Mục lục MỞ ĐẦU 1 Nội dung 7 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 7 1 1 Khái niệm bộ máy Nhà nước 7 1 2 Khái niệm nhà nước pháp quyền 7 Chương 2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC TRONG LỊCH SỬ VĂN MI[.]
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 7
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 7
1.1 Khái niệm bộ máy Nhà nước 7
1.2 Khái niệm nhà nước pháp quyền 7
Chương 2: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC TRONG LỊCH SỬ VĂN MINH NHÂN LOẠI 18
2.1 Sự phát triển tư tưởng về nhà nước ở các nước phương Tây 18
2.2 Sự phát triển tư tưởng về nhà nước ở các nước ở nước ta hiện nay 21
KẾT LUẬN 26
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Tư tưởng về xây dựng nhà nước là một giá trị phổ biến của nhân loạitrong thế giới đương đại Nó được khởi nguồn cùng với các tư tưởng về pháttriển dân chủ được hình thành ngay từ thời cổ đại; trải qua lịch sử đấu tranhnhằm thực hiện dân chủ của nhân loại, trở thành hiện thực và phổ biến cùngvới thời đại cách mạng tư sản, tiếp tục phát triển và dần hoàn thiện trong thờiđại ngày nay Cốt lõi của nhà nước pháp quyền là dân chủ và thượng tôn phápluật - pháp luật để bảo vệ và phát triển dân chủ Tuy mang tính phổ biến hiệnnay, nhưng với mỗi quốc gia dân tộc, với những bối cảnh riêng biệt của mình,
sẽ có những đặc thù trong xây dựng nhà nước pháp quyền
Tại Việt Nam, trong thời đại ngày nay, những tư tưởng về xây dựngnhà nước pháp quyền được hình thành từ sớm, được thể hiện rất rõ trong quanđiểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước Nền móng của nhànước pháp quyền được xây dựng ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa ra đời (năm 1945), được bảo đảm và phát triển trong suốt lịch sử dân tộc,thông qua quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản và Chủ tịch
Hồ Chí Minh, qua các bản Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước Việt Nam.Nhưng do các điều kiện chủ quan và khách quan khác nhau, trước thời kỳ Đổimới (năm 1986), quan điểm về xây dựng nhà nước pháp quyền còn chưa đượcđịnh hình một cách rõ nét Đến Cương lĩnh năm 1991, quan điểm về xây dựngnhà nước pháp quyền mang đặc thù của Việt Nam mới được đề cập rõ ràng vàđến Cương lĩnh sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì khái niệm Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trở thành một giá trị, tính chất của nhà nước
ta, của chế độ ta và là một tiêu chí của xã hội xã hội chủ nghĩa mà cách mạngViệt Nam hướng tới
Tuy nhiên, với đặc thù riêng cũng đem đến những khó khăn lớn trongxây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong hiện thực
Trang 3Bởi lẽ mặc dù là giá trị phổ biến hiện nay, nhưng không nhiều quốc gia cónhững đặc điểm địa chính trị, xuất phát điểm tương đồng với nước ta trongxây dựng nhà nước pháp quyền; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa còn chưa sáng tỏ cả trong lý luận và thực tiễn của nhân loại nói chung
và của nước ta nói riêng Do đó, một nhiệm vụ cấp bách, trọng tâm được Đạihội XII của Đảng xác định là: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyềnXHCN” Tức là phải khẩn trương hoàn thiện lý luận về nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa và hiện thực hóa nó trong xã hội Việt Nam một cách hiệuquả, để từ đó mới bảo đảm cho các nhiệm vụ cách mạng khác được thực hiệnthắng lợi
Vì vậy, nhóm nghiên cứu chọn đề tài “Dưới góc độ chính trị học, phân tích sự phát triển tư tưởng về nhà nước trong dòng chảy lịch sử văn minh nhân loại” làm đề tài nghiên cứu, với mục tiêu nhận định những giá trị
chung, cốt lõi của nhà nước pháp quyền; so sánh một số mô hình nhà nướcpháp quyền và làm rõ đặc thù mô hình Việt Nam nhằm góp một phần nhỏ bévào nghiên cứu về nhà nước pháp quyền nói chung, Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Nhà nước pháp quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền đã có tiền lệgắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người Nhà nướcpháp quyền với tư cách là một kiểu nhà nước đã thể hiện được tính tiến bộcủa mình so với các kiểu nhà nước độc tài, chuyên chế Vấn đề nhà nướcpháp quyền, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thu hút sựquan tâm của các nhà lý luận, đặc biệt trong những năm gần đây Các tài liệu
