Microsoft Word e3ce e74c b90a 45d9 doc ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT & BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC (NCS) ĐỀ TÀI PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TR[.]
PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Theo nghiên cứu của Đại học Yale, Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia ô nhiễm không khí nhất thế giới, với tổn thất do ô nhiễm môi trường ước tính lên tới 5,5% GDP hàng năm theo Ngân hàng Thế giới Mỗi năm, Việt Nam thiệt hại 780 triệu USD trong lĩnh vực sức khỏe cộng đồng do ô nhiễm Sự kiện thủy sản chết hàng loạt vào ngày 6 tháng 4 năm 2016 tại các tỉnh ven biển miền Trung, do công ty Formosa gây ra, đã gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường Mặc dù phát triển công nghiệp mang lại nhiều lợi ích, nhưng nó cũng đặt ra thách thức lớn cho việc bảo vệ môi trường, đặc biệt tại 21 khu kinh tế cửa khẩu trên cả nước.
Khu kinh tế ven biển (KKTVB) và khu kinh tế (KKT) tại Việt Nam tạo ra môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi cho các nhà đầu tư Mục tiêu chính của việc xây dựng các KKT là thử nghiệm các mô hình và chính sách mới nhằm thúc đẩy phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng cường xuất khẩu cho nền kinh tế Phát triển các KKT là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, tuy nhiên, cần đảm bảo rằng sự phát triển này tuân thủ nguyên tắc bền vững.
Tại các KKT, yêu cầu bảo vệ môi trường rất khắt khe do quy mô hoạt động lớn, đòi hỏi tính tổ chức cao hơn so với cơ sở sản xuất nhỏ lẻ Nhiều văn bản pháp luật như Luật Bảo vệ môi trường 2014 và các nghị định liên quan đã được ban hành để quản lý và bảo vệ môi trường trong hoạt động của KKT Tuy nhiên, hệ thống văn bản này vẫn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ và ổn định, dẫn đến việc quản lý môi trường chưa hiệu quả Việc giám sát và kiểm tra công tác bảo vệ môi trường tại các KKT chưa được thực hiện thường xuyên, khiến cho các sự cố ô nhiễm chỉ được phát hiện khi có phản ánh từ người dân Nhiều KKT không tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường, như thiếu khu xử lý nước thải tập trung hoặc thiết bị xử lý chất thải không hiệu quả Đầu tư cho môi trường làm tăng chi phí hoạt động, ảnh hưởng đến lợi nhuận, dẫn đến việc một số doanh nghiệp cố tình vi phạm Do đó, bảo vệ môi trường trong hoạt động của các KKT ở Việt Nam là nhiệm vụ cấp thiết, cần có nghiên cứu đánh giá và so sánh với các quy định bảo vệ môi trường của các nước khác để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật Tôi quyết định chọn đề tài: “Pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam và một số nước trong hoạt động các khu kinh tế - Dưới góc độ so sánh” làm đề tài nghiên cứu của mình.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam trong những năm qua vấn đề chính sách pháp luật BVMT trong các hoạt động của con người nói chung và các KCN, KKT nói riêng rất được các tác giả quan tâm nghiên cứu dưới nhiều gốc độ khác nhau Cụ thể có các công trình điển hình sau đây:
Thứ nhất, sách chuyên khảo: Qua khảo sát người nghiên cứu nhận thấy có các công trình nghiên cứu liên quan, điển hình sau đây:
Cuốn “Bình luận khoa học và định hướng giải quyết một số vụ tranh chấp môi trường điển hình”, của Lê Hồng Hạnh, Vũ Thu Hạnh, Nguyễn Văn
Cuốn sách của Phương, xuất bản năm 2010, xây dựng các tình huống giả định dựa trên thông tin tổng hợp từ một số vụ tranh chấp môi trường điển hình và thực tiễn giải quyết các tranh chấp này tại Việt Nam trong thời gian qua.
