LỜI NÓI ĐẦU LỜI NÓI ĐẦU Trong nền kinh tế Việt Nam cũng như các nước trên thế giới doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) ngày càng khẳng định vai trò và vị trí của mình trong nền kinh tế xã hội Theo thống k[.]
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN NINH GIANG
Tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
a Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhà nước khuyến khích DNVVN phát huy tính sáng tạo, nâng cao năng lực quản lý, phát triển khoa học công nghệ và nguồn nhân lực Đồng thời, việc mở rộng quan hệ với các loại hình doanh nghiệp khác sẽ tăng cường hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh, tạo ra việc làm và nâng cao đời sống cho người dân.
Trên thế giới, có nhiều quan điểm và tiêu chí khác nhau để định nghĩa và phân biệt doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) với các loại hình doanh nghiệp khác Hai tiêu chí phổ biến nhất là tổng vốn sản xuất kinh doanh và số lượng nhân lực Tại Việt Nam, tiêu chí đầu tiên xác định DNVVN được quy định trong công văn số 681/CP-KTN ngày 20/06/1998, với định nghĩa là “Những DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người” Tuy nhiên, với sự phát triển của nền kinh tế, nhiều DN có vốn vượt quá 5 tỷ đồng nhưng vẫn không được coi là DN lớn Để phù hợp với thực tế, ngày 23/11/2003, Chính phủ ban hành Nghị định 90/NĐ-CP với các chỉ tiêu mới để xác định DNVVN tại Việt Nam.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những cơ sở sản xuất và kinh doanh độc lập, được đăng ký theo quy định pháp luật hiện hành Các doanh nghiệp này có vốn đăng ký tối đa 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không vượt quá 300 người.
Tình hình kinh tế của mỗi địa phương khác nhau, do đó, khi phân loại doanh nghiệp, có thể áp dụng cả hai chỉ tiêu vốn và số lượng lao động, hoặc chỉ sử dụng một trong hai chỉ tiêu này để xếp loại Điều này giúp định hướng và xây dựng các chính sách hỗ trợ phù hợp.
Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Theo số liệu của Chi cục Thống kê TP Hà Nội, tính đến cuối năm 2006, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) chiếm phần lớn trong tổng số doanh nghiệp tại thủ đô.
Khoảng 86% doanh nghiệp (DN) có dưới 500 lao động, trong khi 75% DN có vốn dưới 10 tỷ đồng Phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) hoạt động trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, chủ yếu trong lĩnh vực thương mại (khoảng 50%) và công nghiệp (22-24%) Ngoài ra, xây dựng và kinh doanh khách sạn, nhà hàng cũng là những lĩnh vực có sự tham gia đông đảo của DNVVN.
Chủ doanh nghiệp có trình độ trung bình nên khả năng quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh thấp.
Chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ thường có trình độ chuyên môn trong một lĩnh vực nhất định, nhưng kiến thức về thị trường, quy luật kinh tế và quy định pháp luật còn hạn chế Điều này dẫn đến nhiều khó khăn trong việc kinh doanh, nắm bắt công nghệ hiện đại và xây dựng kế hoạch dài hạn để mang lại lợi nhuận và phát triển bền vững cho doanh nghiệp Do đó, quy mô hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ thường khá khiêm tốn.
Nguồn vốn tự có ban đầu hạn chế và khó khăn trong việc tiếp cận vốn ngân hàng khiến quy mô hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) rất hẹp và mang tính tự phát Trong quá trình hoạt động, DNVVN thường không tiếp cận được khách hàng lớn và nguồn vốn giá rẻ, dẫn đến cơ hội mở rộng sản xuất rất hạn chế Do đó, để thúc đẩy sự phát triển của DNVVN, cần có chính sách ưu đãi từ nhà nước và các ngân hàng thương mại.
Sức cạnh tranh của các DNVVN thấp, chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường kinh doanh bên ngoài.
Do hạn chế về nguồn vốn, quy mô sản xuất nhỏ và công nghệ lạc hậu, sản phẩm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) có sức cạnh tranh thấp hơn so với các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhà nước và đặc biệt là các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài Hệ quả là, với sức cạnh tranh yếu, DNVVN thường gặp khó khăn trong việc chống chọi với những biến động lớn của thị trường.