về vấn đề này xuất hiện ngày càng nhiều với số lượng lớn Có thể kể đến một
số công trình tiêu biểu sau:
Nghiên cứu vấn đề theo hướng nêu tính tất yếu, phân tích tiền đề lýluận, cơ sở thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam: Đề tài KH 04.01: “Cơ sở lý luận và thực tiễn về Nhà nước pháp quyền
Trang 4xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” và bài đăng trên Tạp chí Cộng sản:
“Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” do GS.VS Nguyễn Duy Quý làm chủ nhiệm đã khái quát lịch sử
hình thành và phát triển của học thuyết nhà nước pháp quyền; nêu những kháiniệm, những đặc trưng cơ bản và chức năng, lý giải các yếu tố quy định và chiphối quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Namcũng như so sánh sự giống và khác nhau giữa Nhà nước pháp quyền tư sảnvới Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Các tác giả, Lê Minh Quân trong cuốn Xây dựng nhà nước pháp quyền đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, (Nxb Chính trị quốc gia, 2003), Trần Hậu Thành trong Cơ sở
lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, (Nxb Lý luận chính trị, 2005), đã trình
bày tổng quát cơ sở lý luận, điều kiện thực tiễn, tính cấp thiết xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nghiên cứu lý luận chung về nhà nước pháp quyền và xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Công trình do Nguyễn Văn
Yểu, Lê Hữu Nghĩa (đồng chủ biên), Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, (Nxb Chính trị quốc gia, 2006) đã
đề xuất những phương án về việc đổi mới Các công trình của: Đào Trí Úc,
Phạm Hữu Nghị, Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, (Nxb Từ điển
Bách Khoa, 2009), đã nêu vấn đề lý luận và thực tiễn mà Việt Nam cần phảigiải quyết trên từng bước đường xây dựng nhà nước pháp quyền
Luận án tiến sĩ, Đảng lãnh đạo sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong những năm 1996 – 2006 (Học viện hành chính
– Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), Lâm Quốc Tuấn đã tổng kết những thànhtựu, nêu lên những hạn chế và bước đầu xác định một số kinh nghiệm củaĐảng trong hơn 10 năm lãnh đạo xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
Trang 5nghĩa Phạm Ngọc Quang và Ngô Thị Kim Ngân trong cuốn Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân (Nxb Chính trị quốc
gia, 2007) đã nêu quan điểm nâng cao vai trò của Đảng trong sự nghiệp xâydựng nhà nước pháp quyền phải đi đôi với việc chống chủ nghĩa quan liêu, tệnạn tham nhũng
Luận án tiến sĩ triết học của Đào Ngọc Tuấn: Tính phổ biến và tính đặc thù trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam (Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2002) đã đề cập đến vấn đề điều kiện xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đồng thời nêu lên một số tínhphổ biến trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền Mai Thị Thanh trong luận
án tiến sĩ: Vấn đề hình thức của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2011)
đã phân tích một số nhân tố quy định điều kiện của việc xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nghiên cứu về những vấn đề đặt ra của việc xây dựng nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam chúng ta có thể tìm thấy trong các tài liệu:
Đoàn Trọng Tuyến, Cải cách hành chính và công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, (Nxb Tư pháp 2006); Đào Trí Úc, Những luận cứ khoa học của việc hoàn thiện bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11, 2001); Nguyễn Văn Yểu, Hoàn thiện
hệ thống pháp luật để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, (Tạp chí Cộng sản, số 10, 2014); Trần Hậu Thành, Một số vấn đề lý luận về quan hệ nhà nước, xã hội và công dân trong nhà nước pháp quyền,
Trang 6Tuy nhiên, chưa có công trình, đề tài nào đi sâu phân tích, đi tìm sự giống vàkhác nhau giữa nhà nước pháp quyền ở các quốc gia phương Tây với nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1 Mục tiêu nghiên cứu.
