Untitled MÔN HỌC TOÀN CẦU HOÁ (212 INE 3109 2) BÀI TẬP NHÓM Chủ đề TRÌNH BÀY VÀ PHÂN TÍCH TÍNH TẤT YẾU CỦA KHU VỰC HÓA KINH TẾ Ý NGHĨA CỦA KHU VỰC HÓA KINH TẾ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM Gi ng viên ả[.]
Trang 1MÔN HỌC:
TOÀN CẦU HOÁ (212_INE 3109 2)
BÀI TẬP NHÓM
Chủ đề: TRÌNH BÀY VÀ PHÂN TÍCH TÍNH TẤT YẾU CỦA KHU VỰC HÓA KINH TẾ Ý NGHĨA CỦA KHU VỰC HÓA
KINH TẾ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM.
Gi ng viên:ả
Thành viên nhóm 6:
Ts Nguyêễn Xuân Thiên Th.S Mai Thanh Mai Phan H i Linh – 19051133ả
Đ ng Th Thanh Huyêền – 19051106ặ ị
Trâền Th Thu Trang – 19051242ị
Ph m Th Thanh Vân - 19051254ạ ị
Hà Nội, 2022
Trang 2MỤC LỤC
I Cơ sở lý luận về khu vực hóa kinh tế 1
1 Khái niệm: 1
2 Những khía cạnh của khu vực hóa 1
3 Các tổ chức liên kết khu vực: 2
II Tính tất yếu của khu vực hóa kinh tế 3
III Ý nghĩa của khu vực hóa kinh tế đối với nền kinh tế Việt Nam 4
1 Tiến trình gia nhập các tổ chức liên kết khu vực của Việt Nam 4
2 Ý nghĩa của khu vực hóa kinh tế đối với nền kinh tế Việt Nam 6
IV Kết luận 8
TÀI LIỆU THAM KHẢO 9
Trang 3I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHU VỰC HÓA KINH TẾ
1.1 Khái niệm:
Khu vực hóa là sự liên kết giữa các quốc gia có những nét tương đồng về địa
lý, kinh tế, văn hóa, xã hội để cùng hướng tới những mục tiêu phát triển chung
Khu vực hóa kinh tế là sự liên kết về kinh tế giữa các quốc gia trong các khu
vực trên thế giới trên cơ sở tương đồng về địa lý, văn hóa, xã hội hoặc có chung mục tiêu và lợi ích phát triển
Liên kết kinh tế khu vực là thỏa thuận giữa các nhóm quốc gia trong một khu
vực địa lý có mục tiêu phát triển chung nhằm làm giảm, cuối cùng là xóa bỏ các rào cản thương mại (hàng rào thuế quan và phi thuế quan) và thúc đẩy tự do di chuyển của hàng hóa, dịch vụ, lao động và vốn
Hội nhập kinh tế khu vực là kết quả của sự gắn kết các nền kinh tế của từng
quốc gia với kinh tế khu vực và thế giới bằng cách xóa bỏ các rào cản thương mại và thúc đẩy tự do di chuyển của hàng hóa, dịch vụ, lao động và vốn (Nguyễn Hồng Sơn
và Nguyễn Anh Thu, 2015)
1.2 Những khía cạnh của khu vực hóa
Quá trình khu vực hóa được hiểu dưới hai khía cạnh:
Thứ nhất, khu vực hóa có thể coi là “giai đoạn mở đầu của quốc tế hóa”, là
quốc tế hóa ở cấp độ thấp, cấp độ khu vực, là tiền đề để quốc tế hóa phát triển lên mức
độ cao hơn là toàn cầu hóa
Thứ hai, khu vực hóa có thể coi là một phản ứng tự vệ đối với hiện tượng toàn
cầu hóa Toàn cầu hóa là khẳng định cái chung, sự toàn cầu có thể ảnh hưởng đến sự tồn tại của những yếu tố mang tính địa phương Do đó các tổ chức liên kết khu vực được thành lập để duy trì những cái chung, những yếu tố liên kết mang tính địa phương
Khu vực hoá là quá trình bao trùm lên nhiều lĩnh vực bao gồm cả kinh tế, xã hội và các vấn đề nhân văn nói chung
kinh tế vốn đóng cửa này cần mở cửa các nước xung quanh thì cũng có một nguyên nhân như quá trình toàn cầu hoá Tuy nhiên,còn có nhiều nguyên nhân khác nữa Chẳng hạn, khu vực hoá bắt nguồn từ nét tương đồng, cùng chung nguồn lực, sự cận kề lẫn nhau hay những lợi ích chung trên trường quốc tế… Vì
Trang 4vậy, những liên kết khu vực dễ xảy ra nguy cơ và diễn ra phổ biến, thường xuyên Khi các nước chủ động liên kết về kinh tế thì quá trình này diễn ra mạnh mẽ
