BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ NGOẠI GIAO BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN CHÍNH TRỊ HỌC ĐẠI CƯƠNG BÁO CÁO MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ CHÍNH TRỊ Giảng viên hướng dẫn Nguyễn Văn Nguyên N[.]
Trang 1BỘ NGOẠI GIAOHỌC VIỆN NGOẠI GIAOKHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ NGOẠI GIAO
BÀI TẬP NHÓMHỌC PHẦN: CHÍNH TRỊ HỌC ĐẠI CƯƠNGBÁO CÁO: MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ - CHÍNH TRỊ
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Văn NguyênNhóm thực hiện: Nhóm 7
Lớp: CTHĐC-49-QHQT.2_LT
HÀ NỘI - 2023
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 2
PHẦN II: NỘI DUNG 3
1 Chủ nghĩa Mác-Lênin về quan hệ chính trị với kinh tế 3
1.1 Định nghĩa 3
1.1.1 Khái niệm chính trị 3
1.1.2 Khái niệm kinh tế 4
1.2 Quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị 5
1.2.1 Vai trò quyết định của kinh tế với chính trị - “Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế” 5
1.2.2 Vai trò tác động trở lại của chính trị với kinh tế và sự cần thiết “ưu tiên” chính trị so với kinh tế trong những hoàn cảnh đặc biệt - “Chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế” 6
2 Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở các nước tư bản và chủ nghĩa xã hội hiện thực 8
2.1 Chính trị với kinh tế trong chủ nghĩa tư bản 8
2.1.1 Thời kỳ hình thành chủ nghĩa tư bản - Thời kỳ tích lũy tư bản chủ nghĩa, chính trị giữ vai trò quyết định tối đa (Từ XV đến XVII) 8
2.1.2 Thời kỳ hình thành chủ nghĩa tư bản tự do sản xuất, kinh doanh, cạnh tranh (cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII ở châu Âu), chính trị giữ vai trò quyết định tối thiểu 8
2.1.3 Thời kỳ chủ nghĩa độc quyền và chủ nghĩa tư bản hiện đại (Thế kỷ XIXXX) -Thời kỳ chính trị giữ vai trò hợp lý 9
2.2 Chính trị với kinh tế trong chủ nghĩa xã hội hiện thực 10
2.2.1 Mô hình phát triển dựa trên nền tảng tập trung hóa cao độ về chính trị và kinh tế 10
2.2.1.1 Giai đoạn 1917 - 1920 10
2.2.1.2 Giai đoạn từ năm 1925 đến trước cải tổ, đổi mới: 11
2.2.2 Mô hình phát triển dựa trên cơ sở nhận thức và xử lý mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị (đặc điểm dân tộc và thời đại) – Mô hình chính sách kinh tế mới (NEP) ở Liên Xô 14
2.2.2.1 Nội dung cơ bản của chính sách Kinh tế mới (NEP) 14
2.2.2.2 Nhận xét 15
3 Mối quan hệ biện chứng giữa chính trị với kinh tế trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam.16 3.1 Sự lãnh đạo chính trị với kinh tế trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 16
3.2 Những yêu cầu tiếp tục hoàn thiện sự lãnh đạo chính trị với kinh tế ở nước ta trong những thập niên đầu của thế kỉ XXI 17
3.3 Những thành tựu và hạn chế trong quá trình đổi mới ở Việt Nam 19
3.3.1 Thành tựu nổi bật khi kết hợp hài hòa giữa kinh tế và chính trị 19
3.3.2 Những hạn chế trong giai đoạn đổi mới 20
PHẦN III: KẾT LUẬN 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 3PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦUChính trị và kinh tế là hai phạm trù cơ bản, thường được nhắc đến trong đờisống hằng ngày Trong đó, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là một nội dung nổi bật hơn cả Nó được biểu hiện trong đời sống xã hội cũng như trong đường lối chínhsách của Đảng cộng sản Việt Nam Như vậy, nghiên cứu mối quan hệ giữa kinh tế vàchính trị được coi là một cơ sở để từ đó chúng ta biết thêm về phương pháp luận, giúpViệt Nam có thể giải quyết tốt mối quan hệ vô cùng cần thiết này.