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề chung về nhà nước pháp quyềnphương Tây và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhândân và vì nhân dân, đề tài so sánh sự giống và khác biệt giữa hai kiểu nhànước, từ đó đưa ra giải pháp tăng cường nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Làm rõ những vấn đề lý luận chung về nhà nước pháp quyền phương
Tây và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và
vì nhân dân
- So sánh một số kiểu nhà nước pháp quyền phương Tây và nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
- Đề xuất giải pháp tăng cường nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
4 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự giống và khác nhau giữa một số
mô hình nhà nước pháp quyền phương Tây và nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
5 Đối tượng khảo sát, phạm vi và giới hạn nghiên cứu.
- Đối tượng khảo sát: Nhà nước pháp quyền phương Tây và Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
- Phạm vi nội dung: Nhà nước pháp quyền phương Tây (Anh, Pháp,
Mỹ) và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Giới hạn không gian: Các nước phương Tây (Anh, Pháp, Mỹ) và
Trang 7Việt Nam.
- Giới hạn thời gian: Từ năm 2013 đến nay.
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
6.1 Phương pháp luận:
Đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tưtưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước hiện nay về nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa
6.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng.
- Phương pháp lịch sử và logic.
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp.
- Phương pháp phân tích số liệu.
7 Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tàiđược kết cấu thành 2 chương và 5 tiết
Trang 8NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm bộ máy Nhà nước
Bộ máy Nhà nước là hệ thống các cơ quan Nhà nước từ trung ươngxuống cơ sở, được tổ chức theo những nguyên tắc chung thông nhất, tạo thànhmột cơ chế đồng bộ để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước
Hiện nay các cơ quan nhà nước trong Bộ máy Nhà nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam gồm:
- Các cơ quan quyền lực nhà nước: Quốc hội, Hội đồng nhân dân cáccấp (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã);
- Các cơ quan hành chính nhà nước: Chính phủ; các bộ, cơ quan ngangbộ; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã;
- Các cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án quân sự, các Tòa
án nhân dân địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện); Tòa án khác do luật định; Trongtình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Tòa án đặc biệt
- Các cơ quan kiểm soát: Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sátquân sự; Viện kiểm sát nhân dân địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện)
- Chủ tịch nước là một thiết chế nhà nước, thể hiện sự thống nhất củaquyền lưc, thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, tồn tại tương đốiđộc lập với các cơ quan nhà nước khác
1.2 Khái niệm nhà nước pháp quyền
1.2.1 Khái niệm nhà nước pháp quyền phương Tây
Tư tưởng nhà nước pháp quyền đã có từ rất lâu trong lịch sử nhân loại
Ở phương Đông, tư tưởng nay bắt nguồn từ tư tưởng Pháp gia của Hàn Phi Tử(280-232 trước công nguyên) và trở thành vũ khí lý luận sắc bén của nhà Tần(Trung Quốc) trong việc quyết định cục diện hỗn loạn xã hội, thống nhất đấtnước, phát triển chế độ phong kiến chuyên chế và có ảnh hưởng to lớn đối vớicác nước phương Đông Ở phương Tây, tư tưởng pháp quyền xuất hiện từ
Trang 9thời cổ đại, khi mà người ta bắt đầu tìm kiếm nguyên tắc, hình thức, cơ cấu đểthiết lập quan hệ qua lại, tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau giữa phápluật và quyền lực.