Cuốn “Quản lý chất thải rắn (tập 1)” của Trần Hiếu Nhuệ, Ưng Quốc
Cuốn sách của Dũng và Nguyễn Thị Kim Thái, xuất bản năm 2011, nghiên cứu các biện pháp thu gom, tập trung, vận chuyển và xử lý chất thải rắn đô thị, cũng như các phương pháp tận thu chất thải từ hoạt động công nghiệp Tác giả cũng chỉ ra các công cụ pháp lý và chính sách quản lý chất thải rắn tại Việt Nam.
Cuốn sách "Cơ chế giải quyết bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường" của tác giả Vũ Thu Hạnh, xuất bản năm 2012, đã tiến hành nghiên cứu sâu sắc về lý luận, thực trạng và đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến cơ chế bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường tại Việt Nam.
Nghiên cứu về bảo vệ môi trường ở Việt Nam và các nước trong hoạt động các Khu kinh tế đã thu hút nhiều đề tài nghiên cứu, trong đó có đề tài “Tuân thủ - cưỡng chế - giám sát trong kiểm soát ô nhiễm môi trường” của Vũ Thu Hạnh thực hiện năm 2010 Công trình này tập trung vào lý luận kiểm soát ô nhiễm môi trường dựa trên ba nguyên tắc: tuân thủ, cưỡng chế và giám sát Qua việc phân tích thực trạng thực thi pháp luật về kiểm soát ô nhiễm, đặc biệt là vụ việc của Công ty Vedan Việt Nam, đề tài đã đề xuất các giải pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường hiệu quả Bên cạnh đó, đề tài “Điều tra, khảo sát, đánh giá đa dạng sinh học vùng biển KKT” cũng góp phần quan trọng trong nghiên cứu này.
Đề tài "Giải pháp giảm thiểu tác hại môi trường đến đa dạng sinh học" do Viện Nghiên cứu quản lý biển và hải đảo thực hiện năm 2013 dưới sự chủ trì của Vũ Thanh Ca đã phân tích dữ liệu về hệ sinh thái KKT Dung Quất, bao gồm các loài san hô, cá triều, cá rạn san hô, rong biển, thân mềm, hai mảnh vỏ, tôm cua và hiện trạng môi trường ven bờ Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho quy hoạch và định hướng phát triển KKT Dung Quất, đồng thời đề xuất các kỹ năng giải quyết xung đột trong lĩnh vực môi trường tại Việt Nam.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường mang tên “Nam” do Vũ Thị Hạnh chủ nhiệm, thực hiện vào năm 2014, tập trung vào việc phân tích các biểu hiện và nguyên nhân của xung đột môi trường Nghiên cứu này nhằm chia sẻ những kinh nghiệm và kỹ năng cụ thể cần thiết để giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực môi trường tại Việt Nam.
Thư ba, về Luận án tiến sĩ:
Luận án “Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam” của tác giả Lưu Ngọc Tô Tâm, năm 2012, tại Đại học Luật Hà Nội, nghiên cứu sâu về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển Công trình nhấn mạnh sự cần thiết của việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển thông qua pháp luật, dựa trên các quy định của pháp luật quốc tế và Việt Nam Đồng thời, luận án làm rõ quá trình hình thành và nội dung hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, liên quan chặt chẽ đến phát triển kinh tế, an ninh chính trị, văn hóa và quốc phòng Từ đó, tác giả đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Luận án “Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong BVMT ở Việt
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Anh Đào, được thực hiện năm 2013 tại Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, đã làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường Tác giả đã đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về việc áp dụng các công cụ này và đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường thông qua các công cụ kinh tế.