DN này hay gặp rủi ro khi có những biến động bất lợi của thị trường
Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
Mục đích chính của các doanh nghiệp là tạo ra lợi ích kinh tế, nhưng đồng thời, sự ra đời của doanh nghiệp cũng góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động Tại Việt Nam, hàng năm có khoảng 20 triệu người bước vào độ tuổi lao động, cùng với một lượng lớn người thất nghiệp ở cả nông thôn và thành phố Nhu cầu việc làm lớn như vậy không thể được đáp ứng hoàn toàn bởi các doanh nghiệp lớn hay doanh nghiệp nhà nước Hơn nữa, một phần lực lượng lao động không đáp ứng được yêu cầu về tay nghề và trình độ của các doanh nghiệp lớn Do đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đã ra đời, giúp giảm bớt gánh nặng thất nghiệp cho xã hội DNVVN hoạt động trong nhiều lĩnh vực, cho phép họ tuyển dụng lao động ở mọi trình độ, từ đó những người có trình độ chuyên môn không cao vẫn có thể tìm được việc làm phù hợp Theo số liệu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị đã giảm từ 13% năm 1989 xuống còn 6,2% năm 1994, với gần 1 triệu lao động tìm được việc làm trong các DNVVN mỗi năm.
Góp phần to lớn vào tốc độ tăng trưởng kinh tế
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế Việt Nam, với việc tạo ra khoảng 25-26% GDP hàng năm, 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp và 64% tổng khối lượng luân chuyển hàng hóa Ngoài ra, DNVVN còn giữ vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống, góp phần gìn giữ văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu.
Tăng tính năng động và đa dạng cho nền kinh tế
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) có khả năng linh hoạt trong việc chuyển đổi mặt hàng kinh doanh, điều chỉnh sản xuất và đổi mới công nghệ để thích ứng với biến động của môi trường kinh doanh Điều này đã góp phần làm cho nền kinh tế trở nên năng động hơn Thực tế cho thấy, tốc độ gia tăng số lượng DNVVN vượt trội hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác.
Sự gia tăng số lượng doanh nghiệp dẫn đến tính cạnh tranh cao trong thị trường, thúc đẩy các doanh nghiệp tự hoàn thiện và nâng cao vị thế Các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN), với vai trò là đơn vị vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp quốc doanh, đóng góp quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phù hợp với định hướng phát triển của từng giai đoạn.
Đóng thuế là trách nhiệm của mọi công dân và tổ chức, đóng góp quan trọng vào ngân sách nhà nước, nguồn tài chính cho lợi ích chung của xã hội Sự phát triển của sản xuất kinh doanh không chỉ tạo ra nguồn thu cho ngân sách mà còn khẳng định vị trí của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) Trong những năm qua, nhờ sự hỗ trợ của nhà nước và khả năng sáng tạo của DNVVN, khu vực này đã đóng góp hơn 30% vào ngân sách nhà nước, giúp giảm thiểu sự mất cân đối và nâng cao vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước.
Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường, có nhiều hình thức quan hệ tín dụng như tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng tiêu dùng và tín dụng quốc tế Trong số đó, tín dụng ngân hàng là hình thức phổ biến nhất và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đồng thời giữ vị trí chủ chốt trong hoạt động của các ngân hàng thương mại.
Chất lượng tín đối với các DNVVN của ngân hàng thương mại
a Khái niệm chất lượng tín dụng đối với DNVVN của ngân hàng thương mại
Tín dụng là hoạt động cốt lõi của ngân hàng, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn thu chính cho các ngân hàng thương mại (NHTM) Tuy nhiên, theo các số liệu thống kê gần đây, lĩnh vực này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn Để đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng của một ngân hàng, cần phải hiểu rõ chất lượng của hoạt động tín dụng là gì.
Chất lượng tín dụng ngân hàng được định nghĩa là khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) theo định hướng phát triển kinh tế địa phương và quốc gia Điều này không chỉ đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng mà còn thỏa mãn nhu cầu vốn của doanh nghiệp, tạo tâm lý thoải mái cho họ trong và sau khi giao dịch.
Một khoản vay được xem là chất lượng cao khi đáp ứng nhu cầu của cả ba bên: ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế.