Với chủ đề "Mối quan hệ giữa kinh tế - chính trị", nhóm nghiên cứu sẽ đi sâu vào phân tích các khái niệm, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở các nước tư bản chủnghĩa và chủ nghĩa xã hội
Tuy nhiên, nhóm chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót trong bản báocáo dù` đã nỗ lực trong việc đối chiếu và kiểm tra các thông tin Kính mong quý thầy
cô và các bạn đóng góp ý kiến để nhóm nghiên cứu thực hiện các báo cáo về sauđược hoàn thiện hơn
Trân trọng!
2
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG
1 Chủ nghĩa Mác-Lênin về quan hệ chính trị với kinh tế
1.1 Định nghĩa1.1.1 Khái niệm chính trị
“Chính trị” trong tiếng Hy Lạp là “Politika” có nguồn gốc từ chữ “Pólis”,nghĩa là “nhà nước” Từ những nghiên cứu của các nhà kinh điển mácxít, có nhiềucách hiểu về chính trị như sau:
Thứ nhất, chính trị là một quan hệ xã hội nhưng đó là quan hệ xã hội đặc biệtgiữa các giai cấp, dân tộc, quốc gia - trong đó quan hệ giữa các giai cấp đóng vai trò
cơ bản Trung tâm của các quan hệ chính trị là công việc nhà nước, là việc giành, giữchính quyền và thực thi quyền lực nhà nước, là việc xác định hình thức tổ chức, chínhsách, cơ chế hoạt động của nhà nước đối với toàn bộ đời sống xã hội, là việc lôi kéoquảng đại quần chúng nhân dân “tham gia vào những công việc của Nhà nước, là việcvạch hướng đi cho Nhà nước, việc xác định những hình thức, nội dung hoạt động của Nhà nước”1 Việc phân chia các giá trị lợi ích (nhất là lợi ích kinh tế) vẫn là động lựcquan trọng nhất của các mối quan hệ chính trị Mỗi chủ thể tham gia vào các quan hệchính trị đều xuất phát từ những lợi ích nhất định
Thứ hai, chính trị là một quan hệ kinh tế nhưng đó là một quan hệ kinh tế đặc biệt – là loại quan hệ kinh tế được “cô đọng lại”2
Thứ ba, “chính trị là cuộc đấu tranh giữa các giai cấp; chính trị là thái độ củagiai cấp vô sản đang đấu tranh tự giải phóng mình chống giai cấp tư sản toàn thếgiới”3 Chính trị của giai cấp vô sản thể hiện ở việc họ thực hiện các cuộc đấu tranhgiải phóng giai cấp khỏi áp bức, bóc lột, việc họ vươn lên giành chính quyền từ taycủa giai cấp tư sản và sử dụng nhà nước vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội -một chế độ dân chủ đầy đủ, toàn dân đều thực sự bình đẳng
Thứ tư, chính trị là một loại hình, là một phương diện hợp thành của văn hoátrong xã hội có giai cấp và nhà nước – đó là văn hoá chính trị, văn hoá dân chủ, vănhoá ứng xử, Văn hóa chính trị thể hiện trình độ nhận thức, khả năng sáng tạo trong
3 PGS.TS.Nguyễn Văn Vĩnh - PGS.TS.Lê Văn Đính, Chính trị với kinh tế. Giáo trình chính trị học đại cương , tái bản lần 2, nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, 272.
2 PGS.TS.Nguyễn Văn Vĩnh - PGS.TS.Lê Văn Đính, Chính trị với kinh tế. Giáo trình chính trị học đại cương , tái bản lần 2, nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, 272.
1 PGS.TS.Nguyễn Văn Vĩnh - PGS.TS.Lê Văn Đính, Chính trị với kinh tế Giáo trình chính trị học đại cương , tái bản lần 2, nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, 272.