Luận án “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam” của tác giả Bùi Đức Hiển, năm 2016 tại Viện Hàn lâm khoa học xã hội
Luận án tại Học viện Khoa học xã hội Việt Nam nghiên cứu sâu về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí Công trình làm rõ lý luận và pháp luật liên quan đến vấn đề này, phân tích các quy định hiện hành, đồng thời chỉ ra thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong việc kiểm soát ô nhiễm không khí Ngoài ra, luận án cũng xem xét thực tiễn thực hiện pháp luật và đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí tại Việt Nam.
Thứ tư, các bài báo khoa học đăng trên các tạp chi nghiên cứu:
Bài viết “Môi trường khu công nghiệp, khu chế xuất các tỉnh phía bắc - Thực trạng và bài học kinh nghiệm” của tác giả Phương Nhung, đăng trên tạp chí Quản lý Nhà nước, số 174/2010, nêu rõ thực trạng môi trường tại các khu công nghiệp (KCN) và khu chế xuất (KCX) ở phía Bắc Bài báo cũng đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác bảo vệ môi trường tại các KCN, KCX, góp phần nâng cao chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững.
Bài viết "Vấn đề thực thi pháp luật về quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Lê Kim Nguyệt, đăng trên tạp chí Khoa học ĐHQGHN số 27/2011, đã nêu rõ thực trạng thực thi pháp luật trong lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam Bài báo cũng đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường, đặc biệt là trong quản lý chất thải nguy hại.
Bài viết "Phát triển các KKT ven biển - Bước đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế vùng ở Việt Nam" của tác giả Thân Trọng Thụy và Phạm Xuân Hậu, đăng trên tạp chí Khoa học ĐHSP TP Hồ Chí Minh số 41/2012, khái quát các tiền đề phát triển của các khu kinh tế (KKT) trên thế giới và các khu kinh tế ven biển (KKTVB) tại Việt Nam.
Bài viết "Pháp luật quốc tế về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường" của ThS Mai Hải Đăng, đăng trên Tạp chí Luật học số 6/2013, đã tổng hợp và phân tích các quy định của các Công ước quốc tế liên quan đến bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu, bao gồm Công ước trách nhiệm dân sự năm 1969, Công ước quỹ năm 1971, Công ước trách nhiệm dân sự năm 1992, Công ước quỹ năm 1992 và Nghị định thư bổ sung Quỹ 2003 Bài báo cũng đưa ra nhận xét và gợi ý nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
Bài “Chính sách pháp luật môi trường bảo đảm phát triển bền vững ở
Bài viết "Việt Nam trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam" của tác giả Bùi Đức Hiển, đăng trên Tạp chí Luật học số, phân tích những nội dung quan trọng trong văn kiện của Đại hội XI, nhấn mạnh vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc định hướng phát triển đất nước Tác giả cũng đề cập đến các chính sách và chiến lược quan trọng nhằm thúc đẩy sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Bài viết này tập trung vào việc phân tích cơ sở lý luận pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động của các khu kinh tế (KKT) tại Việt Nam và một số quốc gia khác Qua đó, nó so sánh các quy định về bảo vệ môi trường trong các KKT, nhằm rút ra bài học kinh nghiệm để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động của các KKT ở Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu quy định pháp luật về bảo vệ môi trường tại Việt Nam và một số quốc gia khác liên quan đến hoạt động của các khu kinh tế (KKT) là cần thiết Đề tài cũng sẽ cung cấp luận chứng cho việc đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong các KKT ở Việt Nam Bên cạnh đó, nghiên cứu sẽ xem xét các quan điểm và học thuyết khoa học liên quan đến bảo vệ môi trường trong hoạt động tại các KKT.
Để giải quyết thấu đáo đề tài nghiên cứu, cần xem xét hệ thống quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động của các khu kinh tế (KKT) tại Việt Nam và các quốc gia khác Cụ thể, nghiên cứu sẽ tập trung vào ba giai đoạn: (i) Pháp luật về bảo vệ môi trường trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư xây dựng KKT; (ii) Pháp luật về bảo vệ môi trường trong giai đoạn triển khai thi công xây dựng KKT; và (iii) Pháp luật về bảo vệ môi trường trong giai đoạn hoạt động của KKT.
