo

quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I Quy định của Bộ luật Hình sự 2015 về tội cưỡng dâm 1

II Dấu hiệu pháp lý của tội cưỡng dâm 2

1 Dấu hiệu khách thể của tội cưỡng dâm 2

2 Dấu hiệu chủ thể của tội cưỡng dâm 4

3 Dấu hiệu mặt khách quan của tội cưỡng dâm 5

4 Dấu hiệu mặt chủ quan của tội cưỡng dâm 7

KẾT LUẬN 8

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9

Trang 3

MỞ ĐẦU

Xã hội đổi mới, đời sống được nâng cao, giao lưu văn hóa rộng mở, nhưng bên cạnh đó các tệ nạn xã hội nước ta ngày một tăng cao và đặc biệt gia tăng các tội phạm tình dục, trong đó có tệ nạn cưỡng dâm đang ở mức độ đáng báo động Hành vi cưỡng dâm không chỉ gây ảnh hưởng đến sức khỏe của nạn nhân mà còn gây ra những tổn thương về tâm lý khó hồi phục Đây được coi là những hành vi gây nguy hiểm cho con người và xã hội, cần được xử lý nghiêm minh Việc áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự 2015 về tội cưỡng dâm đã góp phần tăng hiệu quả đấu tranh chống tội phạm này trên thực tế

NỘI DUNG

I Quy định của Bộ luật Hình sự 2015 về tội cưỡng dâm

Theo điều 143 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội cưỡng dâm:

“1 Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Nhiều người cưỡng dâm một người;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Có tính chất loạn luân;

đ) Làm nạn nhân có thai;

e) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 18 năm:

Trang 4

a) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4 Cưỡng dâm người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 02 năm đến

07 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Tội cưỡng dâm được quy định là hành vi dùng mọi thủ đoạn ép buộc người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình đục khác

Để đánh giá thực trạng trong thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội cưỡng dâm, ta cần phân tích các dấu hiệu pháp lý để làm rõ cũng như xác định tội danh, đồng thời nhằm nâng cao hiệu quả của quy định này trong việc đấu tranh chống tội cưỡng dâm

II Dấu hiệu pháp lý của tội cưỡng dâm

Các dấu hiệu pháp lý của tội cưỡng dâm chính là những dấu hiệu đặc trưng cho tội cưỡng dâm được quy định trong luật hình sự, bao gồm: Dấu hiệu khách thể của tội cưỡng dâm, dấu hiệu chủ thể của tội cưỡng dâm, dấu hiệu mặt khách quan của tội cưỡng dâm và dấu hiệu mặt chủ quan của tội cưỡng dâm

1 Dấu hiệu khách thể của tội cưỡng dâm

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại Khách thể của tội cưỡng dâm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm cưỡng dâm xâm hại – đó là quyền nhân thân của con người, cụ thể là quyền được tôn trọng về nhân phẩm, danh dự

Trang 5

Khách thể của tội cưỡng dâm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm cưỡng dâm xâm hại - đó là quyền nhân thân của con người, cụ thể là quyền được tôn trọng về nhân phẩm, danh dự

Đối tượng tác động của tội phạm cưỡng dâm là người bị lệ thuộc vào người phạm tội hoặc là người đang ở trong tình trạng quẫn bách

Mối quan hệ lệ thuộc mà nạn nhân chịu sự phụ thuộc vào người phạm tội cũng giống như sự lệ thuộc trong các tội “Hành hạ người khác”, tội “Bức tử” bao gồm

sự lệ thuộc về nhiều mặt:

- Về vật chất như được nuôi dưỡng, được trợ giúp về điều kiện sinh sống…

- Về xã hội như giáo viên với học sinh, giữa bác sĩ với bệnh nhân

- Về tín ngưỡng như giữa tín đồ với người có chức sắc tôn giáo

- Về gia đình như giữa anh chị em cùng cha khác mẹ…

- Về công tác như giữa thủ trưởng với nhân viên thuộc quyền

Tất cả các mối quan hệ như trên phải là mối quan hệ lệ thuộc thực sự, tức là người phạm tội phải có uy thế lớn đối với nạn nhân