Ở thời kỳ cổ đại, Hy Lạp và La Mã là nơi phát triển có tính điển hình về
kinh tế, chính trị, xã hội Tại đây đã hình thành nên tư tưởng phong phú vềnhà nước pháp quyền Những tư tưởng ấy vừa thể hiện sự biến đổi khôngngừng của chính trị, xã hội, vừa thúc đẩy hiện thực phát triển Vào thế kỷ thứ
VI trước công nguyên, Sô-Lông – nhà thông thái Hy Lạp đã áp dụng tư tưởngkết hợp sức mạnh với quyền lực trong việc tổ chức Nhà nước Ai Cập trênnhững nguyên tắc dân chủ Ông diễn đạt tư tưởng của mình rằng, phải giảiphóng tất cả mọi người bằng quyền lực pháp luật, bằng sự kết hợp giữa sứcmạnh và pháp luật
Hêraclit (530 - 470 TCN) có câu nói bất hủ: Nhân dân phải đấu tranhbảo vệ luật như bảo vệ chốn nương thân của mình Vị cha đẻ của khoa họcchính trị - Aritxtot (384 – 322 TCN) nhấn mạnh đến tính tối cao của pháp luậttrong một nhà nước được tổ chức theo đúng nghĩa của nó Ông cho rằng nhànước có công bằng hay không đều phải gắn với pháp luật, chỉ có pháp luậtmới là tiêu chuẩn để điều chỉnh cho mọi giao tiếp trong xã hội, nên: Ở nơi nàokhông có sức mạnh của luật thì nơi đó không có hình thức chế độ nhà nước.Như vậy, luật được quan niệm là cần thiết cho xã hội, cho cuộc sống của mỗingười dân, giữa luật và nhà nước phải có mối quan hệ chặt chẽ
Platon (427 – 347TCN) thừa nhận: Những nơi mà pháp luật được định
ra vì lợi ích của một số người thì ở đó không có chế độ nhà nước Chỉ có thểgọi là nhà nước nếu như có sự công bằng giữ vai trò thống trị Theo Platon, sựcưỡng bức của nhà nước phải là sự áp đặt của lý trí phổ biến, theo đó chính trị
có mặt ở mọi nơi, nó tự phân tích thành một số hành vi, nó tự phân giải trongcái cụ thể thành pháp lý, hành chính, tư pháp, ngoại giao Nhưng các yếu tốkhách nhau đó phải được thống nhất khéo léo bởi chính trị Tất cả các cá nhânphải phục tùng tuyền uy, không một bộ phận nào được tự do thuần túy, không
Trang 10được ỏ mặc các công dân hoạt động riêng, sự tự do tùy tiện chỉ dẫn đến hỗnloạn, gây tai họa cho đời sống công dân.
Các quan niệm trên đã được Siseron (106 – 43TCN) phát triển thêmmột bước đáng kể Ông đặt vấn đề: Nhà nước là gì nếu không phải là trật tựchung Vì vậy theo ông nhà nước đó là sự nghiệp và tài sản của nhân dân.Nhân dân ở đây không phải là sự tập hợp bất kỳ nào của nhiều người mà nóphải là một cộng đồng được liên kết với nhau bằng sự nhất trí về pháp luật vàquyền lợi chung Siseron đưa ra nguyên tắc: Luật có tác động đến tất cả mọingười, mọi người bình đẳng trước pháp luật Nhà nước và pháp luật là củachung mọi công dân, do vậy việc bảo vệ tư do của công dân không phải làviệc của riêng ai
Các nhà tư tưởng Hy – La cổ đại không chỉ dừng ở chỗ xác định vaitrò vị trí của pháp luật nhà nước trong xã hội mà các ông còn đưa ra các ýkiến về việc tổ chức nhà nước có sự thống trị của pháp luật ấy như thế nào.Platon phân biệt: Cầm quyền bởi một con người đó là chính quyền chuyênchế, bởi một bộ phận người tốt đó là chính quyền quý tộc, bởi những côngdân tự do thành thị đó là quân chủ Aritxtot cho rằng trong bất kỳ nhà nướcnào cũng phải có ba yếu tố: Nghị luận (cơ quan làm luật, trông coi việc nước),chấp hành (các cơ quan thị thực), xét xử (tòa án) Cách nhìn, cách lập luậncủa các triết gia cổ đại tuy chỉ mới là mầm mống của tư tưởng nhà nước phápquyền nhưng nó đã được đánh giá “ Không có cái cơ sở của nền văn minh HyLạp và đế chế La Mã thì không có châu Âu hiện đại” Tư tưởng của các ônglúc bấy giờ đều đề cao sự công bằng pháp luật, coi đó là những thuộc tính vốn