quan hệ lợi ích tầm quốc gia, hoặc do những hiện tượng ở tầm thấp hơn Tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên, xung đột kinh tế, vấn đề tội phạm là những nội dung đòi hỏi liên kết giải quyết
phục đói nghèo, bảo vệ môi trường là những nội dung nổi bật
1.3 Các tổ chức liên kết khu vực:
Để hướng quá trình khu vực hoá theo hướng có lợi cho các quốc gia trong bối cảnh quốc tế hoá hiện nay, người ta thực hiện các liên kết khu vực Các tổ chức liên kết khu vực thường mang tính chuyên ngành nhưng nhiều tổ chức cũng hướng tới liên kết đa lĩnh vực
Các liên kết kinh tế khu vực hiện nay phổ biến ở lĩnh vực thương mại hình thành thông qua các thỏa thuận thương mại khu vực Các thỏa thuận thương mại tự do chủ yếu hiện nay có thoả thuận về số lượng khu vực mậu dịch tự do, liên minh thuế quan, khối thị trường chung…
a Liên minh châu Âu (EU)
Bắt đầu từ một tổ chức liên kết trên một vài lĩnh vực kinh tế, tổ chức này có sự phát triển không ngừng Một mặt, các lĩnh vực liên kết ngày càng mở rộng Đến nay, ngoài những liên kết kinh tế, các quốc gia trong khu vực còn mở rộng liên kết sang các lĩnh vực an ninh, xã hội và quân sự Mặt khác những mối liên kết ngày càng chặt chẽ và đồng bộ Kết quả đã trở thành một liên minh có một thể chế chặt chẽ và phổ cập nhất hành tinh Quy mô của tổ chức này lớn lên không ngừng Từ 6 thành viên ban đầu, đến nay EU đã có 27 thành viên chiếm phần lớn lãnh thổ châu Âu ngoài nước Nga Triển vọng tổ chức này còn mở rộng hơn nữa trong thời gian tới do nhiều nước đang đề đạt nguyện vọng gia nhập EU EU là một cực kinh tế - chính trị của thế giới Quy mô kinh tế của EU tương đương Hoa Kỳ Nó là đối thủ nặng kí của siêu cường bên kia bờ Đại Tây Dương Tuy nhiên, điểm yếu mà EU hiện chưa thể khắc phục được trong cuộc cạnh tranh với Hoa Kỳ là vấn đề EU là liên minh chứ chưa phải một quốc gia Do đó, ở EU còn tồn tại một mâu thuẫn rất lớn là mâu thuẫn giữa lợi ích của trong quốc gia với lợi ích của toàn bộ EU nói chung
b Hiệp hội các nước Đông Nam Á – ASEAN
Ngược với EU, ASEAN ban đầu được hình thành với mục đích đảm bảo an ninh trong khu vực là chính Trong quá trình tồn tại, dần dần những liên kết kinh tế, xã hội mới hình thành Ngày nay, ASEAN là một tổ chức liên kết đa lĩnh vực nhưng
Trang 5còn hẹp, kém chặt chẽ hơn EU Các nước trong khu vực còn phải giải quyết nhiều vấn
đề tồn tại giữa các quốc gia Do có sự tương đồng về điều kiện phát triển, trình độ còn thấp nên trao đổi trong nội bộ khối còn chưa nhiều Những nỗ lực trước mắt là nhằm thực hiện Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), hợp tác giải quyết vấn đề an ninh khu vực và chống đói nghèo
c Khu vực Mậu dịch Tự do Bắc Mĩ (NAFTA)
Thành lập từ thập kỉ 90 của thế kỉ XX với nội dung liên kết kinh tế, NAFTA là tập hợp của ba quốc gia liền kề nhưng có khác biệt rất lớn Đó là siêu cường Hoa Kỳ
có sức mạnh to lớn nhưng đang bị cạnh tranh quyết liệt trên khắp thế giới Đó là Canada, cường quốc kinh tế phát triển nhưng với nguồn nhân lực và thị trường nội địa hạn hẹp và Mexico, cường quốc dân số giàu lao động, tiềm năng thị trường lớn nhưng kinh tế còn nghèo Do đó, các quốc gia trong NAFTA có khả năng bổ sung cho nhau Trao đổi kinh tế nội khối là rất mạnh, chiếm tỉ trọng cao trong tổng kim ngạch giao dịch đối ngoại của mỗi nước Tất nhiên, vai trò đầu tàu, chi phối NAFTA phải là Hoa
Kỳ Tuy nhiên, khi tổng thống Donald Trump lên cầm quyền, ông nhận thấy hiệp định này đã lỗi thời, không còn phù hợp với nền kinh tế toàn cầu Vì thế vào năm 2020, sau