Nghiên cứu này tập trung vào cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động của các khu kinh tế (KKT) tại Việt Nam, đồng thời so sánh với một số quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore.
Nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động của các khu kinh tế (KKT) tại Việt Nam và một số quốc gia khác được thực hiện từ năm 2010 đến tháng 12 năm 2018.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu dựa trên triết học Mác – Lênin, tập trung vào phép duy vật biện chứng để phân tích mối quan hệ giữa hoạt động của các khu kinh tế (KKT) và ô nhiễm môi trường Nghiên cứu cũng tuân thủ các chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường (BVMT) tại các KKT trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Bên cạnh sử dụng phương pháp luận xuyên suốt cho cả quá trình nghiên cứu, công trình còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác, như:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu được áp dụng để kế thừa các luận điểm khoa học từ những công trình nghiên cứu đã công bố, liên quan đến bảo vệ môi trường (BVMT) nói chung và trong hoạt động của các khu kinh tế (KKT) nói riêng Nghiên cứu này cũng dựa trên những thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như Luật Môi trường, Luật Hành chính, Luật Hình sự, Luật Dân sự, Luật Đầu tư, và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật.
Phương pháp phân tích và tổng hợp sẽ được áp dụng xuyên suốt nghiên cứu để tổng quan các công trình lý luận và thực tiễn về bảo vệ môi trường (BVMT) trong hoạt động của các khu kinh tế (KKT) Nghiên cứu sẽ tập trung vào khái niệm và đặc điểm của pháp luật về BVMT trong các KKT, đồng thời đánh giá và bình luận các quan điểm, quy định pháp luật, và tình huống thực tiễn Những kết quả này sẽ làm cơ sở cho các kết luận khoa học và đề xuất khung pháp luật hoàn thiện về BVMT trong hoạt động của các KKT tại Việt Nam và một số quốc gia khác hiện nay.
Phương pháp so sánh sẽ được tác giả áp dụng chủ yếu trong chương 2 để đối chiếu các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động của các khu kinh tế ở Việt Nam với các quy định tương tự ở một số quốc gia khác.
Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động của các Khu kinh tế
Chương 2: Pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường trong hoạt động các Khu kinh tế của Việt Nam và một số nước
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động các Khu kinh tế ở Việt Nam trên cơ sở vận dụng kinh nghiệm một số nước.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC KHU KINH TẾ
Những vấn đề lý luận cơ bản về khu kinh tế
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của khu kinh tế
Lịch sử phát triển đã chứng minh vai trò quan trọng của các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế trong sự phát triển của mỗi quốc gia, thể hiện tính hiệu quả của mô hình thu hút đầu tư và tăng trưởng công nghiệp Các khái niệm về KCN, KCX và KKT đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả và công trình nghiên cứu Qua khảo sát, tác giả nhận thấy đã có nhiều nghiên cứu nhằm lý giải về KKT.
Khu kinh tế (KKT) được định nghĩa bởi Cơ quan tư vấn Tài chính và Đầu tư (FIAS) là một khu vực địa lý có ranh giới rõ ràng, do một cơ quan quản lý, nơi các pháp nhân nhận được ưu đãi như thuế và hải quan khi thực hiện hoạt động kinh tế Ngân hàng Thế giới (ADB) mô tả Đặc khu kinh tế (SEZ) là vùng lãnh thổ của quốc gia nhưng được điều hành bởi cơ quan hành chính riêng, cho phép nhà đầu tư hưởng ưu đãi về dịch vụ, nghĩa vụ và thuế Tại Việt Nam, khái niệm KKT đã được ghi nhận trong Nghị định 29/2008/NĐ-CP, định nghĩa là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư thuận lợi Nghị định số 82/2018/NĐ-CP đã thay thế và đưa ra khái niệm KKT là khu vực có ranh giới địa lý xác định, gồm nhiều khu chức năng nhằm thu hút đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội KKT ven biển và KKT cửa khẩu được quy định cụ thể trong nghị định này, với KKT ven biển hình thành ở khu vực ven biển và KKT cửa khẩu ở khu vực biên giới có cửa khẩu quốc tế.
