Chương I Tổng quan về du lịch và khôi phục phát triển các làng nghề PAGE Trường ĐH Kinh Doanh và Công nghệ Hà Nội PHẦN MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong quá trình Công nghiệp hoá, hi[.]
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong quá trình Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ta đã gặt háiđược rất nhiều thành công, nhưng bên cạnh đó còn có những bất cập Đấtnước ta khu vực nông thôn chiếm tới 74,5% dân số cả nước, đất canh tác ngàycàng bị thu hẹp do tốc độ đô thị hoá Do vậy vấn đề giải quyết việc làm cholao động dư thừa ở nông thôn là bài toán khó cho tất cả các cấp các ngành cầnphải giải quyết trong giai đoạn hiện nay Một trong những cách giải quyết chobài toán trên là nghiên cứu và phát triển các nghề truyền thống cho khu vựcnông thôn, chính vì thế trong những năm gần đây, làng nghề nông thôn đã hồisinh và phát triển, góp phần chuyển giao kinh tế nông thôn theo hướng tăng tỷ
lệ phần trăm giá trị của khu vực phi nông nghiệp, giảm tỷ lệ nông nghiệp, hỗtrợ công ăn việc làm cho lao động nông thôn và tạo ra các chiến lược pháttriển nông thôn mới
Hiện nay, ngoài mục đích chính là sản xuất các mặt hàng thủ côngtruyền thống là chính, một số làng nghề đã kết hợp đưa hoạt động du lịch vàokhai thác tại làng Nhưng để hoạt động du lịch ở các làng nghề truyền thốngphát triển thật sự có hiệu quả, góp phần thúc đẩy du lịch, kinh tế, xã hội củađất nước phát triển Đồng thời lưu giữ và giới thiệu được những nét văn hóađặc sắc nhất tới bạn bè quốc tế, thì chúng ta cần phải có sự nghiên cứu chuyênsâu hơn nữa, đầu tư, quy hoạch phát triển du lịch làng nghề một cách cụ thể
Trang 2Chính vì những lí do như trên nên tôi đã chọn đề tài nghiên cứu " Thực trạng và một số giải pháp phát triển du lịch với khôi phục phát triển làng nghề tại Công ty TNHH du lịch Mở Việt Nam – Hà Nội" với mong muốn sẽ
đóng góp một phần nào cho sự phát triển du lịch của các làng nghề truyềnthống ở Việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về phát triển du lịch với khôi phục và pháttriển làng nghề tại Công ty TNHH Du lịch Mở Việt Nam – Hà Nội và thựctrạng phát triển làng nghề và các điểm du lịch làng nghề Hà Nội, từ đó cónhững đánh giá và các giải pháp về sự phát triển làng nghề đối với phát triển
du lịch ở Hà Nội
Ngoài mục đích trên, nghiên cứu luận văn nhằm đạt những mục đích
cụ thể sau:
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về phát triển nghề truyền thống
- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch với khôi phục và phát triểnlàng nghề tại Công ty TNHH Du lịch mở Việt Nam – Hà Nội
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp cơ bản phát triển du lịch gắnvới khôi phục và phát triển làng nghề
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng pháttriển du lịch tại Công ty TNHH Du lịch mở Việt Nam – Hà Nội với khôi phục
và phát triển làng nghề Đó là những vấn đề chính như: thực trạng phát triểnkinh doanh của Công ty TNHH Du lịch Mở Việt Nam – Hà Nội và thực trạngphát triển làng nghề và các điểm du lịch làng nghề Hà Nội
Trang 3Phạm vi nghiên cứu: Tại cứu Công ty NHH du lịch Mở Việt Nam –
Hà Nội, và một số làng nghề trên địa bàn Hà Nội (làng nghề Bát Tràng và LụaVạn Phúc)
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp kếthợp giữa lý luận với thực tiễnvà phương pháp thống kê
5 Những đóng góp của đề tài
Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về phát triển nghề truyền thống
Đề xuất các phương hướng và các giải pháp cơ bản phát triển du lịch gắn vớikhôi phục và phát triển làng nghề
6 Nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Tổng quan về du lịch và khôi phục phát triển các làng nghề.
Chương II: Thực trạng phát triển du lịch với khôi phục và phát triển làng nghề tại Công ty TNHH Du lịch mở Việt Nam – Hà Nội.
Chương III: Các giải pháp phát triển du lịch gắn với khôi phục và phát triển làng nghề.
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH VÀ KHÔI PHỤC PHÁT
TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ
1 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
1.1.1 Khái niệm về hoạt động du lịch
1.1.1.1 Tiếp cận hoạt động du lịch dưới góc độ nhu cầu của con người
Du lịch hình thành và phát triển dựa trên cơ sở phát triển nhu cầu củacon người Nhu cầu du lịch được hình thành và phát triển trên cơ sở các nhucầu cơ bản của con người đã được thoả mãn và đời sống vật chất và tinh thầnkhông ngừng được nâng cao Trong điều kiện nền kinh tế chưa phát triển, đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân còn thấp thì nhu cầu du lịch chỉ giớihạn trong tầng lớp giầu có, quý tộc nhu cầu du lịch bao gồm:
-Nhu cầu cơ bản: nhu cầu ăn, uống, nghỉ ngơi, di chuyển
- Nhóm nhu cầu đặc trưng: Thoả mãn tính hiếu kỳ, nâng cao hiểu biết,thu nhận kinh nghiệm bao gồm: tham quan, nghỉ dưỡng, chữa bệnh và giải trí,đây là mục đích chính của du lịch
- Nhu cầu bổ sung: thoả mãn nhu cầu sinh hoạt cá nhân ngoài hainhóm trên
Khi kinh tế phát triển, đời sống vật chất tinh thần của nhân loại nângcao thì các nhu cầu trên không ngừng phát triển và trở thành một hiện tượng
xã hội góp phần làm phong phú thêm cuộc sống Từ đó các giáo sư của thếgiới và tổ chức du lịch thế giới đã khái quát: Du lịch là tổng hợp các hiệntượng và các mối quan hệ nảy sinh từ thăm quan giải trí vui chơi của conngười ngoài nơi cư trú thường xuyên – những người không có mục đích định
cư và không liên quan tới bất cứ hoạt động kiếm tiền nào
Cũng dựa trên tinh thần trên, các nhà lý luận thế giới đã khái quát mộtcách cô đọng hơn: du lịch là một hoạt động của con người ngoài nơi cư trú
Trang 5thường xuyên nhằm mục đích giải trí hoặc công vụ trong một thời gian nhấtđịnh.
1.1.1.2 Tiếp cận hoạt động du lịch dưới góc độ khách du lịch
Khách du lịch là đối tượng phục vụ chủ yếu của ngành du lịch, mụctiêu hoạt động của ngành du lịch là đáp ứng nhu cầu của các sản phẩm du lịchvới chất lượng cao nhất
Khái niệm về khách du lịch được hoàn chỉnh cùng với sự phát triểnngành du lịch Vào đầu thế kỷ 20 nhà kinh tế học người Anh – Odgil đã đưa
ra khái niệm “khách du lịch là người rời khỏi nơi cư trú một năm và tiêunhững khoản tiền tiết kiệm ở nơi khác ” khái niệm này chưa bao quát hết mụcđích của khách du lịch
Cùng với sự phát triển ngành du lịch vào giữa thế kỷ 20, nhà xã hộihọc Cohen đưa ra khái niệm “một người đi tự nguyện, mang tính nhất thời,với mong muốn được giải trí từ những điểm mới lạ và thay đổi thu nhận đượctrong một chuyến đi tương đối xa và không thường xuyên ” Khái niệm này
đã bao quát được: đối tượng du lịch, thời gian của chuyến đi, mục đích củachuyến đi
Phù hợp với xu thế phát triển du lịch thời đại và hoàn cảnh nước ta,luật du lịch 2005 của nước ta đưa ra khái niệm: “khách du lịch là người đi dulịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề
để nhận thu nhập ở nơi đến”
Từ những khái niệm trên, những người sau được gọi là khách du lịch:
- Những người đi du lịch rời khỏi nơi cư trú thường xuyên, đến nơi khác trongkhoảng thời gian nhất định mang tính nhất thời
- Những người đi thăm viếng, ngoại giao, hội họp, hội thảo trao đổi khoa học,công vụ thể thao …
Trang 6- Những người đi du lịch kết hợp kinh doanh, ký kết các hợp đồng kinh tế,xúc tiến thương mại.