Chất lượng tín dụng xét trên giác độ NHTM
Chất lượng tín dụng được thể hiện qua giới hạn tín dụng mà ngân hàng cung cấp, phù hợp với khả năng và thực lực của ngân hàng, đồng thời đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường Để đạt được chất lượng hoạt động tín dụng tốt, ngân hàng cần chú trọng đến các tiêu chí như lợi nhuận hợp lý và gia tăng, dư nợ, doanh số cho vay và thu nợ tăng trưởng, cùng với tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý và tuân thủ quy định Ngoài ra, việc đảm bảo cơ cấu nguồn vốn giữa ngắn, trung và dài hạn cũng là yếu tố quan trọng trong nền kinh tế ngân hàng.
Chất lượng tín dụng xét trên giác độ nền kinh tế
Sự phát triển của nền kinh tế phụ thuộc vào các chính sách của Đảng và Nhà nước Hoạt động ngân hàng cần phải hỗ trợ cho sự phát triển này trong khuôn khổ các định hướng chung Chất lượng tín dụng phải đáp ứng nhu cầu vốn phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của từng vùng, địa phương, nhằm xây dựng cơ sở vật chất, tạo việc làm, phát triển kinh tế và nâng cao mức sống cho người dân.
Chất lượng tín dụng trên giác độ khách hàng
Để tạo ra một khoản vay chất lượng, không chỉ ngân hàng cần nỗ lực mà khách hàng cũng đóng vai trò quyết định Sau khi ngân hàng thực hiện phân tích và thẩm định kỹ lưỡng, quyết định cho vay sẽ được đưa ra, tiếp theo là ký hợp đồng và giải ngân Tuy nhiên, nếu khách hàng sử dụng số vốn nhận được vào mục đích khác không đúng như phương án sản xuất đã trình bày, ngân hàng có khả năng thu hồi vốn.
Ngân hàng, thông qua mối quan hệ lâu dài với khách hàng, sẽ hiểu rõ nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, bao gồm quy luật mùa vụ và chu kỳ sản xuất Điều này giúp ngân hàng chuẩn bị nguồn lực phù hợp để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Chất lượng tín dụng từ góc độ khách hàng được đánh giá qua việc đáp ứng yêu cầu hợp lý với lãi suất hợp lý, thái độ phục vụ tận tình, thủ tục đơn giản và đảm bảo nguyên tắc an toàn tín dụng.
Chất lượng tín dụng của doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) khác biệt rõ rệt so với chất lượng tín dụng của doanh nghiệp lớn Sự khác nhau này thể hiện qua các khái niệm, chỉ tiêu phản ánh và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng DNVVN thường gặp nhiều thách thức hơn trong việc duy trì và cải thiện chất lượng tín dụng so với các doanh nghiệp lớn.
Các doanh nghiệp lớn thường có chất lượng tín dụng cao hơn so với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nhờ vào vốn tự có lớn, trang thiết bị hiện đại và thị trường tiêu thụ rộng Khả năng trả nợ của họ cao do nguồn thu ổn định, tạo thuận lợi trong việc tiếp cận vốn ngân hàng Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp lớn là doanh nghiệp nhà nước (DNNN), điều này làm tăng mức độ tin cậy và chất lượng tín dụng trong khu vực này so với DNVVN.
Các tiêu chí định tính
Chất lượng tín dụng của ngân hàng được đánh giá qua khả năng cho vay và thu hồi vốn, việc sử dụng vốn đúng mục đích, và khả năng trả nợ của doanh nghiệp Ngoài ra, sự phát triển của doanh nghiệp cần phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của vùng và địa phương Những tiêu chí này phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN).
Các tiêu chí của ngân hàng
Việc tuân thủ đầy đủ các bước trong quy trình tín dụng là rất quan trọng, vì mỗi công đoạn đều có vai trò thiết yếu trong việc đảm bảo an toàn và hiệu quả cho khoản vay Quy trình tín dụng thường bao gồm năm bước cơ bản: tiếp nhận và lập hồ sơ, phân tích tín dụng, quyết định tín dụng, giải ngân, và giám sát cũng như thanh lý tín dụng.
Cấu trúc nguồn cho vay là yếu tố then chốt trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nhằm phân tán rủi ro hiệu quả Để giảm thiểu rủi ro, ngân hàng cần đa dạng hóa các đối tượng khách hàng, từ đó tạo ra một cơ cấu cho vay vững chắc và an toàn hơn.