Ví dụ: Bác sĩ đặt điều kiện với bệnh nhân đang bị bệnh hiểm nghèo là cho giao cấu mới chữa trị cho người đó và nạn nhân (bệnh nhân) đã miễn cưỡng chấp nhận điều kiện đó để được chữa trị

Người ở trong tình trạng quẫn bách là người tuy không có mối quan hệ lệ thuộc với người phạm tội, nhưng do nhiều nguyên nhân họ rơi vào trong tình trạng quẫn bách hay ở trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, tự mình không thể hoặc khó có thể khắc phục được mà đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của người khác nên phải miễn cưỡng giao cấu với người phạm tội, người rơi vào trong tình trạng này không còn sáng suốt lựa chọn một xử sự bình thường như những người khác hoặc trong lúc bình thường khác

Ví dụ: Chị C vay của anh D là bạn của chồng mình 500.000.000đ để làm vốn

đi buôn, nhưng lại bị lừa nên không có khả năng trả nợ; nhiều lần D đến đòi nợ,

Trang 6

vì sợ chồng biết chị C phải khất lần Khi biết chị C không có khả năng trả nợ cho mình, anh D gạ chị C giao cấu thì sẽ cho chị C kéo dài thời gian trả nợ mà không tính lãi, nếu không sẽ đi nói với chồng chị Trước hoàn cảnh quẫn bách này, sau nhiều lần suy nghĩ chị C đã phải miễn cưỡng để cho D giao cấu với mình

Dù là người bị lệ thuộc vào người phạm tội hay người ở trong tình trạng quẫn bách thì việc họ giao cấu với người phạm tội là do miễn cưỡng Sự miễn cưỡng của người bị hại là ý thức chủ quan của họ, nên trong nhiều trường hợp việc xác định nó không phải bao giờ cũng dễ dàng Có người lúc giao cấu họ không hề miễn cưỡng nhưng sau đó vì một lý do nào đó họ lại tố cáo rằng mình phải miễn cưỡng giao cấu hoặc ngược lại, lúc giao cấu họ đã miễn cưỡng nhưng sau đó họ lại khai là không có sự miễn cưỡng Vì vậy, để xác định người bị hại có miễn cưỡng giao cấu với người phạm tội hay không cần phải căn cứ vào các tình tiết khách quan của vụ án mà đặc biệt là mối quan hệ lệ thuộc giữa người bị hại với người phạm tội, hoàn cảnh lúc xảy ra việc giao cấu

2 Dấu hiệu chủ thể của tội cưỡng dâm

Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) tức là người có năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội

và đạt độ tuổi chịu TNHS theo luật định khi thực hiện hành vi phạm tội

Chủ thể của tội cưỡng dâm là người có năng lực trách nhiệm hình sự tức là người có năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội

và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định khi thực hiện hành vi cưỡng dâm Năng lực điều khiển hành vi là trên cơ sở của sự nhận thức, chủ thể

có thể chủ động, tích cực, quyết tâm thực hiện hành vi của họ cho là phù hợp với đòi hỏi của xã hội, kiềm chế không thực hiện hành vi nếu cho rằng nó đi ngược lại lợi ích của xã hội Người từ đủ 18 tuổi trở lên có thể phải chịu TNHS về tội cưỡng dâm, người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 18 tuổi chị phải chịu

Trang 7

TNHS về tội cưỡng dâm ở khoản quy định là tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng Tuy nhiên Luật hình sự Việt Nam không trực tiếp quy định như thế nào là có năng lực TNHS mà chỉ quy định tuổi chịu TNHS và quy định thế nào là trường hợp trong tình trạng không có năng lực TNHS Do đó, trong thực tiễn áp dụng để xử lý tội phạm nói chung và tội cưỡng dâm nói riêng, các cơ quan có trách nhiệm không đòi hỏi phải đánh giá từng trường hợp một là có năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi mà chỉ cần xác định đã đủ tuổi chịu TNHS hay chưa, khi có nghi ngờ mới cần kiểm tra xem có phải trường hợp trong tình trạng không có năng lực TNHS hay không Bên cạnh đó, trong xét xử thực tiễn trước đây vẫn coi chủ thể của tội cưỡng dâm chỉ có thể là nam giới, nữ giới chỉ có thể tham gia với vai trò đồng phạm (người tổ chức, người xúi giục hoặc người giúp sức) Cần xác định chủ thể của tội cưỡng dâm là chủ thể bình thường tức có thể là nam giới, nữ giới, người chuyển đổi giới tính bởi lẽ điều luật không

mô tả dấu hiệu đặc biệt về giới tính của chủ thể Người phạm tội phải có mối quan hệ lệ thuộc với người bị hại hoặc có mối liên quan nhất định trong việc hỗ trợ và giúp đỡ người bị hại thoát khỏi tình trạng quẫn bách