- Việt kiều về thăm quê hương và người thân
1.1.1.3 Tiếp cận hoạt động du lịch dưới góc độ các sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là một cực của hoạt động ngành du lịch, cung ứngcho khách du lịch phù hợp với nhu cầu của từng đối tượng khách, các sảnphẩm du lịch bao gồm các dịch vụ
Các sản phẩm du lịch do nhiều doanh nghiệp sản xuất và cung ứngcho khách du lịch gồm: khách sạn, nhà hàng kinh doanh ăn uống, doanhnghiệp vận tải, các điểm và khu du lịch, các công ty văn hoá nghệ thuật…
Các sản phẩm du lịch có những đặc điểm sau:
- Trong cơ cấu các sản phẩm du lịch thì sản phẩm phi vật chất chiếm
tỷ trọng lớn nhất khoảng 70%-80% tổng chỉ tiêu của khách du lịch
- Hàm lượng văn hoá, nghệ thuật, mỹ thuật và thẩm mỹ giữ vị trí quantrọng trong các sản phẩm du lịch, thể hiện đậm nét chất lượng sản phẩm dulịch và một bộ phận cấu thành giá cả các sản phẩm du lịch
- Trong cơ cấu sản phẩm du lịch, lưu trú ở khách sạn giữ vị trí quantrọng và chi phối mọi hoạt động của du lịch
Từ phân tích trên các nước đã đưa ra khái niệm ngành du lịch thuộcnhóm các ngành dịch vụ
1.1.1.4 Tiếp cận hoạt động du lịch là một ngành kinh tế - dịch vụ du lịch
Nhu cầu của khách du lịch là nhu cầu khá tổng hợp nhiều sản phẩm donhiều ngành sản xuất cung ứng Trong thời gian đầu khi du lịch chưa pháttriển, nhu cầu các sản phẩm của con người thực hiện chuyến du lịch do bảnthân những người thực hiện chuyến du lịch tự cung cấp Song đến giai đoạn
du lịch phát triển, các nhu cầu của khách đi du lịch dần dần do các cơ sở sản
Trang 7xuất kinh doanh đảm nhiệm cung ứng các loại sản phẩm bao gồm: vậnchuyển, lưu trú, ăn uống, tham quan thắng cảnh ở các vùng, miền và đất nướcđến, tìm hiểu văn hoá và phong tục ở địa phương đến… Khi kinh tế phát triểncác sản phẩm du lịch được chuyên môn hoá theo ngành kinh tế chịu sự phâncông lao động xã hội như: ngành giao thông vận tải, ngành công nghiệp chếbiến thực phẩm, ngành khách sạn, ngành ăn uống, ngành văn hoá nghệthuật…
Theo sự phân tích trên, nhà học giả mỹ đã kết luận du lịch là mộtngành kinh tế tổng hợp và hội nghị liên hợp quốc về du lịch năm 1971 cũngthống nhất quan niệm ngành du lịch là người đại diện tập hợp các hoạt độngcông nghiệp và thương mại cung ứng toàn bộ hoặc chủ yếu các hàng hoá vàdịch vụ phục vụ khách du lịch
Căn cứ vào các luận điểm trên có thể khẳng định rằng du lịch là mộtngành kinh tế cung ứng các sản phẩm du lịch gắn với các giá trị tài nguyên dulịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch
- Điểm du lịch văn hoá là những điểm du lịch mang tính chất lịch sử
và các di sản văn hoá dân tộc, ví dụ như Đền Hùng, Chùa hương
- Điểm du lịch sinh thái là những điểm du lịch gắn với môi trườngthiên nhiên và hệ sinh thái
- Điểm du lịch nghỉ dưỡng gồm bãi biển nơi nghỉ ngơi tĩnh dưỡng
Trang 8- Điểm du lịch thể thao, vui chơi gồm sân golf, hồ bơi, các điểm vuichơi giải trí như Công viên nước Hồ tây, công viên Thống nhất.
- Điểm du lịch chữa bệnh gồm khu điều dưỡng, khu tắm nước nóngchữa bệnh
- Điểm du lịch làng nghề có truyền thống nổi tiếng
- Nơi có tài nguyên hấp dẫn và đặc biệt hấp dẫn với nhu cầu thamquan của khách du lịch
- Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ cần thiết, có khả năng bảo đảm phục
vụ ít nhất 100.000 lượt khách tham quan một năm đối với điểm du lịch quốcgia và 10.000 lượt khách mỗi năm đối với điểm du lịch địa phương
Khu du lịch có những đặc điểm sau:
- Khu du lịch là nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp có tính hấp dẫn cao đượcthẩm định giá trị văn hoá, nổi tiếng ở một vùng quốc gia và quốc tế
- Khu du lịch cung ứng cho khách du lịch nhiều loại sản phẩm du lịch khácnhau, vì vậy kinh doanh trong các khu du lịch gồm nhiều loại hình kinh doanhkhác nhau của nhiều thành phần kinh tế, tạo ra sự cạnh tranh giữa các thànhphần kinh tế, từ đó chất lượng các sản phẩm được nâng cao
-Khách du lịch đến thăm quan các khu du lịch gồm nhiều đối tượng khácnhau, mỗi loại khách đến thăm quan có nhu cầu khác nhau tuỳ theo lứa tuổi,nghề nghiệp và trình độ
Trang 91.1.2.2 Tiền đề hình thành các điểm và khu du lịch
a Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch giữ vị trí quan trọng để phát triển du lịch, là tiền đềhình thành và phát triển các điểm du lịch, khu du lịch và đô thị du lịch, khu dulịch và đô thị du lịch hấp dẫn thu hút khách du lịch trong và ngoài nước
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên di tíchlịch sử, văn hoá công trình sáng tạo của con ngưởi và các giá trị nhân vănkhác có thể áp dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hìnhthành các điểm du lịch, khu du lịch, đô thị du lịch
Từ khái niệm trên, có thể rút ra hai nội dung cơ bản: tài nguyên dulịch gồm tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đangđược khai thác và chưa được khai thác
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địamạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sửdụng phục vụ mục đích du lịch
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hoá, các yếu tốvăn hoá văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ kiển trúc, cáccông trình lao động sáng tạo của con người và di sản văn hoá vật thể và phivật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch
Tài nguyên du lịch là điểm xuất phát để xây dựng cấu trúc và chuyênmôn hoá các vùng du lịch, các điểm và khu du lịch, đô thị du lịch, phát triểncác loại hình du lịch, từ đó nguồn tài nguyên du lịch quyết định quy mô và tốc
độ phát triển ngành du lịch, cơ sở để hoạch định quy hoạch và chiến lược pháttriển du lịch ở các địa phương và quốc gia
Trên cơ sở kết quả điều tra phân loại đánh giá tài nguyên du lịch,ngành du lịch phải có kế hoạch bảo vệ, tôn tạo khai thác và sử dụng hợp lý cóhiệu quả các tài nguyên du lịch
Trang 10b Nhu cầu du lịch
Nhu cầu du lịch là tiền đề để phát triển du lịch Tài nguyên du lịch và
cơ sở hạ tầng xã hội là những nhân tố khách quan để phát triển du lịch, cònnhu cầu du lịch là nhân tố mang tính chủ quan đối với con người nhưng nhucầu du lịch chịu sự tác động của những nhân tố khách quan và chủ quan
Những nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu bao gồm: sự phát triển kinh tế
xã hội, tài nguyên du lịch và tôn tạo, bảo vệ và khai thác các tài nguyên, sựphát triển văn hoá xã hội và khoa học kỹ thuật, sự phát triển giao thông vậntải, yếu tố chính trị, sự phát triển ngành du lịch…
Nhu cầu du lịch rất đa dạng, mang tính chủ quan của khách du lịch.Song các nhà khoa học và quản lý ngành du lịch xác định nhu cầu du lịch rất
đa dạng và phức tạp nhưng có thể gộp lại thành ba nhóm sau:
+ Nhóm nhu cầu đặc trưng là thoả mãn tính hiếu kỳ, nâng cao hiểubiết, thưởng thức và giải trí … để thực hiện chuyến đi
+ Nhóm nhu cầu cơ bản gồm ăn uống nghỉ ngơi, di chuyển gắn liềnvới đời sống hàng ngày của con người
+ Nhóm nhu cầu bổ sung là nhằm thoả mãn các nhu cầu sinh hoạt cánhân ngoài hai nhóm nhu cầu trên
Khi nền kinh tế và văn hoá chưa phát triển thì nhu cầu du lịch rất đơngiản chỉ xuất hiện ở một số người quý tộc Nhưng khi nền kinh tế phát triển,năng suất lao động xã hội nâng lên, đời sống của con người được nâng lên,các nhu cầu cơ bản đã được thoả mãn như ăn uống, ở, đi lại, học hành … thìnhu cầu du lịch phát triển mạnh ở các tầng lớp xã hội như: nhu cầu thamquan, giải trí, nghỉ dưỡng, thăm viếng, văn hoá thể thao, tìm kiếm thị trường
để phát triển kinh doanh…
Khách du lịch gồm nhiều đối tượng khác nhau mỗi đối tượng có sởthích nhu cầu khác nhau Trong nhóm đối tượng khách gồm nhiều cá nhân
Trang 11khác nhau theo lứa tuổi, theo giới tính, theo nghề nghiệp theo trình độ vănhoá, theo địa vị xã hội nên nhu cầu của cá nhân cũng hoàn toàn khác nhau, sựlựa chọn chuyến du lịch cũng không giống nhau.