Ngân hàng cần mở rộng quy mô hoạt động tín dụng không chỉ với các tổng công ty lớn mà còn chú trọng đến thị trường tiềm năng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) Một ngân hàng có chất lượng tín dụng cao phải sở hữu một đội ngũ khách hàng đông đảo và đa dạng Hơn nữa, tỷ lệ dư nợ trên một khách hàng không nên quá cao, vì điều này có thể làm giảm tốc độ quay vòng vốn và gia tăng rủi ro tiềm ẩn.
Các chỉ tiêu về phía khách hàng
Món vay chất lượng cao chỉ được cấp cho khách hàng có ý định hợp tác và giữ chữ tín Ngân hàng cần thực hiện phân tích và thẩm định tín dụng trước khi quyết định cho vay Tuy nhiên, nếu khách hàng không trung thực và cung cấp báo cáo kinh doanh “giả”, ngân hàng có thể bị đánh lừa, dẫn đến rủi ro cho khoản vay.
Bằng cách áp dụng phương án sản xuất kinh doanh hợp lý và đảm bảo khả năng tài chính, khách hàng có thể được ngân hàng chấp nhận cho vay Tuy nhiên, việc sử dụng vốn đúng mục đích là yếu tố quyết định đến chất lượng khoản vay Khi vốn được sử dụng đúng cách, khách hàng sẽ xây dựng được uy tín, từ đó ngân hàng có thể có được một khách hàng đáng tin cậy, củng cố mối quan hệ gắn bó giữa hai bên.
Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN
Chất lượng hoạt động tín dụng (TD) đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng thương mại (NHTM) cũng như toàn xã hội Để quản lý chất lượng TD một cách đồng bộ, cần phải hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng này Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng TD được chia thành hai loại: yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong Trong đó, yếu tố bên ngoài bao gồm ba thành phần chính: kinh tế, xã hội và pháp lý.
Nền kinh tế ổn định là yếu tố then chốt giúp thúc đẩy hoạt động tín dụng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh một cách bình thường mà không bị ảnh hưởng bởi lạm phát hay khủng hoảng Điều này đảm bảo khả năng tín dụng và khả năng trả nợ vay không bị biến động lớn Do đó, chất lượng tín dụng chủ yếu phụ thuộc vào khả năng quản lý chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại.
Mở rộng quy mô tín dụng vượt quá giới hạn cho phép có thể dẫn đến sự gia tăng giá cả, gây ra lạm phát phi mã và siêu lạm phát Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các ngân hàng thương mại (NHTM), khiến họ chịu thiệt hại lớn do đồng tiền mất giá và chất lượng tín dụng giảm sút.
Vốn nước ngoài có ảnh hưởng lớn đến chất lượng tín dụng, đặc biệt trong bối cảnh các nước kém phát triển đang phải đối mặt với tình trạng thiếu vốn để phát triển kinh tế Việc huy động vốn nước ngoài để đầu tư có thể làm tăng tổng cầu, nhưng nếu tổng cung không theo kịp, sẽ dẫn đến mất cân đối và nguy cơ lạm phát Hơn nữa, do hệ thống ngân hàng chưa phát triển và tình trạng "đô la hoá" không được kiểm soát, dòng tiền từ nước ngoài trở thành phương tiện thanh toán, làm tăng khối lượng tiền trong nước và gây áp lực lạm phát Do đó, nếu không có sự quản lý chặt chẽ và tính toán kỹ lưỡng, vốn nước ngoài có thể gây ra nguy cơ lạm phát và tác động tiêu cực đến hoạt động tín dụng.
Hoạt động tín dụng, hay "vay để cho vay", phụ thuộc vào chất lượng huy động và cho vay vốn, cũng như chất lượng khách hàng Mỗi biểu hiện của khách hàng, dù tốt hay xấu, đều ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng thông qua mối quan hệ tín dụng Đối với khách hàng sản xuất kinh doanh có lãi, phát triển và quan hệ tín dụng tốt, cầu nối giữa vay và cho vay sẽ thông suốt, từ đó tăng vòng quay vốn tín dụng và mở rộng quy mô đầu tư.