Trang 5hoạt động chính trị của các chủ thể tham gia để đạt được lợi ích giai cấp mình; nó cònnói lên phẩm chất đạo đức, lối sống và nhân cách của người hoạt động chính trị.Thứ năm, chính trị là một khoa học và nghệ thuật Tính khoa học của chính trịthể hiện ở tính logic khách quan của nó; ở chỗ nó phải đảm bảo sự phù hợp giữa mụctiêu chính trị với quy luật, xu hướng vận động phát triển của xã hội loài người và lợiích của giai cấp, của quảng đại quần chúng nhân dân Tính nghệ thuật của chính trịthể hiện ở chỗ sự vận động của đời sống chính trị là sự tác động qua lại của nhiều mốiquan hệ phức tạp và tồn tại nhiều khả năng (khách quan) Nghệ thuật trong chính trị
là việc kiên định mục tiêu lý tưởng chính trị; nhưng mềm dẻo và linh hoạt về sáchlược, phương pháp cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, với điều kiện cụ thể,con người cụ thể “Khi mà chính trị đòi hỏi một sự chuyển biến kiên quyết, một sựmềm dẻo và một bước quá độ khéo léo thì những người lãnh đạo phải hiểu được điềuấy, ”4
Thứ sáu, trung tâm của các quan hệ chính trị là vấn đề chính quyền; là việcgiành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước; là việc xác định hình thức, nhiệm vụ, nộidung và cơ chế hoạt động của nhà nước đối với toàn bộ đời sống xã hội
Nói tóm lại, chính trị được xem là quan hệ giữa các giai cấp và đấu tranh giaicấp; đồng thời phải thấy rằng, chính trị trong xã hội đương đại - xã hội dân chủ còn
là quan hệ giữa các cộng đồng (các nhóm lợi ích, các lực lượng xã hội, các công dân) với Nhà nước Chính trị trong ý nghĩa đó là quá trình đấu tranh để xác lập cácthể chế, thiết chế quyền lực nhà nước hợp lý, có hiệu quả vì sự ổn định và phát triển
xã hội; là hoạt động của các chính đảng, các tổ chức đại diện nhóm lợi ích xã hộitrong việc giành; chia sẻ (gây áp lực) và thực thi quyền lực nhà nước vì lợi ích kháchquan của các lực lượng chính trị, của quốc gia, dân tộc
1.1.2 Khái niệm kinh tế
“Kinh tế” trong tiếng Hy Lạp là “Oikonomike”, nghĩa là sự tiết kiệm, sự lựachọn nhằm đem lại lợi nhuận và hiệu quả tối ưu
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về vấn đề kinh tế:
Thứ nhất, kinh tế là toàn bộ các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân bao gồm các khâu từ quá trình sản xuất đến phân phối, trao đổi, tiêu dùng
-4 PGS.TS.Nguyễn Văn Vĩnh - PGS.TS.Lê Văn Đính, Chính trị với kinh tế Giáo trình chính trị học đại cương , tái bản lần 2, nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, 273.
4
Trang 6Thứ hai, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh tế là tổng thể cácquan hệ sản xuất nhất định trong lịch sử phù hợp với mỗi trình độ phát triển nhất địnhcủa lực lượng sản xuất, làm cơ sở cho một chế độ chính trị - xã hội nhất định Quan
hệ sản xuất đóng vai trò chủ đạo có nhiệm vụ định hướng phát triển kinh tế và trong
hệ thống các quan hệ sản xuất thì hệ thống các quan hệ sở hữu bao giờ cũng đóng vaitrò quyết định đến sự vận động của kinh tế Xét đến cùng, thực chất của các quan hệkinh tế là việc các giai cấp sử dụng quyền lực nhà nước để giải quyết các quan hệ lợiích kinh tế giữa người với người trong sản xuất nhằm giải phóng lực lượng sản xuất,giải phóng sức sản xuất
1.2 Quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trịLênin đã đưa ra luận điểm về mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế: “Chính trị
là sự biểu hiện tập trung của kinh tế; chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu
so với kinh tế”5
1.2.1 Vai trò quyết định của kinh tế với chính trị - “Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế”
Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì chính trị là một trong nhữnghình thức biểu hiện tập trung và cô đọng nhất của kinh tế Nội dung quyết định hìnhthức - kinh tế quyết định chính trị và chính trị là cái phản ánh kinh tế Điều này có cơ
sở từ chính thực tiễn của quá trình phát triển lịch sử xã hội loài người, nó chỉ rõnguồn gốc và bản chất của chính trị
Thứ nhất, sự hình thành, tồn tại và phát triển của chính trị là trên cơ sở nhữngđòi hỏi khách quan của sự phát triển kinh tế, của thực trạng kinh tế, của sự liên hệnhững lợi ích kinh tế căn bản của các giai cấp, tầng lớp khác nhau trong nền kinh tếnên suy cho cùng, kinh tế chính là yếu tố quyết định sự hình thành, tồn tại và pháttriển của chính trị
Thứ hai, mọi chính sách chính trị đúng đắn đều phải xuất phát từ tình hình hiệnthực, phản ánh sát, đúng với trạng thái hiện thực của nền kinh tế Tình hình kinh tế là
cơ sở xuất phát cho việc lựa chọn các phương tiện, chính sách kích thích nền sản xuất phát triển nhằm hoàn thiện nền sản xuất xã hội Sự phản ánh đó có tính chất tập trung,thông qua việc hình thành những tổ chức chính trị, những chính sách để từ đó giảiquyết những vấn đề, đồng thời quyết định mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh
tế, tạo điều kiện, tạo môi trường và bảo đảm cho hoạt động kinh tế diễn ra suôn sẻ
5 PGS.TS.Nguyễn Văn Vĩnh - PGS.TS.Lê Văn Đính, Chính trị với kinh tế Giáo trình chính trị học đại cương , tái bản lần 2, nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, 274.