Hiện nay, tại Việt Nam, khái niệm KKT thường được sử dụng để chỉ các KKT do Thủ tướng Chính phủ thành lập, bao gồm KKT VB và các KKT được thành lập tại khu vực khác.
1 Xem tại Điều 2, của Nghị định 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ;
Theo Điều 3 của Nghị định 82/2018/NĐ-CP, khái niệm KKT (Khu kinh tế) của Việt Nam chỉ các khu vực có diện tích cụ thể, nơi áp dụng các ưu đãi về thuế và cơ chế hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư và kinh doanh Khác với KCN (Khu công nghiệp) hay KCNC (Khu công nghệ cao), KKT cho phép cư dân sinh sống thường xuyên Hiện nay, khái niệm KKT của Việt Nam không bao gồm Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, và có sự khác biệt so với khái niệm KKT theo nghĩa rộng của FIAS.
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu và đảm bảo tính thống nhất trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã khảo sát và phân tích các nghiên cứu về khu kinh tế (KKT) và đưa ra khái niệm rằng KKT là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt, với môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi cho nhà đầu tư KKT có ranh giới địa lý xác định và được thành lập theo quy định của nhà nước nhằm thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng, an ninh Khái niệm này cơ bản thống nhất với quy định về KKT tại Điều 2 Nghị định 82/2018/NĐ-CP của Chính phủ.
Các khu kinh tế (KKT) ở Việt Nam được hình thành từ chủ trương của Đảng và Chính phủ nhằm quy hoạch các vùng công nghiệp và lãnh thổ kinh tế với cơ chế, chính sách đặc thù Chúng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển công nghiệp và hiện đại hóa đất nước Qua quá trình phát triển, các KKT đã tích cực thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo ra việc làm và nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp, đồng thời góp phần hiện đại hóa kết cấu hạ tầng.
3 FIAS là cơ quan tư vấn Tài chính và Đầu tư thuộc Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC), đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế các địa phương và cả nước Cơ quan này đảm bảo thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, thương mại gắn liền với an ninh quốc phòng trên biển, biên giới và đất liền Việc xây dựng các Khu kinh tế ven biển (KKTVB) và Khu kinh tế cửa khẩu (KKTCK) nhằm tận dụng lợi thế vị trí địa lý của đất nước đã góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương, thúc đẩy kinh tế hướng biển, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, cải thiện đời sống nhân dân vùng biên giới và giữ gìn an ninh quốc phòng tuyến biên giới đất liền.
Các khu kinh tế (KKT) đóng vai trò quan trọng như các trung tâm sản xuất công nghiệp và dịch vụ với hạ tầng hiện đại Hiện nay, KKT thu hút nhiều tập đoàn hàng đầu thế giới, cung cấp sản phẩm đa dạng xuất khẩu toàn cầu, từ đó nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ địa kinh tế khu vực và thế giới.
Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, quá trình phát triển các KKT vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt trong quy hoạch, giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng, thu hút đầu tư, bảo vệ môi trường và vấn đề lao động Cơ chế, chính sách pháp luật liên quan đến KKT còn chồng chéo và chưa đồng bộ Các KKTVB đã có những kết quả nhất định, nhưng do đang trong giai đoạn đầu phát triển, cần thời gian để phát huy hiệu quả và tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy hoạch và định hướng phát triển Đối với các KKTCK, cần có chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế, thương mại tương xứng với quy mô và chức năng hoạt động trong thời gian tới.