Chu kỳ phát triển kinh tế ảnh hưởng lớn đến hoạt động tín dụng Trong giai đoạn kinh tế đình trệ, sản xuất và kinh doanh bị thu hẹp, dẫn đến khó khăn trong hoạt động tín dụng và giảm nhu cầu vốn Việc sử dụng vốn tín dụng trở nên kém hiệu quả, và khả năng trả nợ đúng hạn cho ngân hàng cũng bị ảnh hưởng Ngược lại, trong thời kỳ hưng thịnh, nhu cầu vốn tín dụng tăng lên, rủi ro tín dụng giảm, nhưng cũng có thể xảy ra tình trạng đầu cơ và sản xuất ồ ạt, khiến nhu cầu vốn tín dụng tăng cao và số lượng khoản tín dụng được thực hiện quá nhiều.
Mức lãi suất ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh, từ đó tác động đến chất lượng tín dụng Khi lãi suất cao hơn lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được từ hoạt động sản xuất, khả năng trả nợ của họ sẽ giảm sút Điều này dẫn đến việc tín dụng không còn là công cụ hiệu quả để thúc đẩy sự phát triển sản xuất, làm giảm chất lượng tín dụng trong nền kinh tế.
Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng bao gồm những tác nhân tham gia vào quan hệ tín dụng, cụ thể là người gửi tiền, ngân hàng và người vay tiền.
Tín dụng là quá trình vay mượn dựa trên sự tín nhiệm và lòng tin, bao gồm ba yếu tố chính: nhu cầu của khách hàng, khả năng của ngân hàng và sự tin tưởng lẫn nhau giữa hai bên.
Khách hàng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tín dụng, vừa là bên cung cấp vốn, vừa là bên cần vay vốn Họ kỳ vọng nhận lãi từ ngân hàng và các dịch vụ thanh toán tiện lợi Sự tín nhiệm của khách hàng với ngân hàng không chỉ tăng cường sự ổn định của nguồn vốn mà còn đáp ứng nhu cầu vay của người tiêu dùng Người vay tìm đến ngân hàng với mong muốn có được khoản tín dụng phục vụ cho sản xuất kinh doanh, với các điều kiện rõ ràng về số tiền, thời hạn và lãi suất hợp lý.
Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn cho vay và cung cấp tín dụng Quy mô và phạm vi hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào nguồn vốn tự có, khả năng huy động vốn, uy tín và trình độ quản lý Ngoài ra, các yếu tố như trình độ kỹ thuật, nghiệp vụ, mạng lưới hoạt động, khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại và việc sử dụng các công cụ quản lý tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước cũng ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng.
Ngoài các yếu tố đã đề cập, chất lượng tín dụng còn bị ảnh hưởng bởi đạo đức xã hội, đặc biệt là rủi ro tín dụng do việc lợi dụng lòng tin để lừa đảo Hơn nữa, trình độ dân trí thấp và sự thiếu hiểu biết về hoạt động ngân hàng và tín dụng có thể dẫn đến những hiểu lầm, làm giảm hiệu quả hoạt động và không phát huy tốt chức năng của các phương tiện tín dụng.
Nhân tố pháp lý bao gồm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, sự đầy đủ và thống nhất của các văn bản dưới luật, cùng với quá trình chấp hành pháp luật và trình độ dân trí.
Pháp luật là yếu tố thiết yếu trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, giúp đảm bảo hoạt động kinh tế diễn ra suôn sẻ Nếu không có pháp luật hoặc pháp luật không phù hợp, nền kinh tế sẽ gặp khó khăn trong việc phát triển Vai trò của pháp luật là tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế Đặc biệt, pháp luật là cơ sở quan trọng cho hoạt động ngân hàng và chất lượng tín dụng Chỉ khi các bên tham gia quan hệ tín dụng tuân thủ pháp luật nghiêm ngặt, lợi ích cho cả hai phía mới được đảm bảo và chất lượng tín dụng sẽ được nâng cao.
Các yếu tố bên trong trường có liên quan đến sự phấn đấu của ngân hàng trong hoạt động tín dụng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng Bảy nhân tố nội bộ bao gồm chính sách, công tác tổ chức, trình độ lao động, quy trình nghiệp vụ, thông tin, kiểm tra kiểm soát và trang thiết bị, đều đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng.
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIÊP VỪA VÀ NHỎ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN NINH GIANG 28 1 Một số nét về NHNo&PTNT huyện Ninh Giang
1 Một số nét về NHNo&PTNT huyện Ninh Giang :
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NHNo & PTNT) tỉnh Hải Dương, chi nhánh huyện Ninh Giang, chuyên cung cấp dịch vụ tiền tệ tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn và các thành phần kinh tế khác Kể từ khi được thành lập sau khi tái lập huyện vào năm 1996, NHNo & PTNT Ninh Giang đã đóng vai trò chủ đạo và là lực lượng chính trong thị trường tài chính tín dụng tại địa phương.
