1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao học htctqtcs phân tích vai trò của truyền thông đại chúng trong quá trình chính sách bình đẳng giới (khảo sát trên dữ liệu đài pt th cần thơ)

23 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận cao học htctqtcs phân tích vai trò của truyền thông đại chúng trong quá trình chính sách bình đẳng giới (khảo sát trên dữ liệu đài PT Th Cần Thơ)
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Chính Sách Xã Hội / Truyền Thông
Thể loại Tiểu luận cao học
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 44,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1 II NỘI DUNG 2 2 1 Vai trò của báo chí truyền thông về vấn đề bình đẳng giới 2 2 2 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới và truyền thông liên quan[.]

Trang 1

MỤC LỤC

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

II NỘI DUNG 2 2.1 Vai trò của báo chí truyền thông về vấn đề bình đẳng giới 2 2.2 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới và truyền thông liên quan tới về vấn đề bình đẳng giới 7

2.3 Vai trò của Đài PT-TH Cần Thơ trong quá trình chính sách bình đẳng giới 11

III KẾT LUẬN 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 2

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong tiến trình phát triển xã hội, vấn đề về bình đẳng giới (BĐG) đã

và đang thu hút sự quan tâm của hầu hết các nước trên thế giới và trở thànhmục tiêu phát triển của quốc gia Những năm qua, Việt Nam luôn được đánhgiá là nước có nhiều chính sách tiến bộ về vấn đề phụ nữ và BĐG Theo Báocáo đánh giá tình hình giới ở Việt Nam, tháng 12/2006 của Ngân hàng thếgiới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Vụ phát triển quốc tế Anh(DFID) và cơ quan phát triển quốc tế Canađa thì “Việt Nam là một trongnhững nước dẫn đầu thế giới về tỉ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, làmột trong những nước tiến bộ hàng đầu về BĐG, là quốc gia đạt được sự thayđổi nhanh chóng nhất về xóa bỏ khoảng cách giới trong 20 năm qua ở khuvực Đông Á Tuy nhiên không phải vì những thành tựu đó mà Việt Nam đãđạt được mục tiêu BĐG thực sự Thực tế cho thấy thực trạng bất BĐG,khoảng cách giới, phân biệt đối xử về giới ở Việt Nam vẫn đang tồn tại trongđời sống xã hội, tiêu biểu như: định kiến giới, bạo lực gia đình, bất bình đẳng

về vị trí, vai trò của phụ nữ so với nam giới trong các lĩnh vực của đời sống

xã hội

Sự ra đời của Luật Bình đẳng giới (2007) là một minh chứng về sựquyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc hướng tới mục tiêu BĐG Để gópphần vào việc thực hiện mục tiêu này, theo nhiều chuyên gia, rất cần sự chungtay của toàn xã hội, trong đó phải kể tới sự tham gia có trách nhiệm củatruyền thông đại chúng bởi truyền thông đại chúng được xem là một thiết chế

xã hội và như là một cơ quan quyền lực thứ tư, bên cạnh các cơ quan hànhpháp, tư pháp và lập pháp có vai trò hết sức quan trọng đối với các hoạt độngcủa con người Do đó, thông tin giáo dục truyền thông có vai trò to lớn trongquá trình làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của các nhóm xã hội vềBĐG, góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng của nền kinh tế Điều đó đãđược Luật BĐG ghi rõ tại khoản 1, điều 23: “Thông tin giáo dục truyền thông

Trang 3

về giới và BĐG là biện pháp quan trọng nhằm nâng cao nhận thức về giới vàBĐG”

Thực tế thời gian qua, truyền thông đại chúng Việt Nam có nhiều đónggóp quan trọng trong việc tuyên truyền, định hướng cộng đồng thực hiệnđường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề BĐG Thông qua cácphương tiện truyền thông, các cá nhân mà đặc biệt là phụ nữ, tiếng nói của họđảm bảo được lắng nghe Phụ nữ Việt Nam vừa là chủ thể vừa là khách thểtrong hoạt động truyền thông.Thời lượng các chương trình dành cho phụ nữ

ưu tiên nhiều so với các lĩnh vực khác Cấp Trung ương hiện nay có 3 tờ báodành riêng cho nữ giới: Báo Phụ nữ Việt Nam của Hội LHPN Việt Nam, là tờbáo đại diện cho các tầng lớp phụ nữ của cả nước; các ấn phẩm Thế giới phụ

nữ, Hạnh phúc gia đình, Phụ nữ Việt Nam cuối tuần thực sự trở thành ngườibạn đồng hành của giới nữ và của mọi gia đình