có của trời đất, trái ngược với nó là bạo lực, lộng quyền, hỗn loạn cần phảiđược xóa bỏ Tư tưởng về nhà nước pháp quyền của các ông đã thể hiện rõ ýchí chống lại sự chuyên quyền độc đoán, chống lại việc lẽ phải chỉ nằm trongtay kẻ mạnh, vua chúa có quyền lực không hạn chế, chống lại quan điểm nhànước làm ra luật thì nhà nước phải đứng trên pháp luật Đích đến của các nhà
tư tưởng lỗi lạc thời cổ đại là hướng tới xây dựng một xã hội dân chủ mà ở đóquyền lực thuộc về nhân dân
Trang 11Ở thời kỳ trung đại và cận đại, các nhà tư tưởng đã tiếp nhận và phát
triển quan điểm nhà nước pháp quyền thời cổ đại lên như là một thế giới quanpháp lý mới, biểu hiện ý thức chống lại một cách quyết liệt các quan điểmthần học về nhà nước và pháp luật, chống lại sự chuyên quyền phong kiến vàtình trạng vô pháp luật Đồng thời nó khẳng định mạnh mẽ tính nhân đạo,nguyên tắc tự do bình đẳng của cá nhân, thừa nhận những quyền của conngười không thể bị tước đoạt Thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến lên chủnghĩa tư bản, những quan niệm mới về tự do của con người thông qua việctôn trọng tính tối cao của pháp luật dẫn đến việc hình thành học thuyết nhànước pháp quyền tư sản Học thuyết này ngày càng hoàn thiện qua các tưtưởng vĩ đại của G Loccơ, Montesquieu, Kan, Hêghen, Monh …
Người đặt nền móng cho sự ra đời của học thuyết về nhà nước phápquyền tư sản là G Loccơ (1632 - 1704) – một nhà tư tưởng người Anh vàothế kỷ XVII Mô hình nhà nước mà ông đưa ra có vị trí pháp luật là cao nhất.Luật này phải phù hợp với luật pháp tự nhiên, các quyền tự nhiên và tự do cánhân được ghi nhận Trong nhà nước mà ông thiết kế có nguyên tắc: Đối vớicông dân cho phép làm tất cả những gì mà luật không cấm, đối với nhữngngười nắm quyền lực không được làm những gì mà luật không cho phép
Tiếp tục phát triển những quan điểm của G Loccơ về phân lập cácquyền trong bộ máy nhà nước thì Montesquieu (1689 - 1775) – luật gia ngườiPháp thế kỷ XVIII đã có những khám phá mới về chế độ phân bố quyền lực.Ông khẳng định việc phân chia quyền lực là một thuộc tính của nhà nướcpháp quyền, là điều kiện cơ bản để đảm bảo tự do chính trị Cốt lõi tư tưởngcủa ông là quyền lực nhà nước được chia thành: Quyền lập pháp, quyền hànhpháp, quyền tư pháp và ba quyền đó được giao cho ba cơ quan khác nhau.Ông cho rằng làm như vậy các bộ phận quyền lực sẽ kiềm chế lẫn nhau vàtránh được sự lạm quyền Tư tưởng này đã trở thành một trong những nộidung cơ bản của học thuyết nhà nước pháp quyền tư sản
Một trong những quan điểm mới có tính sâu sắc về nhà nước phápquyền tư sản đã được Rutxo (1712 – 1778) đưa ra Ông quan niệm con người
Trang 12khi thoát khỏi trạng thái tự nhiên với tính năng tự hoàn thiện đã phải liên kếtlại với nhau thành xã hội để bảo vệ và phát triển quyền tự do vốn có củamình Để tạo ra sức mạnh chung nhằm bảo vệ mọi thành viên trong xã hội cầnphải có một hình thức liên kết giữa con người với con người, cần có sự thỏathuận giữa nhân dân và nhà nước bằng khế ước xã hội Thông qua đó nhândân thực hiện được quyền của mình bằng cách nhân dân ủy quyền cho các đạibiểu trong bộ máy nhà nước Với sự thỏa thuận ấy con người mất đi cái tự do
tự nhiên, bị hạn chế những điều muốn làm, bù lại họ có quyền tự do dân sự vàquyền sở hữu những cái mà con người có Nếu nhà nước không đảm bảo được
tự do cho cá nhân, không đem lại lợi ích cho xã hội như mục đích ban đầu thìngười ta có quyền thỏa thuận lại để giành lấy tự do cho mình Vậy nên, nếuquyền lực nhà nước được tách ra thành các bộ phận thì chúng vẫn phải phụthuộc vào nhau mới thực hiện được ý chí chung