QĐ - NHNo ngày 28 tháng 12 năm 1996 của Tổng Giám đốc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Ninh Giang đã vượt qua nhiều khó khăn nhờ vào sự kiên trì và quyết tâm đổi mới Chi nhánh không chỉ khẳng định được vị thế của mình mà còn phát triển mạnh mẽ trong cơ chế thị trường Là một phần của ngân hàng thương mại quốc doanh lớn, chi nhánh đang mở rộng ra tất cả các dịch vụ tài chính.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NHNo&PTNT) huyện Ninh Giang, Hải Dương, hiện có 01 Hội sở, 01 Ngân hàng cấp III và 01 phòng giao dịch trực thuộc Đây là chi nhánh ngân hàng duy nhất tại huyện, với mạng lưới phân bố đồng đều đến các xã trong toàn huyện Khách hàng chủ yếu của ngân hàng bao gồm các hộ nông dân, hộ sản xuất kinh doanh, cùng với các doanh nghiệp và công ty TNHH thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau.
Nhờ vào sự cải thiện hiệu quả trong hoạt động, uy tín của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Ninh Giang ngày càng được nâng cao, trở thành người bạn đồng hành thiết yếu của bà con nông dân.
Ngành Ngân hàng, đặc biệt là NHNo&PTNT huyện Ninh Giang, đã đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế địa phương Trong những năm gần đây, ngân hàng đã hỗ trợ chương trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và huyện thông qua việc huy động vốn và cho vay các chương trình chuyển dịch cơ cấu Sự tăng trưởng khối lượng tín dụng và sự thay đổi cơ cấu qua các năm là minh chứng cho những nỗ lực này.
- Về cơ cấu tổ chức:
Hiện nay NHNo&PTNT huyện Ninh Giang có 62 cán bộ công nhân viên độ tuổi trung bình là 38 tuổi
Trình độ đại học là 28 cán bộ Chiếm 45,16 %
Trình độ cao đẳng 30 cán bộ - 48,38%
Trình độ trung cấp 4 cán bộ - 6,46%
P Giám đốc phụ trách kế toán - Ngân quỹ
P Giám đốc phụ trách kinh doanh
Đánh giá chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, đặc biệt là tại chi nhánh Ninh Giang, là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương Chất lượng tín dụng tại NHNo & PTNT Ninh Giang cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo rằng các DNVVN nhận được sự hỗ trợ tài chính cần thiết nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững.
Doanh số cho vay, doanh số thu nợ, tổng dư nợ, và kết cấu dư nợ của DNVVN.
Doanh số cho vay, doanh số thu nợ, tổng dư nợ Đơn vị tính: triệu đồng
(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2009 – 2011, phòng Tín dụng - Ngân hàngNo&PTNT Ninh Giang)
Trong ba năm qua, các chỉ tiêu dư nợ, doanh số cho vay và doanh số thu nợ của doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đều có sự tăng trưởng mạnh mẽ Đặc biệt, doanh số cho vay đã tăng từ 39% năm 2010 lên 44% năm 2011, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ trong hoạt động tín dụng đối với DNVVN Cùng với sự gia tăng doanh số cho vay, dư nợ cũng đạt 53% năm 2011, tương đương 1.832 triệu đồng, trong khi doanh số thu nợ tăng từ 2.173 triệu đồng năm 2010 lên 3.289 triệu đồng năm 2011 Những chỉ tiêu này cho thấy chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại chi nhánh đã được nâng cao đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp này.
Chỉ tiêu này thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng, với tỷ lệ cao hay thấp phụ thuộc vào hoạt động cho vay và thu hồi nợ, cũng như các chính sách tín dụng mà ngân hàng áp dụng.