Đề tài: “Phân tích vai trò của truyền thông đại chúng trong quá trình

chính sách bình đẳng giới (Khảo sát trên dữ liệu Đài PT-TH Cần Thơ)

được tác giả lựa chọn và thực hiện với mong muốn sẽ phân tích vai trò củatruyền thông đại chúng tác động đến quá tình chính sách bình đẳng giới để cógiải pháp cải thiện vấn đề này hiện nay

Trang 4

II NỘI DUNG

2.1 Vai trò của báo chí truyền thông về vấn đề bình đẳng giới 2.1.1 Khái niệm về truyền thông báo chí

Truyền thông từ tiếng Anh: Communication có nghĩa là sự truyền đạt,thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi liên lạc, giao thông…

Thuật ngữ “truyền thông” có nguồn gốc từ tiếng Latinh là

“Commune”, có nghĩa là cộng đồng Nội hàm của nó là nội dung, cách thức,phương tiện, con đường để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau giữa cá nhân với cánhân, giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội Nhờ truyền thông giao tiếp mà conngười tự nhiên trở thành con người xã hội [4]

Đó là điều kiện để tạo nên những mối quan hệ giữa người với người.như thế truyền thông được hiểu là một kiểu tương tác xã hội, trong đó ít nhất

có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chi sẻ các quy tắc và tín hiệu chung ởdạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi đến người nhận ở dạngphức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và người nhận pháttriển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một người hiểunhững gì người khác nói (ra hiệu hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm

và biểu tượng, và học được cú pháp của ngôn ngữ Theo John R.Hober(1954), truyền thông là quá trình trao đổi tư duy hoặc ý tưởng bằng lời

Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian, trong đóbao gồm các yếu tố tham dự chính:

+ Nguồn: là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trìnhtruyền thông Nguồn phát là một người hay một nhóm người mang nội dungthông tin trao đổi với người hay nhóm người khác

+ Thông điệp: là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đếnđối tượng tiếp nhận Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong

Trang 5

muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học - kỹthuật… được mã hoá theo một hệ thống ký hiệu nào đó

+ Kênh truyền thông: là các phương tiện, con đường, cách thức chuyểntải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Căn cứ vào tính chất,đặc điểm cụ thể, người ta chia truyền thông thành các loại hình khác nhaunhư: truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm, truyền thông đại chúng,truyền thông trực tiếp, truyền thông đa phương tiện…

+ Người nhận: là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệptrong quá trình truyền thông Hiệu quả của truyền thông được xem xét trên cơ

sở những biến đổi về nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng tiếp nhậncùng những hiệu ứng xã hội do truyền thông đem lại

+ Phản hồi/Hiệu quả: là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp

từ người nhận trở về nguồn phát Mạch phản hồi là thước đo hiệu quả củahoạt động truyền thông Trong một số trường hợp, mạch phản hồi bằng khônghoặc không đáng kể Điều đó có nghĩa là thông điệp phát ra không hoặc ít tạođược sự quan tâm của công chúng

+ Nhiễu: là yếu tố gây ra sự sai lệch không được dự tính trước trongquá trình truyền thông (tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lý, kỹ thuật…) dẫnđến tình trạng thông điệp, thông tin bị sai lệch

Quá trình truyền thông còn tính đến hai yếu tố nữa Đó là hiệu lực vàhiệu quả truyền thông Hiệu lực có thể hiểuu là khả năng gây ra và thu hút sựchú ý cho công chúng - nhóm đối tượng truyền thông Hiệu quả là những hiệuứng xã hội về nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng- nhóm đối tượng

do truyền thông tạo ra phù hợp với mong đợi của nhà truyền thông Hiệu lực

và hiệu quả có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau

2.1.2 Vai trò của báo chí truyền thông

Trang 6

Báo chí có chức năng, vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống xãhội Đó là các chức năng thông tin, chức năng tư tưởng, chức năng khái sang -giải trí, chức năng tổ chức - quản lý, giám sát và phản biện xã hội, chức năngkinh tế - dịch vụ

Thông tin là chức năng cơ bản, chức năng khởi nguồn của bảo chí Báochí ra đời là để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu thông tin giao tiếp của con người

và xã hội Xã hội càng phát triển, con người càng văn minh thì nhu cầu thôngtin giao tiếp càng cao, càng đa dạng phong phú Quá trình đáp ứng nhu cầunày làm cho báo chí phát triển nhanh chóng Một số yêu cầu của chức năngthông tin