Trang 7Chẳng hạn, trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình đất nước, tự phê bình vềnhững sai lầm và khuyết điểm đã mắc phải trong thời kỳ trước đổi mới, đặc biệt làtrong giai đoạn khủng hoảng kinh tế – xã hội cuối những năm 70 đầu những năm 80của thế kỷ XX, tại Đại hội lần thứ VI (1986), Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàndiện đất nước Chính đường lối đổi mới đúng đắn với những nội dung phù hợp đã tạonên bước chuyển căn bản và làm thay đổi bộ mặt của nền kinh tế nước ta theo hướngtích cực.
Chính trị phản ánh kinh tế nhưng không phải là sự phản ánh máy móc, không phải là bản sao thụ động kinh tế và cũng không phản ánh những nhu cầu có tính cánhân; mà nó chỉ phản ánh những nhu cầu, lợi ích kinh tế của cộng đồng - xã hội và phản ánh tính tất yếu của các quy luật vận động kinh tế Ví dụ, các phong trào côngnhân nổ ra bắt nguồn từ chính nhu cầu, lợi ích của cả một giai cấp, tầng lớp trong xãhội, không phải của riêng bất kỳ cá nhân nào Các phong trào đó đã phản ánh đa dạngkhía cạnh của thực trạng xã hội, bao gồm cả những vấn đề kinh tế
1.2.2 Vai trò tác động trở lại của chính trị với kinh tế và sự cần thiết
“ưu tiên” chính trị so với kinh tế trong những hoàn cảnh đặc biệt - “Chính trịkhông thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế”
Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, các nhà tư tưởng Mátxítkhẳng định hoạt động kinh tế (cơ sở hạ tầng) là nền tảng của các hoạt động chính trị(một phạm trù thuộc kiến trúc thượng tầng) mà từ đó, các thiết chế và các học thuyếtchính trị hình thành, duy trì và phát triển Mặt khác, dựa vào quy luật biện chứng, họđồng thời quan niệm: “Chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh
tế Lập luận một cách khác đi, tức là quên mất những điều sơ đẳng của chủ nghĩaMác”6 “Địa vị hàng đầu” ở đây được hiểu là vai trò không thể thiếu của quyền lựcchính trị đối với công cuộc triển khai các mô hình kinh tế của bất cứ đảng phái, giaicấp nào Muốn hiện thực hóa chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân nhất định phảigiành được chính quyền, củng cố quyền lực để thực thi các chính sách kinh tế theo
mô hình xã hội chủ nghĩa Hiển nhiên, mô hình kinh tế này không thể được áp dụngnếu giai cấp công nhân không nắm quyền lực chính trị nhất định (nền kinh tế tư bảnchủ nghĩa vẫn được duy trì bởi các nhà tư sản) Như vậy, xét cho cùng, kinh tế luôn lànền tảng của chính trị, nhưng ngược lại, chính trị - cụ thể là việc đấu tranh giànhchính quyền, lại đóng vai trò mở đường cho các mô hình kinh tế được áp dụng vàothực tế xã hội
6 TS Lê Thị Chiên, “Về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quan điểm của V.I.Lênin và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay”
quan-he-giua-kinh-te-va-chinh-tri-trong-quan-diem-cua-v-i-le-nin-va-y-nghia-doi-voi-viet-nam-hien-nay-3498
https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/c-mac-angghen-lenin-ho-chi-minh/v-i-lenin/nghien-cuu-hoc-tap-tu-tuong/ve-moi-6
Trang 8Các hoạt động chính trị là chủ thể quyết định sự điều chỉnh cách thức tổ chức
và quản lý các hoạt động kinh tế Sau khi 1 đảng phái, giai cấp lên nắm quyền, việcliên tục thực hành và đánh giá tính hiệu quả của các chính sách kinh tế dựa trên thực