25 năm tồn tại, hiệp định NAFTA đã được thay thế bằng hiệp định USMCA (Hiệp định Mỹ-Mexico-Canada)
Ngoài ba tổ chức trên, trên thế giới còn rất nhiều tổ chức khu vực khác như Liên minh châu Phi (AU), Khối thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR), Khối Andet, Diễn đàn hợp tác kinh khu vực châu Á Thái Bình Dương (APEC),
II TÍNH TẤT YẾU CỦA KHU VỰC HÓA KINH TẾ
Khu vực hóa kinh tế hiện nay đang trở thành một xu thế tất yếu là do các nguyên nhân sau:
Một là, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, cách mạng IT,
đòi hỏi sự hợp tác sâu rộng giữa các nước, xã hội hóa sản xuất vượt ra ngoài biên giới quốc gia và phát triển tới trình độ nhất định, tất yếu đặt ra nhu cầu gỡ bỏ các rào cản thương mại và thực hiện liên kết kinh tế giữa các quốc gia với nhau
Hai là, khu vực hóa là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản phát triển tới giai đoạn
chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước Chỉ có ở giai đoạn này, thì chức năng của nhà nước mới được mở rộng và tăng cường, nó không chỉ can thiệp sâu và mạnh mẽ vào đời sống kinh tế trong nước mà còn can thiệp mạnh mẽ vào quan hệ kinh tế quốc tế và cần có sự phối hợp quốc tế Khi phát triển đến giai đoạn tư bản độc quyền, sự liên kết giữa các thế lực tư bản quốc tế ở các quốc gia trở thành một nhu cầu tất yếu của các
Trang 6nước tư bản Chính điều này dẫn tới sự ra đời của các tổ chức kinh tế trong khu vực của các nước tư bản
Ba là, sự phát triển không đồng đều trong nền kinh tế thế giới cũng là nhân tố
quan trọng thúc đẩy khu vực hóa kinh tế Nhất là từ những năm 80 cho đến nay, tình hình thế giới có những biến động điều chỉnh và cải tổ Trong tình hình phát triển không đồng đều ngày càng tăng, để phòng ngừa sự mất lợi thế, vai trò bị suy giảm, những nước vốn mạnh nhất về kinh tế đều muốn lấy khu vực kinh tế làm chỗ dựa để giữ vững và tăng cường sức mạnh của mình
Bốn là, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế hiện đang là động lực thúc
đẩy quá trình khu vực hóa kinh tế Như sự thành lập Cộng đồng kinh tế châu Âu đã tăng nhanh sự phát triển kinh tế của các nước thành viên, gia tăng thực lực cạnh tranh của các nước thoát khỏi sự thống trị của Mỹ, trở thành ba trung tâm kinh tế lớn trên thế giới ngày nay Sự vùng dậy của Tây Âu, Nhật Bản khiến Mỹ cũng có nhu cầu lập
ra liên minh mậu dịch tự do với các nước láng giềng ( Hiệp định tự do Bắc Mỹ -NAFTA)
III Ý NGHĨA CỦA KHU VỰC HÓA KINH TẾ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
3.1 Tiến trình gia nhập các tổ chức liên kết khu vực của Việt Nam
Một là, gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (tiếng anh là: Association
of Southeast Asian Nations, viết tắt là ASEAN)
Ngày 28-7-1995 Việt Nam trở thành thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á ASEAN là liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á; được thành lập ngày 8-8-1967 với các thành viên đầu tiên là Thái Lan, Indonexia, Malaixia, Xingapo và Philippin Tính đến năm 1999, ASEAN gồm có 10 quốc gia thành viên (Đông Timor chưa được kết nạp)
ASEAN bao gồm diện tích đất 4,46 triệu km2, chiếm 3% tổng diện tích đất của trái đất, số dân khoảng 600 triệu người chiếm 8,8% dân số thế giới Năm 2010, kết hợp GDP danh nghĩa tại ASEAN đã phát triển thành 1,8 nghìn tỉ USD và dự kiến đến năm