- Chức năng tư tưởng là chức năng xuyên suốt, thể hiện tính mục đíchcủa báo chí Với chức năng này, theo quan điểm của Đảng ta, báo chí là công

cụ, phương tiện quan trọng dùng để truyền bá hệ tư tưởng của Đảng, giáo dục

lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và làm cho hệ tư tưởng - lý luậnnày trở thành chủ đao, chiếm ưu thế trong đời sống tinh thần, tư tưởng củađâng đảo nhân dân Báo chí là một binh chủng xung kích, đi đầu trong côngtác tư tưởng của Đảng

- Chức năng khai sáng - giải trí được hiểu rằng, báo chí không chỉ làkênh thông tin - truyền thông quan trọng cung cấp thông tin, kiến thức, màcòn là diễn đàn trao đổi, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm phong phú nhằmnâng cao trình độ dân trí, đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững Văn hóa làhiện tượng xã hội đặc biệt Hệ thống giá trị văn hóa được tồn tai và phát triểntrong quá trình giao lưu và truyền tải từ người này sang người khác, từ cộngđồng này sang cộng đồng khác và từ thế hệ này đến thế hệ khác Báo chí làkênh quan trọng cung cấp thông tin, kiến thức, giáo dục, giao lưu, truyền tải,tiếp biến văn hóa có hiệu quả nhất Giải trí là nhu cầu ngày càng đòi hỏi caotrong điều kiện kinh tế thị trường

Trang 7

Đó là quá trình báo chí tham gia và tạo điều kiện giúp công chúng sửdụng thời gian rỗi hợp lý, đáp ứng nhu cầu cân bằng trạng thái tâm lý để táisản xuất sức lao động Trên các loại hình báo chí và các dạng thức truyềnthông hiện đại ngày càng có nhiều phương thức giải trí thú vị và hữu ích, nhất

là truyền hình, phát thanh, báo mạng điện tử và mạng xã hội Giải trí cũng làcách thức phổ biến, bảo vệ hệ giá trị văn hóa

- Chức năng quản lý, giám sát và phản biện xã hội của báo chí thể hiện

ở chỗ, báo chí duy trì và phát triển mối liên hệ chặt chẽ giữa chủ thể và kháchthể quản lý thông qua việc duy trì và phát triển dòng thông tin hai chiều, bảođảm cho các quyết định quản lý được thông suốt và thực thi, Giám sát có thểđược hiểu là “theo dõi, kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy địnhkhông” Điều đó có nghĩa là, giám sát bao gồm hai quá trình, theo dõi và kiểmtra Giám sát có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm cho hoạt độngđược thực hiện đúng mục đích và đạt hiệu quả tốt nhất trong điều kiện có thể,theo mục tiêu, chương trình, kế hoạch đã đề ra

Giám sát xã hội của báo chí là quá trình báo chí bằng mọi phương thứchuy động sức lực, trí tuệ và cảm xúc của đông đảo nhân dân với tinh thầntrách nhiêm chính trị cao nhất trong việc theo dõi, kiểm tra quá trình thưc hiệnđường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, bảo đảmđạt được mục đích cao nhất trong điều kiện có thể Giám sát xã hội của báochí bao gồm các bình diện khác nhau, như theo dõi, kiểm tra phát hiện nhữngnơi làm đúng, làm tốt để biểu dương và nhân rộng; theo dõi và kiểm tra đểphát hiện những nơi làm trệch, làm sai để uốn nắn và đấu tranh, bảo đảm chođường lối, chính sách chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước được thực thiđúng trong thực tế…

- Chức năng kinh tế - dịch vụ Vấn đề kinh tế và dịch vụ xã hội của báochí, truyền thông hiện nay Chức năng này xuất phát từ đòi hỏi khách quancủa họat động báo chí trong nền kinh tế thị trường; đồng thời theo quan điểm

Trang 8

chỉ đạo của các văn kiện chính trị của Đảng và Nhà nước, như Nghị quyết

TW 5 (khóa VIII), các văn bản dưới luật…

2.1.3 Vai trò của báo chí truyền thông về vấn đề bình đẳng giới

Truyền thông có vị trí vai trò rất quan trọng trong sự phát triển xã hộingày nay Nó tác động vào ý thức xã hội để hình thành và củng cố một hệthống tư tưởng chính trị lãnh đạo đối với xã hội; liên kết các thành viên trong

xã hội thành một khối đoàn kết, một chỉnh thể trên cơ sở lập trường, thái độchính trị chung