tế sản xuất và định hướng mang tính lý tưởng là không thể thiếu - để đảng phái/ giaicấp đó đảm bảo việc duy trì quyền lực của mình Theo đó, những vấn đề bất cập phátsinh trong thực tế sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng an sinh xã hội sẽđược các thiết chế chính trị xem xét và tìm giải pháp Ngoài ra, trong thời đại khoahọc công nghệ phát triển nhanh chóng, việc liên tục cập nhật các chính sách kinh tếcho phù hợp với các tiến bộ công nghệ là cần thiết Các điều chỉnh nói trên đều đượcthực hiện với nguyên tắc tôn trọng và phù hợp với định hướng chính trị
Ví dụ, để đảm bảo sự phát triển, Việt Nam thực hiện mô hình kinh tế thị trườngtheo định hướng xã hội chủ nghĩa Ở Mỹ, chính phủ và các thiết chế tài chính đưa racác đề xuất sửa đổi chính sách tiền tệ và thương mại phần lớn dựa vào các giá trị củachủ nghĩa tự do Có thể thấy chính phủ và các thiết chế có liên quan trong bộ máy nhànước có trách nhiệm quản lý và điều chỉnh cách thức tổ chức và vận hành các hoạtđộng kinh tế Bất kể đối với nền kinh tế tự do tư bản chủ nghĩa hay nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa - đều lấy khả năng tự điều tiết của thị trường làmnền tảng, các tổ chức chính trị cầm quyền vẫn nắm vai trò giám sát và quản lý hoạtđộng kinh tế để đảm bảo sự duy trì quyền lực và sự ổn định và phát triển xã hội.Kết luận: Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là mối quan hệ cơ bản trongđời sống xã hội, có ý nghĩa quyết định, chi phối các mối quan hệ xã hội khác Vì vậy,trong xử lý mối quan hệ này, cần tránh hai khuynh hướng sau:
- Tuyệt đối hóa kinh tế: dẫn đến tình trạng phát triển kinh tế một cách tự do, vôchính phủ, không bền vững
- Tuyệt đối hóa chính trị: trong quá trình phát triển kinh tế, chính phủ can thiệpquá nhiều, áp đặt một cách duy ý chí, kìm hãm sự phát triển kinh tế
Có thể lấy ví dụ như công cuộc cải tổ sai lầm của Gorbachev dẫn đến sự sụp đổcủa Liên Xô Đảng Cộng sản Liên Xô đã không nhận thức đúng về mối quan hệ giữacải tổ kinh tế và cải tổ chính trị Gorbachev đã tuyệt đối hóa cải tổ chính trị, khôngchú ý đến cải tổ kinh tế dẫn đến việc cải tổ chính trị không giải quyết được nhu cầu,lợi ích của giai cấp, của quốc gia, dân tộc
Trang 92 Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở các nước tư bản và chủ nghĩa xãhội hiện thực
2.1 Chính trị với kinh tế trong chủ nghĩa tư bản2.1.1 Thời kỳ hình thành chủ nghĩa tư bản - Thời kỳ tích lũy tư bản chủnghĩa, chính trị giữ vai trò quyết định tối đa (Từ XV đến XVII)
Đây là thời kỳ xuất hiện các phát kiến địa lý, dẫn đến những biến động lớn ở châu Âu trong các thế kỷ XVI - XVII Hoạt động thương mại tấp nập trên mặt biểnlan tỏa vào thị trường nội địa của các quốc gia đã thúc đẩy sự ra đời của một nền kinh
tế mới - kinh tế tư bản chủ nghĩa7
Trong giai đoạn này, châu Âu bước vào nền kinh tế trọng thương Hoạt độngngoại thương có vai trò quan trọng, đem loại nguồn lợi khổng lồ cho giai cấp tư sản,quyết định sự phát triển của các quốc gia Sự giàu có của các quốc gia còn được đánhgiá trên các tiêu chí về số lượng vàng, bạc, đá quý, hương liệu mà quốc gia đó sở hữu