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển khu kinh tế
Sự hình thành và phát triển của các khu kinh tế trọng điểm (KKT) đã được nghiên cứu và tổng kết bởi nhiều tác giả trong và ngoài nước Các nghiên cứu chỉ ra rằng những dấu hiệu đầu tiên của KKT xuất hiện ở Châu Âu từ thế kỷ XIII, khi nhiều quốc gia và thành phố ven biển Địa Trung Hải hình thành trong thời kỳ phục hưng thương mại.
Vào năm 1228, một cảng tự do đã được thành lập tại Marseilles, miền Nam Pháp Đến cuối thế kỷ XIII, các thành phố ven biển Bắc và biển Bantic đã liên kết để tạo thành "Liên minh Tự do thương mại" hay còn gọi là "Hanseatic League", với các cảng của thành phố tự do Hamburg và Bremen là những điểm trung tâm trong liên minh này.
Cảng Leyghorn ở Italy, ra đời năm 1547, được coi là cảng thương mại tự do chính thức đầu tiên của thế giới, đánh dấu sự khởi đầu của các khu kinh tế thương mại (KKT) hiện đại Mô hình KKT đã được nhiều khu vực ngoài châu Âu áp dụng, phát triển từ các cảng tự do đơn giản thành những mô hình đa dạng và phức tạp hơn Các chính phủ sử dụng KKT như một công cụ để thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia, với chính sách ưu đãi được thiết kế phù hợp với điều kiện và mục tiêu phát triển của từng nước Do đó, có nhiều khái niệm và tên gọi khác nhau về KKT, như "Special Economic Zone" (Đặc khu kinh tế) của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) hay các thuật ngữ khác như Khu Kinh tế tự do (Free Economic Zone - FEZ) và Khu Thương mại tự do (Free Trade Zone).
Các nhà nghiên cứu thường phân loại khu kinh tế (KKT) dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, trong đó bao gồm chức năng của KKT và địa điểm đặt khu kinh tế.
Khu kinh tế thương mại được phân loại thành hai loại chính: (i) Khu thương mại tự do (FTZ) là khu vực có ranh giới nhất định, được hưởng ưu đãi thuế nhằm khuyến khích hoạt động thương mại, với các tiện ích như kho lưu trữ, cơ sở hạ tầng và dịch vụ phân phối; hàng hóa từ nội địa vào FTZ được miễn thuế VAT, trong khi hàng hóa từ FTZ vào nội địa phải đóng thuế, và người lao động trong FTZ được giảm thuế thu nhập cá nhân; (ii) Cảng tự do (FP) thường bao gồm cảng biển hoặc sân bay, nơi hàng hóa được lưu trữ mà không phải nộp một số loại thuế, có thể chế biến và đóng gói tại chỗ trước khi nhập khẩu hoặc tái xuất, và có thể cho phép thực hiện các hoạt động khác như dịch vụ, du lịch và bán lẻ tùy theo quy định của từng quốc gia.
Khu kinh tế (KKT) được phân loại dựa vào vị trí địa lý, bao gồm: (i) KKT ven biển, thường nằm gần bờ biển và các cảng biển, với mục đích đa dạng, bao gồm khu thuế quan và khu phi thuế quan để thuận tiện cho hoạt động bốc dỡ hàng hóa; (ii) KKT cửa khẩu, nằm ở khu vực giáp biên giới, nhằm thúc đẩy thương mại giữa hai nước có chung biên giới, thường có các tiện ích như kho bãi, dịch vụ logistic, dịch vụ đóng gói, lắp ráp và sản xuất hàng hóa, đồng thời có thể được hưởng các ưu đãi thuế.
1.1.3 Khái quát tình hình thành lập khu kinh tế ở Việt nam và một số nước trên thế giới trong thời gian qua
Khái quát pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động các khu
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động các khu kinh tế
KKT đóng vai trò quan trọng như các trung tâm sản xuất công nghiệp và dịch vụ, với hạ tầng đồng bộ và hiện đại, thu hút nhiều nhà đầu tư và khách hàng.