Sự phát triển nhu cầu du lịch đóng vai trò đến quy mô tốc độ pháttriển ngành du lịch, quyết định phát triển các loại hình du lịch và nhiều loạihình du lịch mới hình thành và phát triển
c Cơ sở hạ tầng xã hội
Cơ sở hạ tầng xã hội có liên quan trực tiếp đến hình thành và pháttriển du lịch bao gồm hệ thống giao thông vận tải, phát triển bưu chính viễnthông, phát triển các cơ sở y tế… cơ sở hạ tầng xã hội là tiền đề quan trọng đểhình thành và phát triển ngành du lịch
* Hệ thống giao thông
Khách du lịch rời khỏi nơi cư trú để đến các điểm và khu du lịch đểthăm quan giải trí, thực hiện chuyến du lịch Vấn đề đầu tiên phải có phươngtiện giao thông để vận chuyển khách du lịch, nếu không có phương tiện vậnchuyển và đưa đón khách thì chuyến du lịch không thể thực hiện được, cónghĩa là du lịch không thể hình thành và phát triển được Do vậy hệ thốnggiao thông vận tải khách du lịch là tiền đề phát triển du lịch
Tài nguyên du lịch hấp dẫn giữ vị trí quan trọng để phát triển du lịch,
vị trí này được thể hiện thông qua sự phát triển hệ thống giao thông vận tải,giao thông vận tải không phát triển thì tài nguyên du lịch hấp dẫn không thểkhai thác đưa vào sử dụng như vậy tài nguyên du lịch và phát triển hệ thốnggiao thông vận tải là hai tiền đề quan trọng, là hai mặt tác động lẫn nhau đểphát triển ngành du lịch
Ngoài hệ thống giao thông công cộng xã hội, hệ thống giao thông ởcác điểm du lịch, khu du lịch, đô thị du lịch đóng vai trò quan trọng để thu hút
du lịch tham quan, giải trí ở các điểm và khu du lịch Các điểm du lịch và
Trang 12khu du lịch thường ở xa đường quốc lộ, vì vậy từ đường quốc lộ vào các điểm
du lịch và khu du lịch phải có các loại đường giao thông phù hợp với từngđiểm và khu du lịch
* Bưu chính viễn thông
Giao thông liên lạc là nhu cầu không thể thiếu được của các tầng lớpnhân dân, đặc biệt là khách du lịch Các loại hình bưu chính viễn thông pháttriển sẽ có tác động mạnh đến nhu cầu của khách du lịch và kích thích ngườidân tham gia hoạt động du lịch
1.1.2.3 Đặc điểm hoạt động của các điểm và khu du lịch
a Hình thành và phát triển ở những nơi có nhiều tài nguyên du lịchhấp dẫn
Các điểm và khu du lịch được hình thành và xây dựng ở những nơi cónhững tài nguyên du lịch hấp dẫn, vì điểm và khu du lịch là điểm đến củakhách du lịch với mục tiêu thu hút khách Luật du lịch năm 2005 đã đưa rakhái niệm về tài nguyên du lịch “tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên,yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử, văn hoá, công trình lao động sáng tạo của conngười và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhucầu du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch tuyến
du lịch, đô thị du lịch.” Từ khái niệm trên cho thấy, tài nguyên du lịch là tiền
đề để phát triển ngành du lịch nói chung và các điểm và khu du lịch nói riêng,đóng vai trò quyết định để hình thành và phát triển các điểm và khu du lịch ởđịa phương nào quốc gia nào nghèo tài nguyên du lịch thì ở đó không thể pháttriển các điểm và khu du lịch, ngành du lịch không thể phát triển
b Hội tụ các loại hình doanh nghiệp du lịch, các công ty lữ hành,khách sạn nhà hàng, khu vui chơi giả trí
Để đáp ứng nhu cầu du lịch, ở các điểm và khu du lịch thu hút nhiềuloại hình doanh nghiệp của các thành phần kinh tế đầu tư kinh doanh du lịch
Trang 13đặc biệt ở các khu du lịch và đô thị du lịch: các loại hình kinh doanh du lịchbao gồm: kinh doanh lưu trú, kinh doanh nhà hàng, tổ chức vui chơi giải trí,kinh doanh thương mại bán các loại sản phẩm đặc sản và hàng lưu niệm Đặcđiểm này là yếu tố quan trọng để phát triển ngành du lịch đất nước đồng thờicũng tạo những phức tạp trong công tác quản lý hoạt động của các điểm vàkhu du lịch.
c Đặc điểm quản lý của các điểm và khu du lich
Xuất phát từ đặc điểm các điểm và khu du lịch sản phẩm khác nhaucủa các điểm và khu du lịch, từ đó theo sự phân cấp quản lý của nhà nước vềquản lý các điểm và khu du lịch như sau:
- Các điểm du lịch văn hoá mang tính nhân văn giao cho ngành vănhoá quản lý, các điểm du lịch sinh thái giao cho ngành du lịch quản lý
- Các khu du lịch ở địa phương do UBND tỉnh ra quyết định thành lập,các khu du lịch quốc gia và đô thị du lịch do Tổng cục ra quyết đinh thànhlập Tuy cấp ra quyết định thành lập khác nhau song đều giao cho địa phương(Sở Văn hoá - thể thao – du lịch) quản lý hoạt động
Tuy có các cơ quan quản lý khác nhau, nhưng cơ quan sử dụng vàkhai thác là ngành du lịch Các điểm và khu du lịch là điểm đến của khách dulịch thông qua các chương trình du lịch bán cho khách quốc tế và khách nộiđịa Vì vậy hoạt động của ngành du lịch nói chung và các doanh nghiệp lữhành nói riêng đóng vai trò quyết định phát triển hoạt động kinh doanh vàhiệu quả kinh doanh các điểm và khu du lịch
d Điểm xuất phát của các loại hình du lịch
Xuất phát từ nhu cầu du lịch và mục đích để thoả mãn nhu cầu khách,hoạt động du lịch gồm nhiều loại hình du lịch khác nhau: du lịch văn hoá, lễhội, du lịch sinh thái, du lịch giải trí, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch làng quê, dulịch làng nghề…
Trang 14Các điểm và khu du lịch vừa là điểm đến của các loại hình du lịch,vừa là điểm xuất phát và hình thành các chương trình du lịch Như vậy, cácđiểm và khu du lịch giữ vị trí quan trọng để phát triển các loại hình du lịch vànâng cao chất lượng các loại hình du lịch.
e Đặc điểm cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật là yếu tố quan trọng nâng cao chất lượng phục
vụ khách, song mỗi loại hình kinh doanh du lịch khác nhau, thì cơ sở vật chất
kỹ thuật cũng có những nét riêng, trong đó có các điểm và khu du lịch thểhiện trên những nét sau:
- Cơ sở vật chất kỹ thuật của các điểm và khu du lịch tổng hợp cácchủng loại trang thiết bị của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch
- Cơ sở vật chất kỹ thuật trong các điểm và khu du lịch thuộc sở hữucủa nhiều doanh nghiệp khác nhau của các thành phần kinh tế trong và ngoàinước Các loại doanh nghiệp này sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của mình đểsản xuất các sản phẩm dịch vụ phục vụ khách hoàn toàn độc lập không phụthuộc và chịu sự quản lý của các điểm và khu du lịch
1.1.3 Vai trò của phát triển du lịch đối với phát triển kinh tế địa phương
và khôi phục phát triển các làng nghề
1.1.3.1 Khai thác và sử dụng hiệu quả các tài nguyên du lịch ở địa phương
Trong những năm qua nước ta khai thác các tài nguyên du lịch đưavào sử dụng nên góp phần đưa ngành du lịch Việt Nam phát triển với tốc độcao và trở thành điểm đến của du khách nước ngoài Song hiện nay tài nguyên
du lịch ở nước ta chưa khai thác hết và hiệu quả sử dụng chưa cao Vì vậykhai thác tôn tạo, nâng cấp và sử dụng các tài nguyên du lịch là chức năngquan trọng của quản lý hoạt động các điểm và khu du lịch
Trang 15Quy hoạch phát triển các điểm và khu du lịch để khai thác có hiệu quảcác tài nguyên du lịch, các cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch ở địaphương, quản lý các điểm và khu du lịch phải tiến hành điều tra, đánh giá,phân loại các tài nguyên du lịch để làm quy hoạch xây dựng các điểm và khu
du lịch Đây là yếu tố để xây dựng các điểm và tour du lịch
1.1.3.2 Khai thác các nguồn lực ở địa phương, phát triển du lịch góp phần đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế ở địa phương
Ở địa phương có nhiều tài nguyên du lịch, nhưng biết cách tổ chứcđiều tra và khai thác sử dụng để phát triển du lịch ở địa phương, đầu tư cácđiểm và khu du lịch sẽ thu hút khách du lịch thập phương đến địa phương tiêuthụ các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách Đây là yếu tố quantrọng để thúc đẩy kinh tế địa phương nơi đến trên các mặt: kích thích các làngnghề phát triển về số lượng các làng nghề, số lượng các sản phẩm và chấtlượng sản phẩm tăng lên theo nhu cầu của khách, quảng bá sản phẩm mở rộngquan hệ kinh tế thương mại với các vùng, các địa phương và các nước, tạocông ăn việc làm và thu nhập cộng đồng dân cư ở địa phương, góp phần thúcđẩy các ngành kinh tế công nghiệp, dịch vụ ở địa phương phát triển