Giai cấp tư sản lúc này vì mới được hình thành, lực lượng sản xuất thì chưathật sự phát triển, chưa đủ sức để nắm giữ quyền lực Do đó, giai cấp tư sản phải cấukết với thế lực phong kiến, sử dụng chính trị, can thiệp bằng sức mạnh của pháp luật,tước đoạt người sản xuất và đẩy mạnh vơ vét thuộc địa
Thời kỳ chính trị tối đa này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo điều kiện đểgiai cấp tư sản từng bước khẳng định vị thế của mình, củng cố phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa
2.1.2 Thời kỳ hình thành chủ nghĩa tư bản tự do sản xuất, kinh doanh,cạnh tranh (cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII ở châu Âu), chính trị giữ vaitrò quyết định tối thiểu
Trong thời kỳ này, sự phát triển kinh tế theo hướng trọng thương đã bão hòa
Từ khi thương nghiệp mất dần đi ý nghĩa lịch sử, cùng với sự phát triển của lực lượngsản xuất công nghiệp, giai cấp tư sản đã sớm nhận thấy lợi ích của họ trong sự pháttriển công trường thủ - công nghiệp Họ chỉ rõ: muốn làm giàu phải bóc lột sức laođộng của những người nghèo Đó chính là nguồn làm ra tiền vô tận của người giàu
Lý thuyết kinh tế chính trị tư sản cổ điển ra đời để biện minh cho lợi ích của giaicấp tư sản. Nội dung cơ bản của lý thuyết này: con người có các quyền tự nhiên; đó
là quyền sống, quyền tư hữu, quyền sản xuất, kinh doanh Và nhà nước có trách
7 Quan hệ quốc tế trong giai đoạn xuất hiện và phát triển của chủ nghĩa tư bản, Tài liệu tham khảo lịch sử quan hệ quốc
tế cận hiện đại. Học viện ngoại giao - Khoa chính trị quốc tế và ngoại giao, 9.
8
Trang 10nhiệm bảo vệ cho những quyền tự do đó Con người cạnh tranh vì lợi ích cá nhân làquy luật tự nhiên trong xã hội.
Adam Smith là một trong những người mở ra giai đoạn mới cho kinh tế chínhtrị tư sản Ông quan niệm khi chạy theo tư lợi thì "con người kinh tế" còn chịu sự tácđộng của "bàn tay vô hình" "Bàn tay vô hình" ở đây theo quan điểm của ông cónghĩa là các quy luật kinh tế hoạt động một cách khách quan và tự nhiên Nền kinh tế phải được phát triển trên cơ sở tự do kinh tế Nhà nước phải tôn trọng “bàn tay vôhình”, do đó không can thiệp vào các hoạt động kinh tế
Từ đó, có thể hiểu quan điểm thịnh hành của thời kỳ này là nhà nước phải hạnchế can thiệp quá sâu về mặt chính trị đối với quá trình sản xuất kinh doanh, phảikhuyến khích tư tưởng tự do cá nhân, tự do công dân, tự do kinh doanh, tự do cạnhtranh Nhà nước tư sản đã phát triển trên cơ sở này và tồn tại trong một thời kỳ lịch sửtương đối lâu dài, và từ đó tạo nên những thay đổi to lớn về kinh tế cũng như xãhội,
Với sự can thiệp tối thiểu của nhà nước, nền kinh tế thị trường có nhiều điềukiện để phát triển Tuy nhiên, về sau sự phát triển tự do cũng đã để lại nhiều hậu quảnhư thất nghiệp, phân hóa giàu nghèo, mâu thuẫn trong xã hội cũng như các vấn đề bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái,
2.1.3 Thời kỳ chủ nghĩa độc quyền và chủ nghĩa tư bản hiện đại (Thế kỷXIX-XX) - Thời kỳ chính trị giữ vai trò hợp lý
Học thuyết kinh tế chính trị tư sản hiện đại thời này đã cho thấy vai trò của nhànước trong việc điều chỉnh quan hệ kinh tế và chính trị trong thời kỳ này thông quacác công cụ của mình (tài chính, thuế, kỹ thuật, luật pháp, )
Sự can thiệp của nhà nước nhằm mục tiêu khắc phục những mặt trái của thịtrường và tạo những cơ sở cần thiết cho sự phát triển của kinh tế trong điều kiện khoahọc, kỹ thuật và các quan hệ kinh tế, chính trị hiện đại Kết quả đó là giai đoạn “vàngson” của chủ nghĩa tư bản, với sự phát triển về cả chiều rộng lẫn chiều sâu
