Ho¹t ®éng tµi chÝnh ®ãng vai trß hÕt søc quan träng trong ho¹t ®éng s¶n xuÊt kinh doanh cña doanh nghiÖp vµ cã ý nghÜa quyÕt ®Þnh trong viÖc h×nh thµnh, tån t¹i vµ ph¸t triÓn cña doanh nghiÖp Họ và tê[.]
Trang 1Họ và tên: Lương Minh Thùy
Lớp: Kiểm toán 47B
KIỂM TRA: PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Đề bài: Qua nghiên cứu và học tập môn phân tích báo cáo tài chính anh, chị đã tiếp thu được những nội dung gì? Trong đó, anh chị thích nhất nghiên cứu vấn đề gì? Tại sao? Cho ví dụ minh hoạ và việc vận dụng vào phân tích ở các doanh nghiệp về những vấn đề đó như thế nào?
BÀI LÀM:
Qua nghiên cứu và học tập môn học phân tích báo cáo tài chính em
đã tiếp thu được những nội dung sau:
Hoạt động tài chính đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Hoạt động tài chính bao gồm những nội dung cơ bản là: xác định nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, tìm kiếm
và huy động nguồn vốn để đáp ứng hết nhu cầu và sử dụng vốn hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất
Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng của hoạt động tài chính, xác định đầy đủ và đúng đắn những nguyên nhân, mức
độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Từ đó,
có những giải pháp hữu hiệu nhằm ổn định và tăng cường tình hình tài chính của doanh nghiệp
Hệ thống báo cáo tài chính (BCTC) giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong phân tích hoạt động tài chính của doanh nghiệp, đồng thời, có ý nghĩa cực
kỳ quan trọng trong công tác quản lý doanh nghiệp BCTC cung cấp những thông tin tổng quát về kinh tế-tài chính, giúp cho việc phân tích tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phân tích thực trạng của doanh nghiệp trong
Trang 2kỳ; giúp cho việc phân tích tình hình tài sản, tình hình nguồn vốn, tình hình và kết quả sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định, phân tích thực trạng tài chính của doanh nghiệp Những thông tin trên các BCTC là những căn cứ quan trọng trong việc phân tích, phát hiện những khả năng tiềm tàng về kinh tế, giúp
dự đoán tình hình sản xuất kinh doanh cũng như xu hướng phát triển của doanh nghiệp để từ đó đưa ra những quyết định cho quản lý, điều hành đối với chủ doanh nghiệp hoặc quyết định của các đối tượng quan tâm; là những cơ sở quan trọng để tính ra các chỉ tiêu kinh tế khác, giúp cho việc đánh giá và phân tích hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả của các quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp
Như vậy, có thể thấy hệ thống BCTC là sự phản ánh đầy đủ nhất, cung cấp toàn bộ những thông tin kế toán hữu ích, giúp cho việc phân tích thực trạng tài chính của doanh nghiệp Chính vì vậy, phân tích hoạt động tài chính của doanh nghiệp chính là phân tích BCTC của doanh nghiệp
Phân tích BCTC là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua Thông qua đó cung cấp cho người sử dụng những thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro về tài chính trong tương lai của doanh nghiệp
Mục tiêu chủ yếu của phân tích BCTC là cung cấp những thông tin hữu ích, cần thiết, phục vụ cho chủ doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin khác như cơ quan Nhà nước, các nhà đầu tư, nhà cho vay…có thể đánh giá khách quan về sức mạnh tài chính của doanh nghiệp, về khả năng sinh lời và triển vọng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giúp cho họ có quyết định đúng đắn khi ra quyết định đầu tư, quyết định cho vay
Để đạt được những mục tiêu cơ bản của phân tích BCTC, nhiệm vụ của phân tích BCTC được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau: Cung cấp kịp thời, đầy đủ và trung thực các thông tin tài chính cho chủ doanh nghiệp, nhà đầu
tư, các nhà cho vay, các khách hàng, các nhà cung cấp; Cung cấp những thông
Trang 3tin về tình hình sử dụng vốn, khả năng huy động nguồn vốn, khả năng sinh lợi