Truyền thông còn thực hiện chức năng giám sát và quản lý xã hội, theodõi phát hiện, phản ánh kịp thời những vấn đề, mâu thuẫn mới nảy sinh, gópphần ổn định chính trị xã hội Truyền thông tạo ra không gian công cộng chocác ý kiến cá nhân được quyền phát biểu, chia sẻ và tiếp nhận thông tin cộngđồng Các phương tiện truyên thông đại chúng là diễn đàn xã hội và là nơidành cho chính quyền từ trung ương đến địa phương, từ cơ quan lập pháp đếnhành pháp có thể trả lời trươc dân, giải thích chủ trương đường lối, tìm sự ủng

hộ của những người cùng chứng kiến Ngoài ra, truyền thông đại chúng còngóp phần giải quyết nhiệm vụ thông tin hóa xã hội, gia tăng hiệu quả thời sựcủa sự việc trên cơ sở khai thác, cảm nhận tâm lý về sự hiện diện và mối quantâm của khán giả với các sự kiện đang diễn ra

Hoạt động truyền thông về vấn đề BĐG trên báo chí chính là nâng caonhận thức, hiểu biết của các tầng lớp nhân dân hiểu về BĐG Nâng cao nhậnthức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể và nhân dân về ý nghĩa

và tầm quan trọng của truyền thông về vấn đề BĐG Hiện tại nhận thức vềBĐG chưa được rõ ràng Có nơi hiểu BĐG là giải phóng phụ nữ trên tất cảcác mặt mà quên điều kiện sinh học nam nữ khác nhau căn bản

Truyền thông thực hiện tốt việc tuyên truyền đường lối, chủ trương củaĐảng, chính sách của Nhà nước về BĐG đồng thời các cơ quan truyền thôngđai chúng còn trực tiếp tham gia vào việc giám sát thực thi pháp luật Với

Trang 9

chức năng và nhiệm vụ của mình, các phương tiện truyền thông thông tin,tuyên truyền, phản ánh sinh động những vấn đề cuộc sống, đó là việc pháthiện, biểu dương, nhân rộng những nhân tố mới, gương điển hình thực thiLuật BĐG Qua những nội dung thông tin này, truyền thông đã giới thiệunhững tấm gương phụ nữ điển hình trên các lĩnh vực để người dân tham khảo,học tập.

2.2 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới và truyền thông liên quan tới về vấn đề bình đẳng giới

2.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới

Trong cuốn Đường Cách mệnh viết năm 1929, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã lưu ý: “Ông Các Mác nói rằng: Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửasang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi Xem tưtưởng và việc làm của đàn bà, con gái thì biết xã hội tiến bộ ra thế nào” [1,tr.264-265]

Điều 6, Hiến pháp đầu tiên của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam năm 1946, khẳng định: “Tất cả các công dân Việt Nam đều ngangquyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa” và Điều 9 “Đàn bàngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”

Tiếp đến trong Hiến pháp lần thứ 2 năm 1959 vấn đề này một lần nữađược khẳng định trong Điều 24 với nội dung đầy đủ và toàn diện hơn: “Phụ

nữ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có quyền bình đẳng với nam giới vềcác mặt, sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình Cùng làmviệc như nhau, phụ nữ được hưởng ngang lương với nam giới Nhà nước đảmbảo cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau đẻ vẫngiữ nguyên lương Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em, bảođảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ”

Trang 10

Bình đẳng của phụ nữ theo Người là “trong gia đình cũng như ngoài xãhội công việc của phụ nữ phải được phân công một cách khoa học, thoả đángphù hợp với sức khoẻ thể chất, tính cách, chức năng của chị em”, để tạo điềukiện phát huy mọi khả năng [3, tr.433].

Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng cộng sản viết năm 1930, khi bàn

về chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới

xã hội cộng sản, Hồ Chủ tịch nói rõ: “Về phương diện xã hội thì nam nữ bìnhquyền” [1, tr.301] đó là một mục tiêu của cuộc cách mạng này

Theo Người: “Nói phụ nữ là nói phần nửa của xã hội Nếu không giảiphóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người Nếu không giảiphóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” [2, tr.110]

Hiểu rõ nỗi thống khổ của phụ nữ và sự ràng buộc của xã hội cũ đối với

họ, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Để giải phóng phụ nữ phải có sự góp sức của tổ chứcĐảng, chính quyền các cấp, các đoàn thể quần chúng, đồng thời phải có sựđấu tranh của bản thân phụ nữ