Tuy vậy, nhà nước thời này vẫn bộc lộ những mâu thuẫn giai cấp bởi quyền lựcchính trị, quyền lực nhà nước vẫn thuộc về giai cấp tư sản, người lao động vẫn bị bóclột Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất trong xã hội tư bản lúc này là giữa giai cấpcông nhân và giai cấp tư sản, tương ứng với quan hệ sản xuất tiên tiến và lỗi thời.Điều này dự báo một xu hướng mới giải quyết mâu thuẫn, đó là xu hướng phi
tư bản Giai cấp vô sản phải thông qua chính đảng của mình để làm cuộc cách mạng
Trang 11xã hội chủ nghĩa lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và xây dựng nền chính trị xãhội chủ nghĩa của mình8.
2.2 Chính trị với kinh tế trong chủ nghĩa xã hội hiện thực Nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế thời cận hiện đại ở một số
mô hình phát triển trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa dưới tác động của nhân
tố chính trị, nhóm sẽ đi sâu phân tích vào mô hình phát triển dựa trên nền tảng tậptrung hóa cao độ về chính trị, kinh tế trong hai giai đoạn, từ khi được áp dụng điểnhình ở Liên Xô cũ giai đoạn 1917-1920 và từ 1925 đến trước cải tổ đổi mới:
2.2.1 Mô hình phát triển dựa trên nền tảng tập trung hóa cao độ vềchính trị và kinh tế
Ở Liên Xô, mô hình phát triển dựa trên nền tảng tập trung hóa cao độ về chínhtrị, kinh tế đã được áp dụng trong giai đoạn 1917 – 1920 và từ 1925 đến trước cải tổ,đổi mới
2.2.1.1 Giai đoạn 1917 - 1920Vào năm 1917, Cách mạng tháng Mười thành công đã đánh dấu sự ra đời củanhà nước Xô Viết Đây chính là một bước ngoặt lớn, mở ra thời đại mới về chính trị,một nhà nước kiểu mới - nhà nước của dân, do dân, vì dân
Giai đoạn này, Nhà nước Xô Viết thực hiện “Chính sách Cộng sản thời chiến”
Cụ thể, chính sách này đã được thực hiện với nội dung: “Trưng thu lương thực thừacủa nông dân, Nhà nước độc quyền mua bán lúa mì để cung cấp cho thành thị vàquân đội Nhà nước kiểm soát việc sản xuất và phân phối sản phẩm không những đốivới đại công nghiệp mà cả trung và tiểu công nghiệp Quốc hữu hóa cả những xínghiệp vừa và nhỏ, có từ 5 công nhân trở lên (nếu có động cơ) và 10 công nhân trở lên dù không có động cơ Cấm buôn bán trao đổi sản phẩm ở trên thị trường, nhất làlúa mì, thực hiện chế độ tem phiếu, trực tiếp phân phối bằng hiện vật cho người tiêudùng, xóa bỏ ngân hàng nhà nước Đặt chế độ lao động cưỡng bức với nguyên tắc
"Không làm thì không ăn".”9 Có thể thấy chính sách này có đặc trưng là chi phối vàkiểm soát kinh tế qua việc cấp phát hiện vật
Chính sách này của nhà nước Xô-viết được thực hiện dựa trên nhiều lý dokhác nhau Đầu tiên, về phương diện khách quan, cuộc nội chiến do địa chủ và tư bản
bị lật đổ nổi dậy từ bên trong và việc 14 nước đế quốc do Anh, Pháp dẫn đầu với mưu
đồ tiêu diệt Nhà nước Xô-viết đã đặt ra những thách thức lớn đối với chính quyền
9 Vũ Văn Phúc, Từ chính sách “Cộng sản thời chiến” đến chính sách kinh tế mới, Tạp chí Cộng sản, 2010.
8 PGS.TS.Nguyễn Văn Vĩnh - PGS.TS.Lê Văn Đính, Chính trị với kinh tế Giáo trình chính trị học đại cương , tái bản lần 2, nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, 278.