và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; Cung cấp những thông tin về tình hình công nợ, khả năng thu hồi các khoản phải thu, khả năng thanh toán các khoản phải trả cũng như các nhân tố khác ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích BCTC là một trong những môn học chuyên ngành của sinh viên kiểm toán chúng em Đây là một môn học quan trọng, khó nhưng hấp dẫn Sự hấp dẫn của PT BCTC được tạo nên bởi chính cái khó của môn học này, bởi ở đây chúng em không chỉ học được cách tính các chỉ tiêu tài chính, biết được ý nghĩa của chúng mà còn phải đưa ra những ý kiến, nhận xét, đánh giá về các kết quả đó, thông qua đó, chúng em được rèn luyện kỹ năng đánh giá vấn đề, đề xuất kiến nghị - những kỹ năng rất quan trọng đối với sinh viên chuyên ngành kiểm toán chúng em Những nội dung cơ bản của phân tích BCTC mà chúng em
đã tiếp thu được qua quá trình nghiên cứu và học tập môn học này được trình bày tóm tắt như sau:
Qua nghiên cứu phân tích BCTC, chúng em được rèn luyện thêm về cách đọc và kiểm tra các BCTC - một công việc rất khó khăn và phức tạp nhưng lại hết sức quan trọng đối với người làm kế toán - kiểm toán
Phân tích BCTC cung cấp cho chúng em phương pháp phân tích khái quát
về tình hình tài chính của doanh nghiệp, để qua đây, cung cấp một cách tổng quát nhất về tình hình tài chính trong kỳ kinh doanh là khả quan hay không khả quan Qua đó, cho thấy thực chất của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và chuẩn đoán được khả năng phát triển hay có chiều hướng suy thoái của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, có những biện pháp hữu hiệu cho công tác tăng cường quản lý của doanh nghiệp Trong phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp, chúng em được làm quen với các chỉ tiêu kinh tế như: tỷ suất đầu
tư, tỷ suất tự tài trợ…
Phân tích BCTC cung cấp cách thức và phương pháp phân tích cấu trúc
và tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh, mà thực chất là phân tích
Trang 4cơ cấu tài sản nguồn vốn, phân tích từng phần của từng loại tài sản hoặc nguồn vốn trên tổng tài sản hoặc tổng nguồn vốn cho cả cuối kỳ và đầu năm Trên cơ
sở đó so sánh cơ cấu của từng khoản mục có sự thay đổi như thế nào cuối kỳ so với đầu năm và đánh giá thay đổi đó là tích cực hay tiêu cực Nếu là tích cực phải duy trì và phát triển, nếu là tiêu cực cần tìm ra nguyên nhân, kiến nghị giải pháp để tăng cường sự cân đối giữa các loại nguồn vốn, giữa các yếu tố của quá trình kinh doanh
Nghiên cứu phân tích BCTC còn giúp chúng em biết cách phân tích tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp Trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn luôn phát sinh việc thu, chi và thanh toán Các khoản phải thu, phải trả cần phải có một khoảng thời gian nhất định mới thanh toán được, còn thời gian thanh toán dài hay ngắn hoàn toàn tuỳ thuộc vào chế độ quy định về nộp thuế, nộp lãi của Nhà nước Tuỳ thuộc vào phương thức thanh toán đang được áp dụng hiện hành (tiền mặt, séc, ngân phiếu thanh toán…), tuỳ thuộc vào mối quan hệ và sự thoả thuận giữa các đơn vị với nhau Tình hình thanh toán của doanh nghiệp thể hiện việc chấp hành kỷ luật tài chính, kỷ luật thanh toán và tôn trọng pháp luật như chế độ thanh toán và thu chi theo quy định của Nhà nước Việc chiếm dụng vốn lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là một nét đặc trưng trong thương mại, thậm chí còn được coi như là một sách lược kinh doanh hữu hiệu của những doanh nghiệp ngang nhiên hoạt động trên thị trường mà trong tay không hề có một đồng vốn Do vậy, vấn đề thanh toán trở nên đặc biệt quan trọng đối với những doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn với tỷ lệ cao so với vốn kinh doanh Bởi vậy, việc phân tích tình hình thanh toán của doanh nghiệp, tìm ra những nguyên nhân của sự ngưng trệ, khê đọng các khoản công nợ nhằm tiến tới làm chủ về tài chính có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Trong nội dung này, chúng em được nghiên cứu cụ thể việc phân tích các khoản phải thu, phân tích các khoản phải trả; được biết thêm các chỉ tiêu
về khả năng thanh toán, các chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa các khoản phải thu và phải trả…
Trang 5Nội dung phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng được môn học cung cấp Qua nội dung này, chúng em hiểu rõ hơn về khái niệm hiệu quả kinh doanh, cách thức phân tích hiệu quả kinh doanh: hiệu quả kinh doanh