Đến I Kant (1724 – 1804) – học giả người Đức, lý thuyết về nhà nướcpháp quyền tư sản với tính cách là một học thuyết triết học – chính trị tươngđối hoàn chỉnh đã được xác định Kant triệt để tán thành việc áp dụng lýthuyết phân quyền Theo ông, ở đâu áp dụng nguyên tắc này thì ở đó có nhànước pháp quyền, nếu không chỉ là chuyên quyền Kant quan niệm nhà nước
là tập hợp của nhiều người cùng phục tùng các đạo luật, nhà nước phải hoạtđộng với mục đích đảm bảo cho sự thắng lợi của pháp luật, đồng thời nhànước cũng phải phục tùng những yêu cầu của pháp luật đó
Người đầu tiên sử dụng thuật ngữ nhà nước pháp quyền chính là RobertFon Mohn và Karl Teodor Valker Hai ông coi tính tối cao của pháp luật lànguyên tắc hàng đầu của nhà nước pháp quyền Tính tối cao đó thể hiện chủquyền của nhân dân dưới hình thức quyền lực của nghị viện Pháp luật thuầntúy chỉ là công cụ bảo vệ quyền tự do của con người khỏi sự can thiệp từ bênngoài Các ông quan niệm trong nhà nước pháp quyền cần phải đảm bảo tiêuchuẩn sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, có như vậy mới pháthuy hết quyền tự do và năng lực của mỗi thành viên trong xã hội Như vậy,điểm hội tụ của các nhà tư tưởng về nhà nước pháp quyền là quan điểm: Nhân
Trang 13dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, nhà nước phải đứng dưới pháp luật,quản lý xã hội bằng pháp luật Ở mỗi nước đều có hệ thống luật pháp riêngcủa mình với vị trí tối cao là hiến pháp, luật này phải tuân thủ theo tinh thần
cơ bản của pháp luật tự nhiên Pháp luật tự nhiên được xem như là cái cótrước nhà nước, đứng trên mọi nhà nước, được lý trí công nhận, giữ vai tròlãnh đạo cuộc sống xã hội, điều chỉnh hành vi của mọi người Về mặt tổ chứcquyền lực nhà nước nhất định phải được chia thành ba chức năng cơ bản:Làm luật, chấp hành pháp luật, giải quyết những vướng mắc trong quá trìnhchấp hành pháp luật, xử lý và trừng trị các vi phạm pháp luật
Từ những tư tưởng về nhà nước pháp quyền từ cổ đại đến cận đại nêutrên, có thể thấy tư tưởng về nhà nước pháp quyền phát triển không ngừng, làthành quả của nhân loại, nó hình thành và phát triển cùng với sự tiến bộ xãhội và cho đến nay đã được thế giới thừa nhận về mặt lý luận như một họcthuyết về nhà nước pháp quyền
Tại Hội nghị quốc tế về nhà nước pháp quyền được tổ chức tại nanh, năm 1992, các luật gia đã đưa ra nhiều khái niệm, tiêu chí về một nhànước pháp quyền và được đông đảo dư luận quốc tế đồng tình, bao gồm: Sựthừa nhận tính tối cao của pháp luật; việc xác định quyền lập pháp, hànhpháp, tư pháp trong bộ máy quyền lực nhà nước; việc tôn trọng quyền và lợiích hợp pháp của con người, tôn trọng pháp luật quốc tế v.v Tuy nhiên,chúng tôi cho rằng, vấn đề nhà nước pháp quyền đề cập đến phương thức tổchức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước dưới góc độ pháp luật, mà phápluật thì bao giờ cũng mang tính giai cấp và tính đặc thù của mỗi nhà nước,mỗi dân tộc; do đó, phương thức tổ chức xây dựng và vận hành của nhà nướcpháp quyền sẽ thể hiện cụ thể khác nhau về bản chất chế độ chính trị, hệthống quan điểm, mục đích nhiệm vụ của từng thời kỳ phát triển hoặc điềukiện cụ thể của mỗi nước, chứ không có mô hình, tiêu chí về nhà nước phápquyền đồng nhất cho tất cả các nước khác nhau
Bê-Từ những quan điểm trên, chúng tôi xin đua ra khái niêm về nhà nước
pháp quyền như sau: Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó phương
Trang 14thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước do pháp luật quy định
và thừa nhận tính tối cao của pháp luật; bao hàm việc xác định rõ ràng quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân để điều chỉnh những quan hệ pháp luật phát sinh trong xã hội, nhất là việc bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp cơ bản của công dân.
