Anhchị hãy lựa chọn một hoặc một số quy định về một loại hợp đồng thông dụng bất kỳ trong BLDS. Anhchị hãy lựa chọn một hoặc một số quy định về một loại hợp đồng thông dụng bất kỳ trong BLDS. Anhchị hãy lựa chọn một hoặc một số quy định về một loại hợp đồng thông dụng bất kỳ trong BLDS. Anhchị hãy lựa chọn một hoặc một số quy định về một loại hợp đồng thông dụng bất kỳ trong BLDS. Anhchị hãy lựa chọn một hoặc một số quy định về một loại hợp đồng thông dụng bất kỳ trong BLDS.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC
PHẦN
MÔN: LUẬT DÂN SỰ 2
Đề bài Đề số 6: Anh/chị hãy lựa chọn một hoặc một số quy định về một loại hợp đồng thông dụng bất kỳ trong BLDS năm 2015 (từ Điều
430 đến Điều 569) mà anh/chị cho là bất cập Hãy phân tích, đánh giá
bất cập đó và đưa ra định hướng hoàn thiện.
Hà Nội, 2021
Trang 3MỤC LỤC
1 Hạn chế, bất cập của chế định hợp đồng vay tài sản 2
2 Hướng hoàn thiện chế định hợp đồng vay tài sản 3
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 6
Trang 4MỞ ĐẦU
Trong quan hệ dân sự, hợp đồng vay là hợp đồng thông dụng, nhờ vào hợp đồng vay mà các chủ thể trong quan hệ dân sự có thể giải quyết được những khó khăn hoặc nhu cầu cần thiết của họ Với bản chất là quan hệ dân sự nên các bên trong hợp đồng vay có thể tự thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng nếu những thoả thuận đó không trái quy định hoặc vi phạm điều cấm của pháp luật Tuy nhiên, khi các bên không thỏa thuận hoặc không đạt được thỏa thuận chung thì các quy định của pháp luật sẽ được áp dụng để điều chỉnh mối quan hệ hợp đồng này Quy định về hợp đồng vay tài sản (HĐVTS) trong Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 về cơ bản đã có những
ưu điểm, đổi mới nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định
1
Trang 5NỘI DUNG
1 Hạn chế, bất cập của chế định hợp đồng vay tài sản
Thứ nhất, về đối tượng của hợp đồng vay là tài sản theo điều 463 BLDS 2015 Theo
Điều 105 BLDS 2015, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai Trong hợp đồng vay, nghĩa vụ của bên vay là hoàn trả lại cho bên cho vay tài sản cùng loại, theo đúng số lượng, chất lượng khi đến thời hạn trả Trong khi đó, bất động sản theo quy định tại Điều 107 BLDS 2015 là những vật đặc định, vì thế không thể trả lại một bất động sản cùng loại với bất động sản đã vay Do đó, đã loại bỏ đối tượng bất động sản trong hợp đồng vay tài sản Trên thực tế đối tượng của hợp đồng vay tài sản thường là tiền vì tiền là tài sản trao đổi ngang giá chung cho mọi hàng hóa, tiện lợi cho việc trao đổi để thỏa mãn các nhu cầu về sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh và thành toán khi trả nợ Tuy nhiên, có nhiều tài sản là đối tượng của hợp đồng vay tài sản theo BLDS nhưng lại mâu thuẫn với một số văn bản pháp luật khác Ví dụ: Theo BLDS 2015, đối tượng của hợp đồng vay tài sản bao gồm tiền mà ngoại tệ cũng là tiền Tuy nhiên, ngoại tệ cũng là một loại ngoại hối hạn chế sử dụng Trường hợp muốn sử dụng ngoại tệ trong các giao dịch hay thanh toán phải thuộc đối tượng đã được pháp luật quy định cho phép Mà hợp đồng vay tài sản cũng là một loại giao dịch Từ đây dẫn đến mâu thuẫn giữa BLDS 2015 với Pháp lệnh Ngoại hối 2005 (Sửa đổi, bổ sung năm 2013)
Thứ hai, về hình thức, chỉ có một số ít vụ án tranh chấp về hợp đồng vay tài sản có