Sự phát triển du lịch là cơ hội tốt để địa phương quảng cáo tình hìnhkinh tế địa phương, các sản phẩm, các danh lam thắng cảnh và văn hoá dântộc ở địa phương để nhân dân các địa phương các nước hiểu và quan hệ thiếtlập với địa phương, đặc biệt là quan hệ kinh tế thương mại để mở rộng thịtrường, thúc đẩy kinh tế ở địa phương phát triển
1.1.3.3 Tạo việc làm và tăng thu nhập của nhân dân ở địa phương, đảm bảo
an sinh xã hội
Ở địa phương có nhiều tài nguyên du lịch, nhưng biết cách tổ chứcđiều tra và khai thác sử dụng để phát triển du lịch ở địa phương, đầu tư xây
Trang 16dựng các điểm và khu du lịch sẽ thu hút khách du lịch thập phương đến địaphương tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách Đây làyếu tố quan trọng để thúc đẩy kinh tế địa phương nơi đến trên các mặt: kíchthích các làng nghề phát triển về số lượng các làng nghề, số lượng các sảnphẩm và chất lượng sản phẩm tăng lên theo nhu cầu của khách, quảng bá sảnphẩm và mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với các vùng, các địa phương
và các nước tạo công ăn việc làm và thu nhập cho cộng đồng dân cư ở địaphương, góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch
vụ ở địa phương phát triển và giải quyết các vấn đề an sinh xã hội
Phát triển các điểm và khu du lịch tạo nhiều chỗ làm cho nhân dân ởđịa phương, thu hút lượng lao động làm việc ở các doanh nghiệp du lịch, ởkhu du lịch phát triển các dịch vụ phụ trợ phục vụ khách du lịch Theo số liệuthống kê của một số địa phương phát triển các điểm và khu du lịch thu hút 1lao động vào làm việc thì tạo việc làm bình quân 10 người làm dịch vụ kháchngoài điểm và khu du lịch như dịch vụ bán sản phẩm, phát triển các dịch vụphục vụ khách góp phần thực hiện mục tiêu an sinh xã hội ở địa phương
Sự phát triển du lịch là cơ hội tốt để địa phương quảng cáo tình hìnhkinh tế địa phương, các sản phẩm các danh lam thắng cảnh và văn hoá dân tộc
ở địa phương để nhân dân các địa phương, các nước hiểu và thiết lập quan hệvới địa phương, đặc biệt là quan hệ kinh tế thương mại để mở rộng thị trường,thúc đẩy kinh tế ở địa phương phát triển
Đối với những vùng kinh tế có nhiều khó khăn về dời sống kinh tế vănhoá, những nơi có tài nguyên du lịch phong phú và hấp dẫn Địa phương vàcác tổ chức kinh doanh du lịch biết khai thác những tài nguyên du lịch và thuhút vốn đầu tư trong và ngoài nước xây dựng các điểm và khu du lịch hấpdẫn Khi các điểm và khu du lịch này đưa vào hoạt động sẽ có tác dụng thúcđẩy kinh tế và văn hoá ở địa phương phát triển
Trang 171.1.3.4 Tạo phát triển mối quan hệ giữa địa phương với các nước để phát triển kinh tế đối ngoại
Xu thế của thời đại là sự phát triển hội nhập khu vực và quốc tế Sựphát triển ngành du lịch là nhịp cầu thúc đẩy quá trình hội nhập và phát triểnkinh tế với các nước trên thế giới Du lịch phát triển đặc biệt là du lịch quốc
tế, khách du lịch quốc tế là những người đóng vai trò trung gian để thiết lậpquan hệ giữa các nước với nhau để thúc đẩy nhanh quá trình hợp tác và hộinhập
Trong nền kinh tế thị trường, số lượng khách du lịch kết hợp tìm kiếmthị trường và các đối tác kinh doanh ngày càng phát triển Đây là cơ hội đểthiết lập quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, thu hútvốn đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường thế giới Từ đó góp phần thúc đẩycác cơ quan quản lý nhà nước hoàn thiện cơ chế chính sách phát triển kinh tếđối ngoại, chính sách hợp tác và hội nhập, chính sách thu hút vốn đầu tư nướcngoài
1.1.3.5 Góp phần khôi phục và phát triển bản sắc văn hoá ở địa phương
Mỗi dân tộc đều tự hào về truyền thống dân tộc, về nền văn hoá dântộc mình Phát triển du lịch có nghĩa là thu hút khách du lịch đến địa phương,kích thích chính quyền địa phương và cư dân áp dụng các biện pháp tôn tạonâng cấp và phát triển nền văn hoá dân tộc ở địa phương mình
Từ khi nước ta thực hiện đường lối đổi mới, đời sống nhân dân nângcao, nhu cầu văn hoá du lịch của nhân dân tăng lên, để đáp ứng nhu cầu này,nhà nước chủ chương khôi phục và phát triển các đền chùa, các lễ hội và tăngthời gian vui chơi thăm viếng của lễ hội
Trang 181.1.3.6 Góp phần tăng thu ngân sách ở địa phương
Hình thành các điểm và khu du lịch đồng nghĩa với khai thác các tàinguyên du lịch vốn có của địa phương để phát triển kinh tế, góp phần đẩynhanh nhịp độ tăng trưởng GDP ở địa phương, nâng cao vị thế của địaphương trên thị trường trong nước và quốc tế Khách du lịch đến các điểm vàkhu du lịch không những đem phần thu nhập của minh phân phối lại ở địaphương đến, mà còn tạo cơ hội thiết lập quan hệ kinh tế giữa các địa phươngtrong nước và giữa địa phương với các nước ngoài thông qua hợp đồng xuấtnhập khẩu góp phần phát triển kinh tế ở địa phương
Hoạt động các điểm và khu du lịch phát triển thu hút khách du lịchđến càng đông, doanh thu càng phát triển và hiệu quả kinh tế càng cao, nghĩa
vụ đối với ngân sách địa phương càng lớn
1.2 VAI TRÒ KHÔI PHỤC PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở ĐỊA PHƯƠNG VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm phát triển làng nghề
1.2.1.1 khái niệm làng nghề truyền thống
Nghề truyền thống trước hết là những nghề tiểu thủ công nghiệp đượchình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được sản xuất tập trungtại một vùng hay một làng nào đó Từ đó hình thành các làng nghề, xã nghề.Đặc trưng cơ bản nhất của mỗi nghề truyền thống là: phải có kỹ thuật và côngnghệ truyền thống, đồng thời có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề Sảnphẩm làm ra vừa có tính hàng hóa vừa có tính nghệ thuật và mang đậm bảnsắc văn hóa dân tộc
Nghề truyền thống ở Hà Nội rất phong phú và đa dạng, có những nghề
đã hình thành và tồn tại hàng trăm năm Nhiều sản phẩm truyền thống đã nổi
Trang 19tiếng ở trong nước và thế giới: Gốm sứ Bát tràng có trên 600 năm, dệt sợiTriều Khúc tồn tại và phát triển trên 300 năm…
Những nghề truyền thống thường được lưu truyền trong phạm vi từnglàng Ngày nay khoa học kĩ thuật và công nghệ phát triển mạnh mẽ, việc sảnxuất các sản phẩm có tính truyền thống được hỗ trợ bởi quy trình công nghệmới với nhiều loại nguyên liệu mới Do vậy khái niệm nghề truyền thốngcũng được nghiên cứu và mở rộng hơn, có thể hiểu “ Nghề truyền thống baogồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu trong lịch sử, đượctruyền từ đời này qua đời khác còn tồn tại đến ngày nay, kể cả những nghề đãđược cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuấtnhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống, và đặc biệt sản phẩm của nó vẫnthể hiện những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc”
Từ cách tiếp cận và nghiên cứu trên có thể định nghĩa: “ Làng nghề truyền thống là những thôn làng có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh và đem lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu trong năm Những nghề thủ công đó được truyền từ đời này qua đời khác, thường là nhiều thế hệ Cùng với thử thách của thời gian, các làng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo,với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ và đã trở thành hàng hóa trên thị trường”.
1.2.1.2 Đặc điểm phát triển làng nghề
a Đặc điểm về kỹ thuật, công nghệ:
Đặc điểm đặc trưng đầu tiên của nghề thủ công truyền thống là kỹthuật thủ công mang tính truyền thống và bí quyết dòng họ
Trang 20Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của sản xuất trongcác làng nghề truyền thống đã tạo nên một đặc điểm nữa, đó là sự kết hợpgiữa công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại trong quá trình sản xuất.