Việt Nam đã khẳng định vị thế của mình trên bản đồ địa kinh tế toàn cầu thông qua việc phát triển các khu kinh tế (KKT) với sự tham gia của các tập đoàn hàng đầu thế giới Tuy nhiên, quá trình phát triển này cũng bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt là trong quy hoạch, giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng và bảo vệ môi trường Do đó, Nhà nước cần ban hành các quy định nhằm bảo vệ môi trường trong hoạt động của các KKT Khái niệm về môi trường và pháp luật bảo vệ môi trường cần được làm rõ, theo đó, môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và nhân tạo ảnh hưởng đến sự sống của con người và sinh vật Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 định nghĩa bảo vệ môi trường là các hoạt động nhằm giữ gìn, phòng ngừa và khắc phục ô nhiễm, đồng thời khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý để duy trì môi trường trong lành Để thực hiện hiệu quả các hoạt động này, cần có sự chủ động từ các chủ thể và toàn xã hội.
Theo Khoản 3 Điều 2 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, việc ban hành các quy phạm pháp luật là công cụ thiết yếu để điều chỉnh hoạt động tại các khu kinh tế (KKT) Thời gian qua, Nhà nước đã chú trọng đến việc xây dựng các quy định nhằm quản lý hiệu quả và bảo vệ môi trường tại các KKT Điều này được thể hiện qua nhiều văn bản pháp luật như Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật Khoáng sản năm 2010, và Luật Thuế tài nguyên năm 2010.
Pháp luật bảo vệ môi trường là một phần của hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm các quy phạm do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến khai thác, quản lý và bảo vệ môi trường Trong bối cảnh các khu kinh tế (KKT), pháp luật về bảo vệ môi trường bao gồm các quy định quản lý và bảo vệ môi trường trong các giai đoạn chuẩn bị đầu tư, triển khai và hoạt động của KKT Các văn bản pháp luật chủ yếu như Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Nghị định 82/2018/NĐ-CP, và các thông tư liên quan đã tạo ra khung pháp lý đầy đủ cho việc bảo vệ môi trường hiệu quả trong hoạt động của các KKT.
Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động của KKT là một phần quan trọng của pháp luật môi trường, điều chỉnh hai vấn đề chính Thứ nhất, việc bảo tồn và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, với các quy định pháp luật quy định trách nhiệm của các chủ thể trong khai thác, sử dụng và bảo tồn tài nguyên, nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp và trách nhiệm bảo vệ môi trường Thứ hai, pháp luật môi trường còn điều chỉnh việc kiểm soát và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, góp phần bảo vệ lợi ích lâu dài của cộng đồng.
Pháp luật môi trường được thiết lập nhằm ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, tổ chức và cá nhân liên quan, với mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm môi trường và phòng ngừa, hạn chế tác động xấu từ chất thải.
Pháp luật bảo vệ môi trường trong khu kinh tế (KKT) điều chỉnh các mối quan hệ xã hội liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường Đầu tiên, các quan hệ phát sinh từ hoạt động quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường, bao gồm quy hoạch xây dựng KKT, thanh tra thực hiện pháp luật và xử lý vi phạm Thứ hai, nhóm quan hệ liên quan đến nghĩa vụ của các chủ thể trong việc xử lý chất thải trong các giai đoạn chuẩn bị đầu tư, triển khai và hoạt động của KKT.
Mục đích của pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu kinh tế (KKT) là phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đến môi trường, đồng thời khắc phục ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường Pháp luật này định hướng hành vi cho các cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức và cá nhân khi tác động đến môi trường trong KKT, đồng thời ràng buộc trách nhiệm của họ bằng các chế tài cụ thể Nhờ đó, pháp luật bảo vệ môi trường không chỉ có tác dụng phòng ngừa mà còn giúp hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường trong các KKT.
Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, là công cụ thể chế hóa đường lối và chính sách của Đảng, đảm bảo sự lãnh đạo hiệu quả trên toàn xã hội Nó giúp Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống và tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện quyền và nghĩa vụ Đặc biệt, trong việc bảo vệ môi trường, pháp luật có vai trò không thể phủ nhận, thể hiện rõ nét trong các hoạt động của khu kinh tế.
Pháp luật bảo vệ môi trường khu kinh tế (KKT) là công cụ quan trọng trong việc phòng ngừa và khắc phục ô nhiễm môi trường, đảm bảo quyền sống trong môi trường trong lành cho con người Trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện đại, nguy cơ ô nhiễm từ chất thải, đặc biệt là từ các khu công nghiệp, ngày càng gia tăng, làm cho việc bảo vệ chất lượng môi trường sống trở nên cấp thiết và khó khăn hơn bao giờ hết Do đó, pháp luật môi trường, bao gồm cả pháp luật bảo vệ môi trường trong KKT, đóng vai trò thiết yếu trong quản lý và bảo vệ môi trường.
Pháp luật bảo vệ môi trường trong khu kinh tế (KKT) không chỉ thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất kinh doanh mà còn bảo vệ sức khỏe người lao động Để giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ chất thải công nghiệp, việc áp dụng công nghệ tiên tiến và quy trình công nghệ sạch là rất quan trọng Những quy trình này giúp loại bỏ các chất gây ô nhiễm, từ đó giảm thiểu nguyên nhân cơ bản gây ô nhiễm môi trường.
Pháp luật bảo vệ môi trường trong khu kinh tế (KKT) kết nối lợi ích kinh tế của doanh nghiệp với lợi ích xã hội và môi trường Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều doanh nghiệp chỉ tập trung vào lợi ích riêng mà bỏ qua lợi ích chung Khi thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường, họ thường không nhận thấy lợi ích của mình, mà chỉ lo lắng về chi phí phát sinh Điều này dẫn đến việc các doanh nghiệp không tự giác thực hiện các quy định pháp luật về môi trường.
Pháp luật bảo vệ môi trường trong khu kinh tế không chỉ yêu cầu các nhà sản xuất bảo vệ lợi ích xã hội và môi trường, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ này Các khuyến khích kinh tế như miễn giảm thuế, ưu đãi thuê đất và hỗ trợ tài chính cho việc tái chế, tái sử dụng chất thải sẽ giúp doanh nghiệp nhận thấy lợi ích từ việc giảm thiểu chất thải và đảm bảo chất lượng môi trường, từ đó thúc đẩy họ tích cực hơn trong việc bảo vệ lợi ích xã hội và môi trường.
1.2.2 Nội dung của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động các khu kinh tế của Việt Nam
Tại các KKT, yêu cầu bảo vệ môi trường được đặt ra khắt khe hơn so với các cơ sở sản xuất khác do quy mô tác động lớn và nguy cơ ô nhiễm cao Để ngăn ngừa ô nhiễm và suy thoái môi trường, pháp luật môi trường Việt Nam và nhiều quốc gia đã quy định rõ ràng từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư xây dựng cho đến khi vận hành và trong suốt quá trình hoạt động của các KKT.
Quy định về bảo vệ môi trường trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư và xây dựng Khu công nghiệp tập trung vào hai mảng chính: yêu cầu lập quy hoạch xây dựng KKT và thiết kế hệ thống hạ tầng kỹ thuật Pháp luật về lập quy hoạch xây dựng KKT được coi là công cụ chiến lược trong phát triển, giúp định hướng tương lai theo mục tiêu đã đề ra Quy hoạch xây dựng KKT xác lập các mục tiêu môi trường mong muốn và đề xuất giải pháp bảo vệ, cải thiện môi trường Do đó, việc quy định yêu cầu bảo vệ môi trường trong lập quy hoạch xây dựng KKT là rất quan trọng.