1.2.2 Khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Trước đổi mới, Đảng ta chưa dùng khái niệm nhà nước pháp quyền,mặc dù trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980 đã thể hiện tư tưởng Hồ ChíMinh trong xây dựng pháp luật và tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nướctheo tinh thần nhà nước pháp quyền ở mức độ nhất định Bắt đầu từ Hội nghịgiữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1 - 1994), Đảng ta dùng khái niệm nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa Văn kiện Đại hội IX khẳng định: “Nhà nước ta
là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nướcpháp quyền của dân, do dân, vì dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sựphân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện cácquyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Nhà nước quản lý xã hội bằng phápluật Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấphành Hiến pháp và pháp luật” Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011) thông qua tại Đại
hội XI khẳng định: “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc vềnhân dân…”
Để hiểu về khái niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ViệtNam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trước hết, cần hiểu rõ khainiệm pháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là sự tôn trọng, thực hiện pháp luật hiện
hanh một cách nghiêm minh, bình đẳng và thống nhất của các chủ thể trongtoàn xã hội Đây là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều mặt:
Trang 15Thứ nhất, pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc tổ chức hoạt động
của các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể quần chúng
Thứ hai, pháp chế là nguyên tắc đòi hỏi mọi công dân đều phải tôn
trọng và thực hiện đúng yêu cầu của pháp luật trong các hành vi xử sự củamình, được pháp làm những gì mà pháp luật không cấm
Thứ tư, pháp chế xã hội chủ nghĩa có quan hệ mật thiết với chế độ dân
chủ xã hội chủ nghĩa
Pháp chế và pháp luật là hai khái niệm có quan hệ chặt chẽ với nhau.Chúng là những khái niệm gần gũi, nhưng không đồng nhất Pháp luật là hệthống các quy phạm do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xãhội Pháp chế là một phạm trù thể hiện những yêu cầu, đòi hỏi đối với chủthể pháp luật, tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật Như vậy, pháp luật làtiền đề của pháp chế Nhưng có pháp luật chưa hẳn đã có pháp chế Phápluật ban hành ra mà không được tuân thủ, thi hành nghiêm chỉnh thì cũngkhông có pháp chế Ngược lại, pháp chế chỉ có thể được củng cố, tăngcường khi xã hội có một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ,phù hợp và kịp thời
Nhà nước của dân, do dân và vì dân theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà
nước thực hiện quyền lực của nhân dân, dựa vào sức mạnh của nhân dân,trước hết là nhân dân lao động Nhân dân theo quan niệm của Chủ tịch HồChí Minh là toàn dân, là tất cả đàn ông, đàn bà, người già ,người trẻ , khôngphân biệt giai cấp, dân tộc, đảng phái, tôn giáo, Người cho rằng “trong bầutrời không có gì quí bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lựclượng đoàn kết của nhân dân”
Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta (1946) do Chủ tịch Hồ ChíMinh soạn thảo, ngay từ Điều 1 đã khẳng định: “Tất cả quyền bính trongnước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai,giàu nghèo, giai cấp” Xuất phát từ lòng tin sâu sắc vào truyền thống tốt đẹpcủa nhân dân ta, cho dù trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn sau khi cách mạngmới thành công - giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm đang hoành hành;