10
Trang 12Xô-viết lúc bấy giờ Như vậy, theo Lênin, việc áp dụng “Chính sách Cộng sản thờichiến” trong bối cảnh này để bảo vệ nhà nước Xô Viết non trẻ về cơ bản là đúng Tiếptheo, về phương diện chủ quan, trong bối cảnh này, quan điểm của C Mác trong việcchuyển trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội đã được áp dụng một cách “máy móc”, cho rằng
có thể chuyển trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội (trong điều kiện quá độ trực tiếp), màkhông cần duy trì nền kinh tế nhiều thành phần và không cần thiết phải sử dụng quan
hệ hàng - tiền Vì vậy, sau khi cách mạng tháng Mười thành công, dựa vào đường lốitrong “Luận cương tháng Tư” do Lênin vạch ra, theo đó, song song với việc củng cốchính quyền, nhà nước Xô-viết phải tiến hành quốc hữu hóa toàn bộ nền kinh tế quốcdân một cách nhanh chóng Đối với vấn đề này, chính Lê-nin cũng đã từng nhận định
“chúng ta đã thất bại trong các ý định dùng phương pháp xung phong, nghĩa là dùngcon đường ngắn nhất, trực tiếp nhất để thực hiện việc sản xuất và phân phối theonguyên tắc xã hội chủ nghĩa”10
Qua đó, mặc dù chính sách này đã tạo nên sức mạnh đánh thắng thù trong giặcngoài và bảo vệ chính quyền còn non trẻ, nhưng cũng đã đẩy nhân dân vào hoàn cảnhđói khổ, thiếu thốn, nền kinh tế rơi vào khủng hoảng trầm trọng
2.2.1.2 Giai đoạn từ năm 1925 đến trước cải tổ, đổi mới:
Tháng 1/1924, lãnh tụ phong trào cách mạng vô sản Nga Vladimir Ilyich Leninqua đời; đây là sự kiện đánh dấu cho dấu mốc sự diễn tiến của mô hình này, khi Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa thực hiện mô hình chính sách kinh tế tập trung hóa,tiến hành công nghiệp hóa cao độ Chính sách trên đã tạo ra hai mặt tích cực và tiêucực song song với nhau:
Về mặt tích cực, chính sách trên đã tạo ra được một cơ sở vật chất nhất địnhcùng với một nền quốc phòng khá hùng hậu mà nhờ đó đã giúp Liên Xô bảo vệ đượcnhững thành quả cách mạng của mình Gi Xta-lin lãnh đạo thực hiện chương trìnhcải cách rộng lớn và toàn diện Về mục tiêu của chương trình này, Gi Xta-lin tuyên bố: “Nước Nga lạc hậu so với các nước tiên tiến trên thế giới khoảng 50 - 100 năm.Chúng ta cần phải vượt qua khoảng cách này trong 10 năm”11 Chương trình cải cáchnày còn được gọi là chiến lược công nghiệp hóa Liên Xô, mở đầu kỷ nguyên hiện đạihóa mạnh mẽ và làm thay đổi căn bản nền tảng kinh tế - xã hội, công nghệ và côngnghiệp của Liên Xô12
12 Politologija: “Сталинский вариант технологической модернизации и социально-политические процессы в советском обществе 1930-х гг” (Politologija: “Phương án của Stalin hiện đại hóa công nghệ và các quá trình chính trị
11 Politologija: “Сталинский вариант технологической модернизации и социально-политические процессы в советском обществе 1930-х гг” (Politologija: “Phương án của Stalin hiện đại hóa công nghệ và các quá trình chính trị
- xã hội trong xã hội Xô-viết trong những năm 1930”),
socialno-politicheskie-processi-v-sovetskom-obshestve-1930-x-gg
https://all-politologija.ru/knigi/politicheskaya-istoriya-rossii-lancov/stalinskij-variant-texnologicheskoj-modernizacii-i-10 V.I Lênin toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.254.