Sự kết hợp này đã đem lại những ưu thế đặc biệt quan trọng: tạo ra năng suấtlao động cao hơn gấp nhiều lần so với lao động bằng phương pháp thủ công,sản phẩm được sản xuất hàng loạt với chất lượng cao, giảm bớt sự nặng nhọc
và độc hại cho người lao động…
b Đặc điểm về sản phẩm
Đặc điểm riêng nhất, đặc sắc nhất của sản phẩm truyền thống là độcđáo và có tính nghệ thuật cao Sản phẩm của mỗi làng, mỗi vùng mang mộttrình độ kỹ thuật riêng và đặc trưng riêng của làng đó, vùng đó Do vậy người
ta có thể phân biệt được sản phẩm gốm sứ của Bát Tràng với gốm sứ củaĐồng Nai,…Các sản phẩm đều là sự kết hợp giữa phương pháp thủ công tinhxảo với sự sáng tạo nghệ thuật Một đặc điểm nữa của sản phẩm truyền thống
là mang tính riêng lẻ, đơn chiếc và thể hiện những nét đặc trưng bản sắc vănhóa dân tộc ở địa phương Đặc điểm này cũng do sự quy định của việc sửdụng công cụ thủ công và công nghệ truyền thống Tuy nhiên, chính vì xuấtphát từ đặc điểm này mà sản phẩm truyền thống thường có giá thành cao, mẫu
mã không phong phú và chậm được đổi mới Đây là một trong những nguyênnhân dẫn đến sự hạn chế trong cạnh tranh và mở rộng thị trường
Sản phẩm truyền thống rất đa dạng và phong phú do phải đáp ứng cácnhu cầu của đời sống kinh tế và văn hóa của người lao động Đây là điều kiệntốt để các làng nghề truyền thống phát triển sản xuất, mở rộng thị trường, thiếtlập quan hệ bạn hàng mới
c Đặc điểm về lao động
Đặc điểm nổi bật trong các làng nghề truyền thống là sử dụng laođộng thủ công là chính Trước đây khi kỹ thuật công nghệ còn thô sơ, lạc hậu
Trang 21thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều do lao động thủ côngđảm nhận, kể cả những công đoạn nặng nhọc và độc hại nhất Trong các làngnghề truyền thống vai trò của các nghệ nhân rất quan trọng, được coi là nòngcốt của quá trình sản xuất và sáng tạo ra sản phẩm Chính các nghệ nhân lànhững người dạy nghề, truyền nghề trực tiếp cho các thành viên trong giađình hoặc dòng họ Tuy nhiên, từ sau hòa bình lập lại tình hình đã thay đổi.Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp được đẩy mạnh vào những năm 60 củathế kỉ trước, nhiều cơ sở quốc doanh, tập thể làm các nghề tiểu, thủ côngnghiệp truyền thống được thành lập và phát triển Cũng từ giai đoạn nàyphương thức dạy nghề và truyền nghề đã có nhiều thay đổi và ngày càng đadạng, phong phú với nhiều hình thức đào tạo từ hộ gia đình, tư nhân, địaphương (huyện, xã) và nhà nước Phương thức này cho đến nay vẫn được xem
là phương thức dạy nghề chủ yếu và có hiệu quả trong các làng nghề truyềnthống
d Đặc điểm thị trường
Thị trường là một yếu tố rất quan trọng, nó có ý nghĩa quyết định tới
sự tồn tại và phát triển đối với mỗi làng nghề
- Thị trường cung ứng nguyên, vật liệu: Thị trường nguyên vật liệu trước
đây chủ yếu là thị trường mua bán tại chỗ, nhất là đối với nguyên liệu phục vụcho nghề chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất sản phẩm tiêu dùng nhưđan lát Sau một thời gian nguồn nguyên vật liệu này cũng cạn dần đi, do đóphải được bổ sung bằng các nguồn ở nơi khác Vì vậy khi sản xuất phát triểnthì cũng đồng thời xuất hiện những tổ chức và cá nhân chuyên khai thác haylàm dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu cho các hộ và các cơ sở chuyên làmnghề Do vậy sau này đã hình thành một thị trường nguyên vật liệu rộng lớnhơn, không chỉ có những hộ chuyên cung cấp ở tại làng nghề đó mà đã cómạng lưới những cá nhân, doanh nghiệp ở các địa phương khác chuyên làm
Trang 22dịch vụ cung cấp theo những hợp đồng lớn cho các hộ gia đình và cơ sở sảnxuất ở làng nghề.
- Thị trường công nghệ: Ngày nay, dưới sự tác động của cách mạng
khoa học kỹ thuật, thị trường công nghệ trong làng nghề truyền thống đã cónhững bước phát triển mới, nó có nhiệm vụ chuyển giao công nghệ mới, hiệnđại vào quá trình sản xuất nhằm thực hiện “ hiện đại hóa công nghệ truyềnthống”, thay thế công nghệ thủ công lạc hậu bằng công nghệ hiện đại để nângcao năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Thị trường vốn: tuy đã được hình thành nhưng vẫn còn nhỏ bé so với
sức phát triển của sản xuất
- Thị trường lao động: được hình thành, phát triển và có nhiều yếu tố
mới, trước đây việc sử dụng lao động làm nghề chủ yếu là lao động tại địaphương và mang tính chất thời vụ, hầu hết những người làm thuê chỉ đi làmvào lúc nông nhàn Hiện nay ngoài số lao động nông nhàn còn có một bộphận lớn đi làm thường xuyên trong suốt cả năm Thị truờng lao động khôngchỉ có ở địa phương có làng nghề truyền thống mà được mở rộng sang cácvùng khác, tỉnh khác, và đây đã trở thành nguồn cung cấp nhân lực quan trọngcho các làng nghề truyền thống
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Loại thị trường này rất quan trọng, nó
đóng vai trò quyết định tới sự sống còn của một nghề hay của một làng nghề.Thị trường tiêu thụ sản phẩm được hình thành trên cơ sở phát triển cơ sở sảnxuất và nhu cầu trao đổi hàng hóa Tuy nhiên về cơ bản đó vẫn là thị trườngtại chỗ, nhỏ hẹp Sau này khi sản xuất phát triển, sự trao đổi hàng hóa được
mở rộng, hệ thống chợ nông thôn phát triển, hệ thống chợ ở các làng nghềcũng được hình thành và phát triển nhanh chóng Tuy nhiên khả năng tiêu thụcòn hạn chế và không ổn định do mức thu nhập và sức mua của người dâncòn thấp Tuy thị trường nông thôn rộng lớn nhưng các vùng sản xuất thuần
Trang 23nông lại chiếm tỷ lệ cao Nhiều loại sản phẩm truyền thống được thị trườngtrong nước chấp nhận và đã vươn tới nhiều vùng của đất nước.
Đối với thị trường nước ngoài thì từ lâu các sản phẩm truyền thống đãthực sự hấp dẫn đối với nhiều khách hàng Tuy nhiên sự đòi hỏi khắt khe củathị truờng nước ngoài về chất lượng, chủng loại và sự thay đổi mẫu mã vẫnphải thể hiện sắc thái riêng vốn có của văn hóa Việt Nam trong từng thời sảnphẩm cũng là một khó khăn cho sản xuất của các làng nghề để phù hợp với xuthế của thời đại, thời đại hội nhập kinh tế thế giới Thị trường tiêu thụ sảnphẩm làng nghề của Việt Nam đã phát triển ra nhiều nước trên thế giới thôngqua các doanh nghiệp xuất khẩu và khách du lịch quốc tế
e Đặc điểm về hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh :
Trong lịch sử phát triển làng nghề truyền thống, hình thức tổ chức sảnxuất kinh doanh truyền thống phổ biến nhất là hình thức hộ gia đình Ngàynay bên cạnh hình thức này, một số hình thức khác được ra đời và phát triển
- Hộ gia đình: là hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong các làngnghề truyền thống Hộ gia đình vừa là một đơn vị sản xuất, một đơn vị kinh
tế, vừa là một đơn vị sinh hoạt
- Tổ sản xuất: Là hình thức hợp tác, liên kết tự nguyện một số hộ giađình với nhau để cùng sản xuất kinh doanh một mặt hàng nào đó Hợp tác làphương thức tất yếu trong lao động sản xuất và hoạt động kinh tế, là cơ sở tạo
ra sức sản xuất xã hội của lao động Sự hợp tác kinh tế này đã tạo ra sự tương
hỗ lẫn nhau trong việc thực hiện các khâu của quá trình sản xuất
- Hợp tác xã: Hợp tác xã kiểu mới ra đời trên cơ sở hợp tác các chủthể kinh tế tự chủ Luật Hợp tác xã ra đời đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý rất
cơ bản cho sự vận động và phát triển của hợp tác xã trong điều kiện kinh tế thịtrường
Trang 24- Doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần Hình thức
tổ chức này được phát triển từ một số tổ chức sản xuất hoặc một số hộ giađình có tiềm lực kinh tế khá, có trình độ tổ chức và có khả năng tiếp cận thịtrường Ở một số làng nghề truyền thống, hình thức này tuy không chiếm tỷtrọng lớn về số lượng lao động nhưng lại đóng vai trò là trung tâm liên kết màcác hộ gia đình là các vệ tinh, thực hiện các hợp đồng đặt hàng, giải quyết đầu
ra, đầu vào cho các hộ gia đình…
Trên đây là một số hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh cơ bản đã,đang hình thành và phát triển ở các làng nghề truyền thống Những hình thứcnày cùng tồn tại đan xen, hỗ trợ nhau phát triển Sự đan xen này đã đảm bảo
sự thích ứng của từng loại hình đối với nhu cầu sản xuất và đặc trưng củangành nghề Do đó đã tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh
tế ở các làng nghề trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay
1.2.2 Các tiêu thức phân loại các làng nghề
1.2.2.1 Căn cứ vào nguồn gốc nguyên liệu để sản xuất sản phẩm gồm có các làng nghề sau:
- Làng nghề sản xuất các sản phẩm từ mây, tre, nứa lát, lá cói
- Làng nghề sản xuất các sản phẩm từ gỗ
- Làng nghề sản xuất các sản phẩm đồ gốm, sành sứ từ đất nung
- Làng nghề sản xuất gạch ngói,vật liệu xây dựng từ đất, đá, xỉ than…
- Làng nghề sản xuất bún, bánh mứt kẹo…
- Làng nghề sản xuất các sản phẩm giấy, bao bị, in ấn…
- Làng nghề sản xuất các thực phẩm, rượu, bia, nước giải khát…
- Làng nghề sản xuất các sản phẩm thép, tôn, nhôm, thiếc
- Làng nghề sản xuất các sản phẩm đặc sản nông nghiệp, chăn nuôi gia súcgia cầm, thuỷ sản, hoa quả, rau sạch…
Trang 25- Làng nghề sản xuất các sản phẩm từ nhựa, Polime.