là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng nguồn nhân tài vật lực của doanh nghiệp Qua đó chủ doanh nghiệp và những đối tượng quan tâm thấy được hiệu quả đồng vốn họ bỏ ra, hiệu quả hoạt động kinh doanh của họ để có những định hướng và quyết định đúng đắn Trong nội dung này chúng em được học thêm các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng quát, suất hao phí tổng quát, hiệu quả sử dụng vốn, sức sản xuất, phân tích khả năng sinh lời theo vốn sản xuất kinh doanh, tốc độ chu chuyển của vốn ngắn hạn, ROA, ROE…các chỉ tiêu
về phân tích rủi ro trong kinh doanh
Tiếp đến là định giá doanh nghiệp, phân tích dấu hiệu khủng hoảng và rủi
ro tài chính Nội dung này cung cấp các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp và phân tích giá trị doanh nghiệp
Nội dung cuối cùng được đề cập trong quá trình nghiên cứu và học môn Phân tích BCTC là dự báo các chỉ tiêu trên BCTC
Nội dung phân tích hấp dẫn nhất
Trong các nội dung nêu trên, em hứng thú nhất với nội dung phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Bởi lẽ, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là vấn đề rất hấp dẫn, là nội dung được đặc biệt quan tâm không chỉ với doanh nghiệp mà cả với những ai quan tâm tới doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh là kết quả sau cùng của một quá trình hoạt động của doanh nghiệp
Ví dụ minh hoạ
Tiến hành phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp dựa trên tài liệu thu thập từ Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp năm 2007 sau đây:
BẢNG PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH
Năm 2007
( V: 1 tri u ĐV: 1 triệu đồng) ệu đồng) đồng)ng)
Trang 6Chỉ tiêu Cuối kỳ Đầu năm
1 Doanh thu bán hàng & cung cấp dịch vụ 9520 8000
7 Tổng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh 1168 800
(1) Phân tích ch tiêu hi u qu kinh doanh t ng quátỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng quát ệu đồng) ả kinh doanh tổng quát ổng quát
Hiệu quả kinh doanh = Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Chi phí đầu vào
Cuối kỳ Hiệu quả kinh doanh = 9520 = 1,286
6470 + 620 +310
Đầu năm Hiệu quả kinh doanh = 9520 = 1,286
6470 + 620 +310
Như vậy, cứ một đồng chi phí đầu vào trong kỳ của năm trước tạo ra được 1,286 đồng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ cuối kỳ so với đầu năm tăng lên 0,036 đồng (1,286 - 1,25) Điều này chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp năm nay so với năm trước cao hơn
(2) Phân tích chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh(SXKD)
Hiệu quả sử dụng Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Trang 7vốn SXKD (Hv ) =
Vốn sản xuất
Cuối kỳ Hv1 = 9520 = 3,302
2883
Đầu năm Hv0 = 8000 = 2,889
2769
Như vậy, cứ một đồng vốn sản xuất bình quân trong kỳ năm trước tạo ra được 2,889 đồng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, năm nay tạo ra được 3,302 đồng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Năm nay tăng lên so với năm trước, hiệu quả sử dụng vốn tăng lên 0,413 (3,302 - 2,889)
(3) Phân tích các chỉ tiêu mức doanh lợi theo vốn của doanh nghiệp
a) Mức doanh lợi theo vốn sản xuất = Lợi nhuận sau thuế
Vốn sản xuất
Cuối kỳ Mức doanh lợi theo vốn sản xuất
=
1052
= 0,364 2883
Đầu năm Mức doanh lợi theo vốn sản xuất
=
720
= 0,26 2769
Cứ một đồng vốn dùng vào sản xuất kinh doanh, đầu năm tạo ra được 0,26 đồng thực lãI thuần, cuối kỳ tạo ra được 0,364 đồng thực lãi thuần Cuối kỳ
so với đầu năm, mức doanh lợi theo vốn sản xuất tăng lên 0,104 đồng Điều đó
Trang 8phản ánh hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh kỳ này so với kỳ trước cao hơn
b) Mức doanh lợi theo vốn ngắn hạn = Lợi nhuận sau thuế
Vốn ngắn hạn
Cuối kỳ Mức doanh lợi theo vốn ngắn hạn = 1052 = 0,655
1604
Đầu năm Mức doanh lợi theo vốn ngắn hạn
=
720
= 0,448 1604
Mức doanh lợi theo vốn ngắn hạn năm nay so với năm trước tăng lên 0,207 đồng (0,655 - 0,448) Chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn năm nay
so với năm trước cao hơn
c) Mức doanh lợi theo vốn cố định = Lợi nhuận sau thuế
Vốn cố định
Cuối kỳ Mức doanh lợi theo vốn cố định = 1052 = 0,882
1279
Đầu năm Mức doanh lợi theo vốn cố định = 720 = 0,618
1165