3 Dấu hiệu mặt khách quan của tội cưỡng dâm

Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tổn tại bên ngoài thế giới khách quan (như hành vi khách quan, hậu quả của tội phạm, các điều kiện bên ngoài gắn liền với hành vi khách quan như công cụ, phương tiện, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội )

Theo quy định của Điều 143 BLHS năm 2015 thì hành vi khách quan của tội cưỡng dâm là hành vi “khiến” và hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác Trong đó, hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác là kết quả của hành vi “khiến” Hành vi “khiến” ở tội cưỡng dâm được hiểu là hành vi khống chế tư tưởng bằng việc lợi dụng quan hệ lệ thuộc hoặc hoàn cảnh quẫn

Trang 8

bách của nạn nhân để buộc họ phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác theo ý mình Thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng để khống chế nạn nhân cũng có thể đa dạng, như lừa phỉnh, mua chuộc, dụ

dỗ, đe dọa hoặc bằng tình cảm, bằng tiền bạc, có khi chỉ là một lời hứa… Thông thường, việc khống chế tư tưởng được thực hiện bằng một hành vi công nhiên: một sự dọa dẫm hoặc hứa hẹn Người phạm tội có thể lợi dụng quan hệ lệ thuộc, lợi dụng uy tín của mình đe dọa sẽ gây thiệt hại cho người bị lệ thuộc nếu như không chịu giao cấu hoặc không chịu thực hiện hành vi quan hệ tình dục Ví dụ: dọa chuyên nơi làm việc, dọa không nuôi dưỡng nữa, dọa hủy hợp đồng lao động,

Tuy nhiên, giữa hành vi khống chế tư tưởng bằng cách dọa dẫm làm bị hại vì

sợ phải miễn cưỡng chịu cho giao cấu với hành vi uy hiếp tinh thần trong tội hiếp dâm làm cho bị hại khiếp sợ, ý chí tự vệ bị tê liệt nên bắt buộc phải chịu sự giao cấu là khác nhau Trong trường hợp uy hiếp tinh thần, ý chí của người bị hại

đã thực sự bị tê liệt, còn trong trường hợp khống chế tư tưởng, người bị hại còn

có tính toán, mặc dù việc chịu cho giao cấu là miễn cưỡng Như vậy, hành vi đe dọa ở tội cưỡng dâm chưa đến mức làm người bị đe dọa tê liệt ý chí, vẫn có thể kháng cự được, tuy nhiên họ đã không kháng cự (đây là điểm khác biệt với trường hợp hiếp dâm) mà tự nguyện giao cấu hoặc chịu thực hiện hành vi quan

hệ tình dục khác một cách miễn cưỡng theo điều kiện mà người phạm tội đưa ra Người phạm tội cưỡng dâm cũng có thể lợi dụng quan hệ lệ thuộc, lợi dụng uy thế của mình hoặc lợi dụng nạn nhân đang trong tình trạng quẫn bách hứa hẹn mang lại quyền lợi nào đó cho họ nếu chấp nhận việc giao cấu Ví dụ: hứa sẽ cho thăng chức, hứa tạo điều kiện về việc làm, nhà ở Tuy nhiên, sự hứa hẹn phải

có tính chất là sự khống chế tư tưởng buộc họ phải miễn cưỡng chấp nhận việc giao cấu hoặc chấp nhận thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác còn những trường hợp hứa hẹn khác không thuộc phạm vi của tội này Đối với tội cưỡng