2030 thực thể này sẽ đứng thứ tư trên thế giới Vào ngày 31-12-2015, Hiệp, hội các quốc gia Đông Nam Á đã thành lập, Cộng đồng ASEAN, dựa trên ba trụ cột chính trị
-an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội
Hai là, Việt Nam là thành viên sáng lập của Diễn đàn hợp tác Á - Âu (tiếng Anh: The Asia-Europe Meeting, viết tắt là ASEM)
Trang 7Diễn đàn hợp tác Á- Âu còn gọi là Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu, được chính thức thành lập năm 1996 trong hội nghị cấp cao đầu tiền tại Băng Cốc ASEM là một diễn đàn liên khu vực bao gồm ủy ban châu Âu, 27 nước thành viên của Liên minh châu
Âu (EU), 10 thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và 5 nước châu Á khác là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Mông Cổ Đây là một tập hợp của 42 quốc gia thành viên, bao gồm 2,5 tỉ dân, bằng khoảng 38% dân số thế giới; tổng GDP khoảng 25,000 tỉ USD, bằng khoảng 42% GDP thế giới
Việt Nam tham gia Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập Năm 2004, nước ta đã tổ chức thành công Hội nghị cấp cao ASEM 5 tại Hà Nội
Ba là, gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Tháng 11-1998, Việt Nam gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương Đây là Diễn đàn hợp tác kinh tế được thành lập năm 1989, hiện nay có 21 nền kinh tế thành viên ở châu Á, châu Mỹ và châu Đại Dương Tổng số dân của các thành viên APEC là 2,67 tỉ người, bằng 41% dân số thế giới; tổng GDP khoảng 31,6 ngàn tỉ USD, bằng 57% GDP của thế giới; tổng giá trị thương mại khoảng 5,5 ngàn tỉ USD, bằng khoảng 50% thương mại thế giới
Năm 2006 Việt Nam đăng cai tổ chức năm APEC và đã tổ chức thành công tuần lễ cấp cao APEC lần thứ 14 vào tháng 11-2006
Bốn là, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Ngày 7-11-2006, Việt Nam đã được kết nạp vào Tổ chức Thương mại thế giới và trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này
WTO được thành lập ngày 111995 sau khi kết thúc vòng đàm phán Uruguay (1986 -1994) của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), ký kết vào tháng
11-1947 Hiện nay WTO chiếm trên 95% thương mại toàn cầu, bao gồm tất cả các nước phát triển và nhiều nước đang phát triển, chậm phát triển trên thế giới
Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO từ tháng 1-1995 và bắt đầu đàm phán để gia nhập WTO từ tháng 7-1998 Trong quá trình đàm phán, chúng ta đã tiến hành 13 phiên đàm phán đa phương và kết thúc đàm phán song phương với 28 đối tác có yêu cầu
Năm là ký kết các thỏa thuận thành lập khu vực mậu dịch tự do
Sau khi tham gia ASEAN, Việt Nam cũng đã chủ động tham gia khu vực mậu dịch tự
do ASEAN, gọi tắt là AFTA Từ ngày 1-1-1996, Hiệp định AFTA giữa Việt Nam và
Trang 8ASEAN có hiệu lực Ngày 31-12-2015, Việt Nam và các nước thành viên ASEAN đã
ký hiệp định thành lập Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột chính: cộng đồng chính trị - an ninh; cộng đồng kinh tế và cộng đồng văn hóa - xã hội Là thành viên ASEAN, Việt Nam tham gia các hiệp định thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc; ASEAN - Nhật Bản; ASEAN - Ấn Độ; ASEAN - Hàn Quốc
Năm 2015, Việt Nam đã ký kết các hiệp định thành lập khu vực mậu dịch tự do song phương với các tổ chức và quốc gia trên thế giới, đó là:
+ Hiệp định thành lập khu vực mậu dịch tự do Việt Nam - Liên minh thuế quan (gồm
ba nước Nga, Belarus, Cadắcxtan)