hợp đồng bằng văn bản, còn lại đa số là các giấy vay tiền, giấy xác nhận nợ thường được bên vay viết hoặc ký để làm căn cứ cho để giải quyết tranh chấp, thậm chí có những vụ án tranh chấp không có bằng chứng vì hợp đồng vay tài sản được giao kết bằng lời nói Chính vì thế không có căn cứ xác đáng nào để chứng minh quyền và nghĩa vụ của các bên, do vậy tranh chấp diễn ra tòa án không có căn cứ để giải quyết Hậu quả là có những trường hợp bên vay từ chối nghĩa vụ trả nợ của mình gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bên cho vay
2
Trang 6Thứ ba, về lãi suất, Điều 468 BLDS 2015 chỉ quy định lãi suất đối với trường hợp
tài sản vay là tiền, mức lãi suất không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay Điều này cũng như cả 8 điều luật còn lại của chế định hợp đồng vay tài sản không hề nhắc đến hạn mức lãi suất trong trường hợp tài sản vay không phải là tiền Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 463 thì các bên có thể thỏa thuận lãi suất đối với tất cả các loại tài sản vay Do đó, khi vay vật hoặc tài sản khác không phải là tiền các bên vẫn có quyền thỏa thuận lãi suất Điều này gây khó khăn trong hợp đồng vay với đối tượng không phải là tiền và có lãi suất cũng như việc xét xử nếu có tranh chấp trong trường hợp này
Thứ tư, về trả tài sản vay, khoản 1 Điều 466 BLDS năm 2015 quy định bên vay có
thể trả vật cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng của tài sản đã vay Tuy nhiên, quy định này chỉ áp dụng đối với vay tiền và vật và không nhắc đến các tài sản khác có thể
là đối tượng của HĐVTS Điều này vô tình đã gây ra sự mâu thuẫn trong phạm vi điều chỉnh của các điều luật Trường hợp vay giấy tờ có giá thì phải trả như thế nào trong khi giấy tờ có giá cũng là đối tượng của HĐVTS theo quy định tại Điều 463 BLDS năm 2015 nhưng lại không được quy định phương thức trả tại khoản 1 Điều 466 BLDS năm 2015
Thứ năm, về cơ sở xác định trị giá của vật đã vay tại thời điểm trả nợ, khoản 2 Điều
466 BLDS năm 2015 quy định “Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể
trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý” Vấn đề phát sinh từ quy định này là cơ sở tính giá của vật tại thời
điểm trả nợ Giá này do hai bên thỏa thuận hay là giá của vật cùng loại tại thời điểm và địa điểm trả nợ Trong trường hợp bên cho vay đồng ý cho bên vay trả tiền khi không thể trả vật nhưng hai bên lại không thể xác định hoặc không thể thoả thuận được giá thì làm thế nào để xác định giá trị của vật vay? Nếu các bên khởi kiện ra toà án thì tòa
án sẽ giải quyết theo hướng buộc bên vay trả lại vật cùng loại hay chấp nhận phương
án trả tiền tương đương mà hai bên đã đồng và toà án dựa trên cơ sở nào để xác định trị giá của vật? Vậy còn trường hợp ngược lại, bên vay vay tài sản là tiền nhưng không
có khả năng trả tiền khi đến hạn thì có thể trả khoản nợ bằng vật có giá trị tương đương được không? Các điều luật của chế định HĐVTS đều không đề cập vấn đề này
3
Trang 7nhưng nguyên tắc của luật dân sự là dựa trên sự thỏa thuận của các bên nếu thỏa thuận này không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội
2 Hướng hoàn thiện chế định hợp đồng vay tài sản
Thứ nhất, về đối tượng của hợp đồng vay, cần quy định rõ hơn về đối tượng của
HĐVTS sao cho việc áp dụng không bị nhầm lẫn bởi sự hạn chế về đối tượng và hoàn thiện sao cho quy định ở BLDS để không bị mâu thuẫn với các quy định ở những văn bản pháp luật khác
Thứ hai, về hình thức, trong điều kiện kinh tế, xã hội ở thời điểm hiện tại và cũng để