Trang 9

dâm, hành vi giao cấu với nạn nhân không chỉ là dấu hiệu khách quan của cấu thành mà nó là dấu hiệu bắt buộc (dấu hiệu cần và đủ) Nếu các dấu hiệu khác đã thoả mãn nhưng chưa có việc giao cấu xảy ra, thì chưa cấu thành tội phạm

Hậu quả của hành vi cưỡng dâm không được xác định trên thực tế, bởi nhà làm luật xem xét về hành vi để định tội danh chứ không dựa vào hậu quả trên thực tế do hành vi cưỡng dâm gây ra để xác định rằng liệu một người có thực hiện hành vi cưỡng dâm hay không Đây là tội có cấu thành hình thức, tức là người phạm tội thỏa mãn các dấu hiệu của tội phạm trong cấu thành tội phạm là

đã được xác định phạm tội này, không cần căn cứ hậu quả từ hành vi ép người khác miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác gây ra như thế nào

4 Dấu hiệu mặt chủ quan của tội cưỡng dâm

Đối với tội cưỡng dâm, dấu hiệu lỗi của chủ thể đòi hỏi là lỗi cố ý Người phạm tội biết nạn nhân là người lệ thuộc vào mình hoặc biết họ đang trong tình trạng quẫn bách, người phạm tội cũng biết hành vi đe dọa hay hứa hẹn của mình

là hành vi lợi dụng hoàn cảnh khó khăn để ép buộc họ phải miễn cưỡng thực hiện hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác Người phạm tội không

từ bất cứ thủ đoạn nào để thực hiện được mục đích của mình Động cơ phạm tội

là động lực thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý có chủ đích Động cơ phạm tội cưỡng dâm có thể do ham muốn, do nhu cầu tình dục với đối tượng đó hoặc do các động cơ khác Tuy nhiên, đối với tội cưỡng dâm thì động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc

Trang 10

KẾT LUẬN

Việc áp dụng quy định về tội cưỡng dâm trên thực tiễn vẫn còn những hạn chế, vướng mắc như “xác định hành vi quan hệ tình dục khác”, “xác định giới tính” chưa được hướng dẫn, việc định tội danh, việc xác định tình trạng bị lệ thuộc hoặc trong tình trạng quẫn bách của nạn nhân còn bị nhầm lẫn Nhưng việc áp dụng Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) của nhà nước ta đã có những bước tiến mới trong việc thực thi chính sách hình sự trong lĩnh vực bảo vệ lợi ích, nhân phẩm, danh dự và quyền con người Đồng thời tạo được sự hiệu quả trong phòng chống tội cưỡng dâm nói riêng cũng như chống loại tội phạm nói chung đang xảy ra trong xã hội hiện nay

Trang 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Luật Hình sự năm 2015 và Bộ Luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017

2 Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân năm 2009

3 Tội cưỡng dâm trong Bộ luật Hình sự năm 2015: luận văn thạc sĩ Luật

học, Nguyễn Thị Hồng Vân; GS TS Lê Thị Sơn hướng dẫn

4 Nguyễn Ngọc Hòa (2018), “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015

được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phần các tội phạm)” Quyển 1 Nxb Tư

pháp, Hà Nội

5 Trần Minh Hưởng (2009), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự đã được

sửa đổi, bổ sung năm 2009, Nxb Lao động, Hà Nội

6 https://conganquangbinh.gov.vn/diem-moi-cua-toi-cuong-dam-duoc-sua-doi-thang-6-2017-so-voi-blhs-nam-2015/

Ngày đăng: 27/05/2023, 14:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Tội cưỡng dâm trong Bộ luật Hình sự năm 2015: luận văn thạc sĩ Luật học, Nguyễn Thị Hồng Vân; GS. TS. Lê Thị Sơn hướng dẫn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội cưỡng dâm trong Bộ luật Hình sự năm 2015: luận văn thạc sĩ Luật học
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Vân
Nhà XB: GS. TS. Lê Thị Sơn hướng dẫn
4. Nguyễn Ngọc Hòa (2018), “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phần các tội phạm)” Quyển 1 Nxb. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phần các tội phạm)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2018
5. Trần Minh Hưởng (2009), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009
Tác giả: Trần Minh Hưởng
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2009
1. Bộ Luật Hình sự năm 2015 và Bộ Luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 Khác
2. Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân năm 2009 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w