- Làng nghề sản xuất các sản phẩm dệt, may, thêu
- Các làng nghề cung cấp các dịch vụ phục vụ nhân dân ở địa phương
- Các làng nghề sản xuất, chế tạo các công cụ phục vụ sản xuất sản phẩm
- Các làng nghề sản xuất chế tạo các thiết bị máy móc phục vụ sản xuất côngnghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
1.2.3 Vai trò của làng nghề đối với phát triển kinh tế xã hội ở địa phương
và du lịch.
Phát triển các ngành nghề và làng nghề truyền thống và các ngànhnghề mới bao gồm cả tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêudùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyênliệu phi nông nghiệp, các loại hình dịch vụ sản xuất và đời sống nhân dân
Như vậy việc phát triển làng nghề đóng vai trò chủ yếu sau:
Trang 261.2.3.1 Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hoá
Trong quá trình phát triển, các nghề và làng nghề truyền thống đã cóvai trò tích cực góp phần tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vàdịch vụ, chuyển một bộ phận lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhậpthấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn Khi nghề thủcông hình thành và phát triển thì kinh tế nông thôn không chỉ có ngành nôngnghiệp thuần nhất, mà bên cạnh là các ngành thủ công nghiệp, thương mại vàdịch vụ cùng tồn tại và phát triển
Xét trên góc độ phân công lao động thì các nghề và làng nghề đã cótác động tích cực tới sản xuất nông nghiệp Nó không chỉ cung cấp tư liệu sảnxuất cho khu vực nông nghiệp và còn có tác dụng chuyển dịch cơ cấu trongnội bộ ngành nông nghiệp
Khác với sản xuất nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là mộtquá trình liên tục đòi hỏi thường xuyên dịch vụ cung ứng vật liệu và tiêu thụsản phẩm Do đó dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức
đa dạng phong phú, đem lại thu nhập cao cho người lao động
Sự phát triển của làng nghề truyền thống có tác dụng rõ rệt với quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH Sự phát triển lan tỏa của làng nghề truyền thống đã mở rộng quy môđịa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động Đến nay cơ cấu kinh tế ở nhiều làngnghề đạt 60-80% cho công nghiệp và dịch vụ, 20-40% cho nông nghiệp
1.2.3.2 Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
Theo điều tra, bình quân mỗi cơ sở chuyên làm nghề ở các làng nghềtạo việc làm ổn định cho 27 lao động thường xuyên và 8-10 lao động thời vụ,mỗi hộ chuyên nghề tạo việc làm cho 4-6 lao động thường xuyên và 2-5 laođộng thời vụ Nhiều làng nghề không những thu hút lực lượng lao động lớn ở
Trang 27địa phương mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địa phương khác.Chẳng hạn, làng nghề Gốm sứ Bát Tràng ngoài việc giải quyết việc làm chogần 2430 lao động của xã, còn giải quyết thêm việc làm cho khoảng 5500-
6000 lao động của các vùng lân cận đến làm thuê
Hơn nữa, sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã phát triển vàhình thành nhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan xuất hiện, tạothêm nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động Mặt khác, việc phát triểncác ngành nghề tại các làng nghề ở nông thôn sẽ tận dụng tốt thời gian laođộng, khắc phục được tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp, góp phần phân
bổ hợp lý lực lượng lao động nông thôn Trên phương diện kinh tế, xuất khẩuhàng thủ công mỹ nghệ truyền thống đã đem lại kim ngạch xuất khẩu hàngtrăm triệu đô la mỗi năm Trên phương diện xã hội xuất khẩu hàng thủ côngtruyền thống là nhân tố quan trọng để kích thích sản xuất, tạo việc làm, tăngthu nhập cho hàng triệu lao động thủ công chuyên nghiệp và nhàn rỗi Nếu sosánh thu nhập của lao động ở các ngành nghề cao hơn khoảng 2-4 lần so vớilao động nông nghiệp Những làng nghề có thu nhập cao như làng Gốm BátTràng, bình quân thu nhập của các hộ thấp đạt 15-20 triệu đồng/năm, của các
hộ trung bình là 40-50 triệu đồng/năm, các hộ có thu nhập cao đạt hàng trămtriệu đồng/năm
1.2.3.3 Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động, hạn chế di dân tự do
Khác với một số ngành nghề công nghiệp, đa số các làng nghề khôngđòi hỏi số vốn đầu tư lớn, bởi rất nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ
do thợ thủ công tự sản xuất được Đặc điểm của sản xuất trong các làng nghề
là quy mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên rất phù hợp với khả năng huyđộng vốn và các nguồn lực vật chất của các gia đình Đó là lợi thế để các làngnghề có thể huy động các loại vốn nhàn rỗi trong dân vào hoạt động sản xuất
Trang 28kinh doanh Mặt khác, do đặc điểm sản xuất sử dụng lao động thủ công làchủ yếu, nơi sản xuất cũng chính là nơi ở của người lao động nên bản thân nó
có khả năng tận dụng và thu hút nhiều lao động, từ lao động thời vụ nôngnhàn đến lao động trên độ tuổi hay dưới độ tuổi lao động Trẻ em vừa học vàtham gia sản xuất dưới hình thức học nghề hay giúp việc Sự phát triển củanghề và làng nghề đã có vai trò tích cực trong việc hạn chế di dân tự do ởnông thôn Quá trình này xét trên bình diện chung của nền kinh tế đã cónhững tác động tích cực làm giảm sức ép việc làm ở khu vực nông thôn, đápứng nhu cầu lao động giản đơn ở thành phố; đồng thời làm tăng thu nhập,nâng cao đời sống xã hội, giảm bớt đói nghèo cho người dân nông thôn Tuynhiên nó lại có những tác động tiêu cực tới đời sống kinh tế-xã hội, gây áp lựcđối với dịch vụ, cơ sở hạ tầng xã hội ở thành phố và là một khó khăn lớntrong vấn đề quản lý đô thị
1.2.3.4 Đa dạng hoá kinh tế nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá
Đa dạng hoá kinh tế nông thôn là một trong những nội dung quantrọng của công nghiệp hoá nông thôn Trong mối quan hệ biện chứng của quátrình sản xuất hàng hoá, các nghề thủ công truyền thống đã phá vỡ thế độccanh trong các làng thuần nông, mở ra hướng phát triển mới với nhiều nghềtrong một làng nông nghiệp Đồng thời cùng với sản xuất nông nghiệp, làngnghề đã đem lại hiệu quả cao trong việc sử dụng một cách hợp lý các nguồnlực ở nông thôn như đất đai, vốn, lao động, nguyên vật liệu, công nghệ, thịtruờng Vì vậy một nền kinh tế hàng hoá với sự đa dạng của các loại sản phẩmđược hình thành và phát triển Ở những vùng có nhiều ngành nghề phát triểnthường hình thành trung tâm giao lưu buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hoá.Những trung tâm này ngày càng được mở rộng và phát triển, tạo nên một sựđổi mới trong nông thôn Hơn nữa, sự tích luỹ của người dân trong làng nghềcao hơn, có điều kiện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường sá, nhà ở,
Trang 29và mua sắm các tiện nghi sinh hoạt Nông thôn đổi thay và từng bước được đôthị hoá qua việc hình thành các thị trấn, thị xã Vì vậy dễ nhận thấy rằng ởmột số làng nghề phát triển thì ở đó hình thành một phố chợ sầm uất của cácnhà buôn bán, dịch vụ Xu huớng đô thị hoá nông thôn là xu hướng tất yếu, nóthể hiện trình độ phát triển về kinh tế-xã hội ở nông thôn, là yêu cầu kháchquan trong phát triển làng nghề ở ngoại thành Hà Nội.