+ Hiệp định thành lập khu vực mậu dịch tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (gồm
28 nước);
+ Hiệp định thành lập khu vực mậu dịch tự do song phương Việt Nam - Hàn Quốc + Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) giữa 12 nước châu Mỹ, châu Đại dương và châu Á
Đến nay, nước ta đã ký kết nhiều hiệp định mậu dịch tự do song phương với các nước, nhóm nước và trong khuôn khổ ASEAN với các nước, tổng cộng gồm 55 nước, bao gồm tất cả các nước thuộc G7, G20, thành viên Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) Nước ta cũng đang đàm phán với nhiều nước để đi tới ký kết hiệp định thành lập khu vực mậu dịch tự do song phương, như Israel, Argentina
3.2 Ý nghĩa của khu vực hóa kinh tế đối với nền kinh tế Việt Nam.
Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 189/193 nước thuộc tất cả các châu lục và có quan hệ tốt đẹp với tất cả nước lớn, các Uỷ viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Là một nước nằm trong khu vực phát triển năng động, có vai trò ngày càng quan trọng đối với phát triển kinh tế thế giới, khu vực hoá kinh tế đã tạo
ra những cơ hội phát triển cho Việt Nam thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế Cụ thể:
Thứ nhất, nội dung của khu vực hoá kinh tế là mở rộng thị trường cho nhau, vì vậy khi Việt nam gia nhập các tổ chức quốc tế sẽ mở rộng quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược với 17 quốc gia (trong đó có 3 đối tác chiến lược toàn diện), 13 đối tác toàn diện Đã có 71 nước công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường Cùng với việc được hưởng nhiều ưu đãi về thuế quan, xóa bỏ hàng rào phi thuế quan và các chế độ đãi ngộ khác đã tạo điều kiện cho hàng hóa Việt Nam thâm nhập thị trường thế giới Chỉ tính trong khu vực mậu dịch tự do ASEAN kim
Trang 9ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước thành viên tăng đáng kể Kim ngạch xuất nhập khẩu VN-ASEAN tăng trung bình 15,3% hàng năm
Thứ hai, khi xuất khẩu tăng kéo theo số lượng việc làm được tạo ra sẽ nhiều hơn Như vậy sẽ có tác động tốt, tạo ra nhiều việc làm cũng như tăng thu nhập của người lao động Khu vực hoá kinh tế tạo điều kiện cho nguồn lực nước ta được khai thông, tăng cường giao lưu với các nước, đúng theo đường lối đối ngoại của Đảng đã xác định: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” Thông qua hội nhập để xuất khẩu lao động, sử dụng lao động thông qua các hợp đồng gia công chế biến hàng xuất khẩu, đồng thời tạo cơ hội để nhập khẩu lao động kỹ thuật cao, các công nghệ mới và các sáng chế mà nước ta chưa có Điều này cho thấy khu vực hoá đối với nền kinh tế Việt Nam trong quá trình tham gia hội nhập quốc tế không những mở rộng thị trường, thu hút nguồn lực vốn, tăng năng lực cạnh tranh, mà còn tăng khả năng tích lũy vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện để nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Thứ ba, duy trì ổn định hòa bình, tạo dựng môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế, các chính sách kinh tế, cơ chế quản lý ngày càng minh bạch hơn, nâng cao vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế Trước đây Việt Nam chủ yếu xây dựng mối quan