Mức doanh lợi theo vốn cố định cuối kỳ so với đầu năm tăng 0,204 đồng (0,882 - 0,618) Chứng tỏ, hiệu quả sử dụng vốn cố định năm nay so với năm trước cao hơn
(4) Phân tích tốc độ chu chuyển của vốn ngắn hạn của doanh nghiệp
Trang 9a) Số vòng quay của vốn ngắn hạn
1604
1604
Số vòng quay của vốn ngắn hạn cuối kỳ so với đầu năm tăng lên là 0,853 vòng
b) Hệ số đảm nhiệm của vốn ngắn hạn
4,488
5,431
Để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần trong kỳ, đầu năm chỉ cần dùng vào sản xuất kinh doanh 0,222 đồng vốn ngắn hạn, cuối năm chỉ cần dùng voà sản xuất kinh doanh trong kỳ là 0,187 đồng vốn ngắn hạn Cuối kỳ so với đầu năm giảm xuống là 0,035 đồng vốn ngắn hạn Điều đó chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn năm nay tốt hơn năm trước
c) Độ dài bình quân của một vòng quay vốn ngắn hạn
4,488
5,341
Kết quả tính toán trên cho thấy số ngày của một vòng quay vốn ngắn hạn
kỳ này so với kỳ trước giảm đi được 13 ngày (81,3 - 68,3)
Trang 10Từ kết quả phân tích trên, lập Bảng kết quả phân tích hiệu quả kinh doanh sau:
BẢNG KẾT QUẢ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH
Năm 2007
V: 1 tri u ng ĐV: 1 triệu đồng) ệu đồng) đồng)
1 Hiệu quả kinh doanh tổng hơp 1,25 1,286 +0,036
2 Hiệu quả sử dụng vốn sản xuất tổng hợp 2,889 3,302 +0,413
3 Mức doanh lợi theo vốn sản xuất 0,26 0,364 +0,104
4 Mức doanh lợi theo vốn 0,448 0,655 +0,207
5 Mức doanh lợi theo vốn cố định 0,618 0,822 +0,204
6 Số lần luân chuyển của vốn ngắn hạn 4,488 5,341 +0,853
7 Hệ số đảm nhiệm vốn ngắn hạn 0,222 0,187 -0,035
8 Số ngày của 1 vòng quay (ngày) 81,3 68,3 -13
Kết quả trên cho thấy tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đang có chiều hướng tốt, hiệu quả sử dụng các loại vốn năm nay cao hơn so với năm trước, làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tăng, tổng thực lãi thuần năm nay so với năm trước tăng nhiều, chứng tỏ: tình hình tài chính của doanh nghiệp hết sức khả quan Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đang có xu thế phát triển tốt
Việc vận dụng trong doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp, việc phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh rất quan trọng và cần được thực hiện đều đặn theo kế hoạch để đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp, có thể thực hiện hàng tháng, hàng quý, hàng năm Thông tin phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp không chỉ quan trọng với chủ doanh nghiệp mà còn rất cần thiết cho các đối tượng quan tâm như: nhà đầu tư, nhà cho vay… để đưa ra được những quyết định đúng đắn nhất
Trang 11Mô hình phân tích tài chính Dupont thường được sử dụng trong doanh nghiệp để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp:
ROA là sức sinh lời của tài sản
(ROA = Lợi nhuận sau thuế/ Tài sản bình quân)
ROA phản ánh cứ một đồng tài sản sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng về lợi nhuận sau thuế ROA càng cao thì hiệu qủa sử dụng tổng tài sản của doanh nghiệp càng lớn Để nâng cao ROA cần tăng quy mô về lợi nhuận, đồng thời sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu tài sản của doanh nghiệp
ROS là hệ số sinh lời của doanh thu thuần
(ROS = Lợi nhuận sau thuế/ Doanh thu thuần)
ROS phản ánh cứ một đồng doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp thì có bao nhiêu đồng về lợi nhuận sau thuế ROS càng cao thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng lớn Để tăng ROS cần tìm biện pháp tăng quy mô của lợi nhuận, giảm chi phí, hạ giá thành, tăng giá bán sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp trên thị trường
SOA là số vòng quay của tài sản bình quân
(SOA = Doanh thu thuần/Tài sản bình quân)
SOA phản ánh cứ một đồng tài sản dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần SOA càng cao thì hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp càng lớn Để tăng SOA cần tăng quy mô của doanh thu bằng cách tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ và giá bán Mặt khác, phải tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu tài sản của doanh nghiệp
ROE là sức sinh lời của vốn chủ sở hữu
(ROE = Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu bình quân)