2.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới

Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn luôn quan tâm đến vấn đề bìnhđẳng nam nữ và đảm bảo để phụ nữ được tham gia đầy đủ, bình đẳng trongcông cuộc xây dựng và phát triển đất nước Đảng ta luôn khẳng định, phụ nữ

là một lực lượng to lớn, phụ nữ có vai trò quan trọng trong sản xuất và hoạtđộng xã hội, có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến sự phát triển của đất nước.Quan điểm của Đảng và Nhà nước về BĐG đã được thể hiện rất rõ trong hàngloạt các văn bản pháp luật Trước hết thể hiện trong Hiến pháp của nước ViệtNam Dân chủ Cộng hoà từ năm 1946 và được khẳng định trong Điều 63,Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 1992: “Công dân nam nữ có quyền ngangnhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình Nhà nước và xã hội tạođiều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai tròcủa mình trong xã hội”

Trang 11

Tiếp theo đó là hàng loạt các văn bản pháp luật khác như: Nghị quyết

31 của Hội đồng Chính phủ (1967) quy định: Phải bồi dưỡng lực lượng laođộng nữ; những công việc thích hợp với phụ nữ nhất thiết phải được sử dụngphụ nữ; những công việc độc hại không phù hợp với điều kiện sinh lý của phụ

nữ thì không được sử dụng lao động nữ Nghị quyết 04/TW ngày 12/7/1993của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới và tăng cườngcông tác vận động phụ nữ trong tình hình mới đã nêu rõ “Mục tiêu giải phóngphụ nữ hiện nay là thiết thực cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của chị

em, nâng cao vị trí xã hội của phụ nữ, thực hiện tốt nam nữ bình đẳng ” Chỉthị số 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban bí thư Trung ương Đảng về “Côngtác cán bộ nữ trong tình hình mới” đã nhấn mạnh: “ Việc nâng cao tỷ lệ cán

bộ nữ tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội là yêu cầu quantrọng để thực hiện bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tàinăng, trí tuệ và nâng cao địa vị của phụ nữ”

Nghị quyết số 11-NQ/T.Ư ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị về “côngtác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”đã nêu:bằng việc nâng cao nhận thức về công tác phụ nữ và bình đẳng giới Xâydựng, hoàn thiện và thực hiện tốt hệ thống luật pháp, chính sách về bình đẳnggiới, tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ…đến năm 2020, phụ nữ đượcnâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụđáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; cóviệc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần; thamgia ngày càng nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; đónggóp ngày càng lớn hơn cho xã hội và gia đình Phấn đấu để nước ta là mộttrong các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực

Gần đây nhất, ngày 29/10/2006, Quốc hội đã thông qua Luật BĐG,khẳng định quyết tâm của Nhà nước Việt Nam trong việc thúc đẩy BĐG vớinhững quy định về BĐG trong các lĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội

Ngày đăng: 27/05/2023, 11:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, Tập 1
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
2. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, Tập 2
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
3. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
4. Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (Đồng chủ biên) (2011), Cơ sở lý luận báo chí truyền thông, 2011, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí truyền thông
Tác giả: Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
5. Mai Quỳnh Nam (2001), "Vấn đề nghiên cứu hiệu quả truyền thông đại chúng", Tạp chí Xã hội học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nghiên cứu hiệu quả truyền thôngđại chúng
Tác giả: Mai Quỳnh Nam
Năm: 2001
6. Đoàn Phương Nam (2008), Báo Đảng các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long hiện nay, Luận văn thạc sĩ Truyền thông đại chúng, Học viện Báo chí và tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Đảng các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long hiện nay
Tác giả: Đoàn Phương Nam
Nhà XB: Học viện Báo chí và tuyên truyền
Năm: 2008
7. Sơn Nam (2004), Đồng bằng sông Cửu Long - nét sinh hoạt xưa và văn minh miệt vườn, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng bằng sông Cửu Long - nét sinh hoạt xưa và văn minh miệt vườn
Tác giả: Sơn Nam
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2004
8. Nhà xuất bản Phụ nữ (1970), Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề giải phóng phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề giải phóng phụ nữ
Nhà XB: Nhà xuất bản Phụ nữ
Năm: 1970
9. Phạm Việt Phong (2009), "Để báo chí Đồng bằng Sông Cửu Long ngày càng phát triển", Tạp chí Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam , ngày 13/09/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để báo chí Đồng bằng Sông Cửu Long ngày càng phát triển
Tác giả: Phạm Việt Phong
Nhà XB: Tạp chí Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2009
10. Website: www. baocantho.com.vn 11. Website: https://canthotv.vn/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w