hệ với Liên Xô và các nước Đông Âu Hiện nay Việt Nam thiết lập mối quan hệ ngoại giao hầu hết với các nước trên thế giới, đồng thời cũng là thành viên của các tổ chức lớn trên thế giới như: ASEAN, WTO, APEC…Chính vì thế mà hệ thống chính trị trong nước ngày càng được ổn định, uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế Tiến trình hội nhập với các nước liên kết trong khu vực của nước
ta ngày càng sâu rộng thì càng đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh theo thông lệ quốc tế, thực hiện công khai, minh bạch các thiết chế quản lý làm cho môi trường kinh doanh của nước ta ngày càng được cải thiện; thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của nước ta đồng bộ hơn, có hiệu quả hơn tạo ra động lực lớn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền ngày càng vững mạnh
Thứ tư, tăng thu hút đầu tư nước ngoài, viện trợ phát triển chính thức và giải quyết vấn đề nợ quốc tế
Thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI): Tham gia hội nhập kinh tế khu vực là cơ hội để thị trường nước ta mở rộng, điều này sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư Họ sẽ mang vốn và công nghệ vào nước ta, sử dụng lao động và tài nguyên sẵn có của nước ta ra làm sản phẩm tiêu thụ trên thị trường khu vực và thế giới với các ưu đãi mà nước ta có cơ hội
mở rộng thị trường, kéo theo cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngoài Đây cũng là cơ hội
để các doanh nghiệp trong nước huy động và sử dụng vốn có hiệu quả
Trang 10Viện trợ phát triển (ODA): Tiến hành bình thường hóa các quan hệ tài chính của Việt Nam, các nước tài trợ và các chủ thể tài chính tiền tệ được tháo gỡ từ năm 1992 đã đem lại những kết quả đáng khích lệ góp phần quan trọng trong việc nâng cấp và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng…
Góp phần giải quyết tốt vấn đề nợ của Việt Nam: trong những năm vừa qua nhờ phát triển tốt mối quan hệ đối ngoại song phương và đa phương các khoản nợ nước ngoài của Việt Nam trước đây được giải quyết thông qua câu lạc bộ Paris, London và đàm phán song phương Điều đó góp phần ổn định cán cân thu chi ngân sách tập trung nguồn lực cho các chương trình phát triển kinh tế xã hội trong nước
Thứ năm, tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến, đào tạo cán bộ quản lý Việt Nam gia nhập kinh tế quốc tế khu vực sẽ tranh thủ được
kỹ thuật công nghệ tiên tiến của các nước đi trước trong khu vực liên kết để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho công cuộc xây dựng CNXH Khu vực hóa là con đường khai thông thị trường nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn và có hiệu quả Qua đó mà các kỹ thuật và công nghệ mới có điều kiện du nhập vào nước ta, đồng thời tạo cơ hội để chúng ta lựa chọn kỹ thuật công nghệ nước ngoài nhằm phát triển kỹ thuật công nghệ quốc gia
IV KẾT LUẬN
Khu vực hóa là một xu thế tất yếu, ngày nay, quá trình khu vực hoá đang diễn
ra ngày càng nhanh hơn, mạnh hơn dưới sự tác động của nhiều nhân tố, trong đó kinh
tế thị trường và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ là động lực hàng đầu Khu vực hoá có tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia trong đó có Việt Nam Hội nhập quốc tế và gia tăng mức độ tự do kinh tế, trong đó
có những cải cách chính sách kinh tế trong khuôn khổ liên kết kinh tế khu vực đã tạo động lực và là động năng mạnh mẽ để giúp Việt Nam phát triển kinh tế, nâng cao quyền lực mềm, ngày càng trở thành một quốc gia cạnh tranh và hiện đại, đồng thời mang lại cho người dân cuộc sống tốt đẹp hơn