1.2.3.5 Bảo tồn giá trị văn hoá dân tộc
Lịch sử phát triển của làng nghề truyền thống gắn liền với lịch sử pháttriển văn hoá của dân tộc, nó là nhân tố góp phần tạo nên nền văn hoá của mỗiđịa phương, đồng thời là sự biểu hiện tập trung nhất bản sắc của dân tộc Cáclàng nghề phát triển sẽ bảo tồn, duy trì và phát triển nhiều ngành nghề và cácgiá trị văn hoá của dân tộc
Nghề truyền thống là những di sản văn hoá quý báu mà các thế hệ chaông đã sáng tạo ra và truyền lại cho các thế hệ sau Cho đến nay, nhiều sảnphẩm của làng nghề tinh xảo, độc đáo, đạt trình độ bậc cao về mỹ thuật cònđược lưu giữ, trưng bày tại nhiều viện bảo tàng nước ngoài
1.2.3.6 Khôi phục và phát triển làng nghề là cơ sở để phát triển du lịch
Như trên đã phân tích, các làng nghề là các điểm du lịch là nơi đến củakhách du lịch, là nhu cầu không thể thiếu được của khách du lịch tìm hiểu bảnsắc văn hóa dân tộc của các làng nghề nông thôn Việt Nam
Sự phát triển du lịch làng nghề sẽ có tác động tích cực trên haiphía: trước hết thúc đẩy các làng nghề phát triển quảng cáo các sản phẩm làngnghề và mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm làng nghề Thứ hai, pháttriển làng nghề cũng có nghĩa là phát triển du lịch, thu hút khách du lịch, điều
đó tạo cơ hội để tăng nhanh nhịp độ phát triển du lịch
Trang 30CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VỚI KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TẠI CÔNG TY TNHH DU
LỊCH MỞ VIỆT NAM – HÀ NỘI 2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY TNHH
DU LỊCH MỞ VIỆT NAM – HÀ NỘI
2.1.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển Công ty TNHH Du lịch
mở Việt Nam – Hà Nội
Công ty TNHH Du lịch Mở Việt Nam có tên giao dịch quốc tế làVietnamOpentourCo.,Ltd Công ty được thành lập ngày 11/04/2001 với haivăn phòng giao dịch Trụ sở chính tại 15 Hàng Bạc, Phường Hàng Bạc, QuậnHoàn Kiếm, Hà Nội và trụ sở hai tại số nhà 11B Lý Quốc Sư, phường HàngTrống, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Công ty do hai ông Nguyễn Đăng Thắng
và Nguyễn Việt Long đồng sáng lập Công ty là một doanh nghiệp có đầy đủ
tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu riêng với ngành nghề hoạt độngkinh doanh chính là: Lữ hành, vận chuyển khách du lịch … Thương hiệuVietnam Opentour đã được đăng ký bản quyền, giấy phép kinh doanh lữhành quốc tế số 80/TCDL – 2002
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, ban giám đốc đã đề ra mụctiêu và định hướng phát triển cho công ty, đầu tư cả về cơ sở vật chất và conngười, đào tạo nhân lực, mở các khoá đào tạo nghiệp vụ hướng dẫn viên, nhânviên bán tour Ban đầu, công ty đưa ra một số tour như: Hạ Long 1 ngày, Hoa
Lư – Tam cốc 1 ngày, Chùa hương 1 ngày, Hà Nội Citytour 1 ngày; tour 2ngày như: Hạ Long 2 ngày, Hạ Long – Cát Bà 2 ngày và 3 ngày Từ đó công
ty từng bước tiếp cận thị trường, quảng bá dịch vụ của mình ra thị trường nhưphát tờ rơi đến các công ty, tại các trường học, văn phòng giao dịch và cáckênh thông tin đại chúng Công ty tổ chức các điểm bán tour nhằm khai thác
Trang 31khách trực tiếpvà mặt khác liên kết với một số nhà tổ chức tour khác gomkhách để tổ chức tour Ký các hợp đồng với các nhà cung cấp dịch vụ như nhàhàng, khách sạn, tầu xe để đảm bảo cung cấp dịch vụ tốt nhất cho khách, giữđúng chất lượng tour như chương trình quảng cáo Từ một công ty gom kháchchỉ tổ chức tour cuối tuần, ban giám đốc đã chứng tỏ được tài năng tổ chứctour, xây dựng chương trình tour hợp lý, định hướng phát triển các tour dulịch làng nghề và điều hành tour khoa học Sản phẩm của công ty đã đượcnhiều khách hàng biết đến nên chỉ sau một thời gian công ty đã có thể tự gom
đủ khách tổ chức tour open hàng ngày Đến năm 2004, Công ty đã được báoSài gòn tiếp thị bình chọn là một trong những “Doanh nghiệp lữ hành đượcyêu thích nhất ” Việt Nam
Sau hơn 10 năm hoạt động và phát triển, đến nay Công ty Du lịch MởViệt Nam đã tạo được một cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối hoàn chỉnh, đãđào tạo bồi dưỡng được đội ngũ cán bộ công nhân viên có nghiệp vụ vữngvàng đáp ứng được nhu cầu kinh doanh du lịch quốc tế của Công ty Công ty
đã nhanh chóng nắm bắt được những đòi hỏi của thị trường, phục vụ một cáchtốt nhất những yêu cầu của khách hàng Công ty TNHH Du lịch Mở ViệtNam cung cấp tất cả các sản phẩm dịch vụ mà khách hàng yêu cầu với mứcgiá phù hợp và chất lượng cao Ngoài ra, công ty luôn có mối quan hệ tốt vàđảm bảo uy tín với các nhà cung cấp dịch vụ du lịch, các bạn hàng và đối tác.Hiện nay, công ty được công nhận là một trong những đơn vị hoạt động cóhiệu quả nhất trong ngành du lịch Việt Nam
2.1.2 Chức năng kinh doanh của Công ty TNHH Du lịch Mở Việt Nam
Công ty TNHH Du lịch Mở Việt Nam được coi là một doanh nghiệp
lữ hành chuyên kinh doanh các sản phẩm dịch vụ lữ hành quốc tế và nội địa,ngoài ra công ty còn cung cấp dịch vụ trung gian khác
Trang 32Chức năng kinh doanh của Công ty TNHH Du lịch Mở Việt Nam là kýkết hợp đồng với công ty du lịch nhà nước hoặc tư nhân của nước ngoài để tổchức các hoạt động, các chương trình du lịch cho khách quốc tế đến Việt Nam
và khách du lịch Việt Nam đi du lịch nước ngoài Đồng thời liên doanh liênkết với các tổ chức vận chuyển khách du lịch Cụ thể bao gồm:
- Kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách: Công ty nhận những đoànkhách hay riêng lẻ là những người nước ngoài hay người Việt Nam định cư ởnước ngoài đi du lịch vào Việt Nam Những khách này có thể đến với công tythông qua các công ty lữ hành gửi khách hoặc chủ động đến với công ty
- Kinh doanh lữ hành quốc tế gửi khách: Công ty sẽ tiến hành đưakhách từ Việt Nam đi du lịch sang các nước khác Những khách này có thể làngười Việt Nam hoặc có thể là người nước ngoài sống và làm việc tại ViệtNam
- Kinh doanh lữ hành nội địa: Công ty tổ chức các chương trình du lịchcho người Việt Nam tham quan những điểm du lịch trên mọi miền đất nước
- Cung cấp các dịch vụ riêng lẻ cho khách công vụ: Đặt phòng trongkhách sạn, đặt vé máy bay, làm Visa, các dịch vụ vận chuyển, hướng dẫn viên
du lịch chuyên nghiệp, phiên dịch đón tiếp tại sân bay…
Trong những chức năng trên, Công ty TNHH Du lịch Mở Việt Nam tậptrung chủ yếu vào chức năng kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách Thựchiện phục vụ rất nhiều đối tượng khách từ nhiều nước khác nhau
2.1.3 Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý và kinh doanh của Công ty TNHH
Trang 33Cơ cấu của công ty được chia thành 2 bộ phận rõ ràng: bộ phậnnghiệp vụ du lịch và bộ phận bổ trợ Trong mỗi bộ phận có các phòng ban,chức năng khác nhau: Phòng Marketing, phòng điều hành thuộc bộ phậnnghiệp vụ du lịch Phòng kế toán và phòng hành chính tổng hợp thuộc bộphận bổ trợ.
Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý và kinh doanh của công ty theo sơ đồ
mô hình sau:
Trang 34Sơ đồ: Mô hình cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Du lịch Mở Việt Nam
Bộ phận hướng dẫn
Bộ phận bổ trợ
Trang 35Lãnh đạo toàn công ty là Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Giám đốcđược hỗ trợ bởi phó giám đốc là người trực tiếp quản lý bộ phận nghiệp vụ dulịch và bộ phận bổ trợ Điều này đã giúp cho quá trình quản lý và ra quyếtđịnh của Giám đốc công ty thuận tiện và dễ dàng hơn.
Ngoài ra, so với những công ty du lịch khác, bộ phận hướng dẫn củacông ty cũng được hình thành một cách rõ ràng Điều đó giúp công ty thựchiện hoạt động kinh doanh hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh so vớicác đối thủ cạnh tranh của mình
Ngày mới thành lập, công ty chỉ có 8 người tới nay số nhân viên chínhthức trong công ty đã là 35 người không kể hướng dẫn viên làm việc theo thời
vụ, trong đó có:
- Một chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc: là người lãnh đạo caonhất của công ty, trực tiếp chịu trách nhiệm điều hành và quản lý tất cả cáccông việc của công ty
- Một phó giám đốc điều hành: là người trực tiếp điều hành ở công ty
và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về kết quả kinh doanh của công ty
- Kế toán trưởng: là người tổ chức và chỉ đạo toàn diện công tác kế toáncủa công ty
- Bộ phận nghiệp vụ du lịch:
+ Phòng Marketing: chuyên nghiên cứu và mở rộng thị trường, nhằmtìm kiếm cơ hội, giúp công ty hoạt động độc lập trong công tác khai thác thịtrường Phối hợp với phòng điều hành tiến hành xây dựng các chương trình
du lịch về nội dung, mức giá sao cho phù hợp với thị trường và mục tiêu củacông ty
+ Phòng điều hành: tại công ty bộ phận điều hành gọi là phòng kinhdoanh, đây là bộ phận sản xuất kinh doanh chính, phòng điều hành là chiếccầu nối giữa công ty với thị trường cung cấp các dịch vụ du lịch Lập kế
Trang 36hoạch và triển khai các công việc liên quan đến việc thực hiện các chươngtrình du lịch như đăng ký khách sạn, đặt ăn, vận chuyển…đảm bảo về mặtthời gian và chất lượng Theo dõi việc thực hiện các chương trình du lịch,phối hợp với bộ phận kế toán thực hiện các hoạt động thanh toán với công tygửi khách và các nhà cung cấp các dịch vụ du lịch.