duy trì bảo đảm nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận đang được pháp luật ghi nhận nên cần quy định số tiền vay có giá trị từ 4.000.000 đồng trở lên thì phải lập thành văn bản (cũng để phù hợp với yếu tố định lượng được quy định trong cấu thành tội phạm tương ứng của BLHS)
Thứ ba, về lãi suất, cần sửa đổi, bổ sung các quy định về cách tính lãi suất đối với
đối tượng của hợp đồng vay tài sản không phải là tiền (vật, giấy tờ có giá, ) vì hợp đồng vay vẫn cho phép thỏa thuận về lãi suất đối với vay các tài sản khác Cụ thể là khi quy định về lãi suất cần lưu ý về mức lãi suất 20%/năm của khoản tiền vay, cần
mở rộng quy định này đối với các tài sản khác, quy định mức lãi suất đối với các tài sản khác hoặc bỏ vấn đề tính lãi suất đối với việc vay tài sản khác chỉ giữ lại lãi suất quá hạn đối với việc vay tài sản
Thứ tư, về trả tài sản vay, nên bổ sung trường hợp trả tài sản vay khi vay các loại tài
sản là đối tượng của HĐVTS (như giấy tờ có giá, tài sản hình thành trong tương lai, ) theo quy định tại Điều 105 BLDS năm 2015
Thứ năm, về cơ sở xác định trị giá của vật đã vay tại thời điểm trả nợ, BLDS quy
định về trường hợp bên vay có thể trả trị giá của vật vay trong trường hợp không thể trả được vật, tuy nhiên việc trả giá trị được thực hiện tại địa điểm và thời điểm trả nợ nếu có sự đồng ý của bên vay Cần bổ sung thêm nếu trong trường hợp thời điểm và địa điểm này không được thoả thuận thì việc trả giá trị được thực hiện vào thời gian và
4
Trang 8địa điểm mà việc vay được thực hiện Quy định này sẽ khắc phục được nhược điểm về
cơ sở xác định trị giá của vật vay Ngoài ra, việc quy định thêm trường hợp trả vật khi vay tiền sẽ giúp cho các bên có cơ sở áp dụng và thỏa thuận Cùng với việc quy định việc vay tiền trả vật cũng cần xác định rõ phương thức tính giá trị của vật để quy đổi thành tiền tương ứng với số tiền đã vay Bên cạnh đó, cũng nên quy định trường hợp nào được phép trả vật, trường hợp nào không và phương thức trả vật như thế nào để tránh trường hợp cho vay nặng lãi nhằm chiếm đoạt tài sản của bên vay
5
Trang 9KẾT LUẬN
Tóm lại, chế định HĐVTS dù đã có những sửa đổi, bổ sung nhất định nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế làm cho các chủ thể khi lựa chọn tham gia hợp đồng dân sự cảm thấy lo lắng về những rủi ro có thể xảy ra đối với mình, dẫn đến hiểu nhầm hoặc khó khăn trong việc áp dụng các quy định vào thực tế Do đó, Chính phủ cần ban hành nghị định riêng hướng dẫn chi tiết thi hành theo hướng các đề xuất đã nêu các quy định về chế định HĐVTS để tránh hiểu lầm và áp dụng sai Từ đó xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho các quan hệ dân sự phát triển đồng thời nhằm nâng cao, phát triển đời sống xã hội
6
Trang 10DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017)
2 Pháp lệnh Ngoại hối 2005 (Sửa đổi, bổ sung năm 2013)
3 Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội Nxb Công an Nhân dân
4 Tạp chí Luật học số 8 năm 2017, “Điểm mới, điểm hạn chế của chế định hợp
đồng vay tài sản trong Bộ luật dân sự năm 2015 và hướng hoàn thiện”,
Nguyễn Võ Linh Giang
5 Tạp chí Tòa án, Những bất cập trong các quy định trong Bộ luật Dân sự năm
2015 về hợp đồng vay tài sản, Lê Văn Cường
6 Trang thông tin điện tử huyện Nam Đông, “Một số vấn đề lý luận về hợp đồng
vay tài sản theo quy định của pháp luật dân sự”
7