Outbound: Khách từ Việt Nam đi du lịch nước ngoài
Inbound: Khách Việt Nam đi du lịch trong nước
Bộ phận hướng dẫn: Có vai trò quan trọng, chịu trách nhiệmhướng dẫn khách du lịch thực hiện chương trình tham quan
- Bộ phận bổ trợ:
+ Phòng kế toán: Có nhiệm vụ theo dõi hoạt động tài chính, tổ chứcthực hiện các công tác về tài chính kế toán của công ty, giải quyết các vấn đềthu chi liên quan đến lợi ích về tài sản của công ty Tổ chức phân tích kinh tếtừng thời kỳ, đề xuất các biện pháp xử lý giúp Ban giám đốc điều chỉnh hoạtđộng sản xuất kinh doanh kịp thời
+ phòng hành chính: thực hiện công việc chủ yếu trong xây dựng độingũ lao động của công ty Thực hiện quy chế, nội quy khen thưởng, kỷ luật,chế độ tiền lương, thay đổi đội ngũ lao động, đào tạo nhân viên…
Kiểu tổ chức này đảm bảo cho công ty có thể kiểm soát và quản lý chặtchẽ mọi công việc trong công ty đồng thời tạo ra tính năng động, có thể thíchnghi với những thay đổi của môi trường kinh doanh
2.1.4 Sự phát triển các nguồn lực của công ty
2.1.4.1 Sự phát triển nguồn nhân lực
Do cơ cấu của công ty theo mô hình trực tuyến chức năng nên việcphân trách nhiệm cụ thể chỉ mang tính chất tương đối Tất cả nhân viên trong
Trang 37công ty phải có trách nhiệm hỗ trợ nhau trong công việc để đạt kết quả caonhất.
Hiện tại, Công ty TNHH Du lịch Mở Việt Nam có số lượng cán bộnhân viên là 35 người Đội ngũ này còn rất trẻ, có độ tuổi trung bình đều dưới
30 tuổi nên rất năng động, đều đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành du lịch,thương mại, ngoại ngữ…Tất cả nhân viên làm công tác chuyên môn đều tốtnghiệp đại học hoặc trên đại học, sử dụng thành thạo máy vi tính ở trình độsoạn thảo trở lên
Ngoài ra, Công ty còn có đội ngũ hướng dẫn viên đông đảo phần lớn làtheo hợp đồng và các cộng tác viên Họ có trình độ nghiệp vụ cao, thành thạo
ít nhất một ngoại ngữ và đều có thế hướng dẫn khách du lịch
Trong bộ phận nghiệp vụ du lịch, bộ phận quan trọng nhất của công ty,các nhân viên đều tốt nghiệp đại học chuyên ngành du lịch tại Trường đại họcKTQD và trường đại học Mở… Do đó họ nắm vững những kiến thức du lịchnói chung và kinh doanh lữ hành nói riêng Điều này tạo ra một lợi thế rất lơn
so với các đối thủ khác tại Hà Nội
Ngoài ra các nhân viên trong công ty đều có trình độ ngoại ngữ rất khá.Điều này vô cùng quan trọng trong kinh doanh du lịch Đặc biệt khi thị trườngmục tiêu của công ty là thị trường Âu-Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN Dovậy việc các nhân viên trong công ty thành thạo tiếng Anh, NHật Bản, TrungQuốc… là rất quan trọng trong quá trình giao dịch với khách hàng
Trình độ học vấn và trình độ học vấn của các nhân viên trong công ty đượcthể hiện qua bảng sau:
Trang 38Bảng 2.1 Trình độ học vấn và trình độ ngoại ngữ của nhân viên Công ty TNHH Du lịch Mở Việt Nam
Các bộ phận
Phân theo bộ phận Phân theo trình độ chuyên môn Phân theo trình độ ngoại ngữ
Tổng số
Tỷ trọng (%)
Số lượng (người)
Tỷ trọng (%)
Số lượng (người)
Tỷ trọng (%)
Số lượng (người)
Tỷ trọng (%)
Số lượng (người)
Tỷ trọng (%)
Trang 39Theo số liệu ở bảng trên cho thấy trình độ nghiệp vụ chuyên môn của công
ty khá cao Trình độ trên đại học chiếm 14,3%, trình độ đại học- cao đẳng chiếm85,7% hầu hết các bộ phận đều có nhân viên đạt trình độ đại học và trên đại học.Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh du lịch thì ngoại ngữ
là một yếu tố rất quan trọng khi tuyển dụng nhân viên Nhân viên Công tyTNHH du lịch mở Việt Nam về trình độ ngoại ngữ theo nguồn số liệu thống kêcủa công ty cũng phần nào đáp ứng yêu cầu đặt ra, trong đó: Nhân viên sử dụngđược trên 1 ngoại ngữ là 7 nhân viên chiếm 20,1% trong tổng số cán bộ, nhânviên của công ty Nhân viên sử dụng được 1 ngoại ngữ là 28 nhân viên chiếm80% tổng số cán bộ, nhân viên của công ty
2.1.4.2 Sự phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động kinh doanh đềuphải có hệ thống máy móc trang thiết bị đầy đủ, bởi nó là phương tiện làm việccủa các cán bộ công nhân viên Hệ thống này càng đầy đủ bao nhiêu, càng đồng
bộ bao nhiêu thì càng thuận lợi bấy nhiêu cho quá trình làm việc của doanhnghiệp
Nhận thức được vấn đề này, Công ty TNHH Du lịch Mở Việt Nam đã chủđộng đầu tư hệ thống trang thiết bị hiện đại nhất, tiến tiến nhất để đảm bảo chotất cả mọi người làm việc trong công ty có môi trường làm việc tốt nhất
Nhằm mở rộng quy mô kinh doanh, tháng 2 năm 2009 mở văn phòng tại
49 Hàng Bè, năm 2010 đã mở thêm 2 văn phòng đại diện tại TP Hồ Chí Minh(văn phòng 1: 28/13 Bùi Viện, Phường Pham Ngũ lão, Quận 1 và văn phòng 2:
292 Điện Biên Phủ, Phường 7, Quận 3), và đến tháng 5 năm 2011 công ty mởthêm văn phòng tại 17 Hàng Thùng, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Đồng thời, Công
ty cũng đã tập trung đầu tư những trang thiết bị tốt nhất nhằm tạo điều kiện thuận
Trang 40lợi nhất cho việc tổ chức và điều hành các chương trình du lịch, trong đó có xeđưa đón khách du lịch, hệ thống máy tính nối mạng Internet, máy in, máy fax,máy điện thoại…Công ty có bốn văn phòng và rất nhiều các điểm đại lý đều nằm
ở trung tâm Hà Nội và ở trên toàn quốc cho việc mở rộng và phát triển mô hình
du lịch mới như City tour, Open tour đồng thời mở rộng mối quan hệ trong việc
ký kết hợp đồngvà đặt chương trình cho khách du lịch
2.1.4.3 Sự phát triển nguồn tài chính
Công ty có nguồn tài chính tương đối vững phù hợp với hoạt động kinhdoanh lữ hành Trong quá trình hoạt động kinh doanh, nguồn vốn của Công tykhông ngừng được bổ sung và tích luỹ Công ty đã mở rộng liên doanh liên kết
và huy động vốn trong cán bộ nhân viên và từ các ngân hàng Ngoại thương nên
đã đem lại nguồn vốn quan trọng và có thế huy động khi cần thiết Bên cạnh đó,sau hơn 10 năm đi vào hoạt động có hiệu quả, số vốn cố định của công ty ngàymột tăng lên Công ty đã tự trang bị hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật ngày mộtđầy đủ và đồng bộ hơn Các phương tiện làm việc tiến tiến, hiện đại, đạt tiêuchuẩn quốc tế tạo điều kiện rất lớn trong quá trình làm việc của cán bộ nhân viêntrong công ty
Quá trình sử dụng vốn của Công ty được coi là khá hiệu quả, điều này thểhiện ở kết quả kinh doanh trong những năm gần đây Lợi nhuận và doanh thu củaCông ty liên tục tăng lên qua các năm Vốn kinh doanh của Công ty khi mớithành lập chỉ có 1.200 triệu đồng và đến năm 2010 tổng số vốn tăng lên là 1.850triệu đồng
Như vậy, ta có thể khẳng định thực trạng tài chính của Công ty TNHH Dulịch Mở Việt Nam là tương đối vững mạnh, do đó có khả năng đạt được các mụctiêu đề ra