Nợ xấu DNVVN Đơn vị tính: Triệu đồng
%Nợ xấu/Tổng dư nợ 2.14 2.78
%Nợ đã TLDP&XLRR/Tổng dư nợ 14.04 1.18
(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2010 – 2011, phòng Tín dụng - Ngân hàng No&PTNT Ninh Giang)
Theo báo cáo tổng kết của phòng tín dụng chi nhánh ngân hàng No&PTNT Ninh Giang, dư nợ cho vay DNVVN năm 2011 đã tăng khoảng 62% so với năm 2010, đạt gần 700 triệu đồng Mặc dù nợ xấu DNVVN tăng khoảng 50% so với năm 2009, tỷ lệ Nợ xấu/Tổng dư nợ chỉ tăng nhẹ từ 2.14% lên 2.78% Điều này cho thấy sự gia tăng nợ xấu so với tổng dư nợ là hợp lý và không có sự gia tăng quá mức của nợ quá hạn.
Tổng dư nợ của DNVVN đã giảm mạnh từ 14% xuống chỉ còn 1.18%, chủ yếu do số lượng DNVVN không hiệu quả giảm đáng kể trong năm 2009 Khoảng 130 DNVVN kém hiệu quả đã bị ngân hàng ngừng cho vay, nhằm tăng cường nguồn vốn cho các DNVVN hoạt động hiệu quả hơn Đây là một bước đi quyết liệt của ngân hàng nhằm cải thiện chất lượng tín dụng cho DNVVN Trong những năm tiếp theo, ngân hàng sẽ tập trung vào việc cho vay các DNVVN nhỏ có hiệu quả, tránh tình trạng cho vay dàn trải không hiệu quả như trước đây Hành động này đã chứng minh hiệu quả khi tổng dư nợ DNVVN không giảm, mặc dù số lượng DNVVN được ngân hàng cho vay đã giảm đáng kể.
Nợ xấu/Tổng dư nợ Đơn vị tính: Triệu đồng
Nợ xấu/Tổng dư nợ
Nợ xấu/Tổng dư nợ
(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2010 – 2011, phòng Tín dụng - Ngân hàng No&PTNT Ninh Giang)
Nợ đã TLDP&XLRR/Tổng dư nợ.
Tốc độ luân chuyển vốn
Như chúng ta đã biết:
Doanh số thu nợ Vòng quay vốn tín dụng = -
Vòng quay vốn tín dụng
Vòng quay vốn tín dụng toàn CN 2.36 2.47 2.35
Vòng vay vốn tín dụng DNVVN 1.54 1.93 1.80
(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2009 – 2011, phòng Tín dụng - Ngân hàng No&PTNT Ninh Giang)
Vòng quay vốn tín dụng toàn chi nhánh đạt mức cao, đặc biệt là 2.47 vòng/năm vào năm 2010, chỉ giảm nhẹ xuống 2.35 vòng/năm vào năm 2011 Đồng thời, vòng quay vốn tín dụng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) cũng ghi nhận tốc độ cao, với 1.93 vòng/năm trong năm 2010.
Tốc độ quay vòng vốn của chi nhánh trong năm 2011 giảm nhẹ xuống còn 1.8 vòng/năm, cho thấy sự tham gia tích cực của đồng vốn chi nhánh trong nhiều quá trình sản xuất của các doanh nghiệp.
Hệ số sử dụng vốn
Hoạt động ngân hàng bao gồm hai nhiệm vụ chính: huy động và cho vay, hai yếu tố này không thể tách rời Hiện nay, các ngân hàng thương mại đang nỗ lực tối đa để huy động vốn, vì tình trạng thiếu vốn cho vay không chỉ xảy ra ở doanh nghiệp mà còn ở chính các ngân hàng Tuy nhiên, trong một số giai đoạn, nguồn vốn của ngân hàng có thể bị ứ đọng, dẫn đến việc không thể cho vay.
Hệ số sử dụng vốn = -
Tổng nguồn vốn huy động
Hệ số sử dụng vốn Đơn vị tính: Triệu đồng
Tổng nguồn vốn huy động 11.601 12.845 15.468
Hệ số sử dụng vốn toàn CN 0.21 0.19 0.22
(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2009 – 2011, phòng Tín dụng - Ngân hàng No&PTNT Ninh Giang)
Ngân hàng đã cải thiện hệ số sử dụng vốn qua thời gian, với chi nhánh không chỉ tăng nhanh dư nợ mà còn gia tăng nguồn huy động Thông thường, hệ số này ở các ngân hàng thương mại luôn nhỏ hơn 1, với mức an toàn thanh khoản từ 0,75 đến 0,9 Sự gia tăng dư nợ của chi nhánh cho thấy quy mô tín dụng đang tăng cao, và cần có biện pháp để nâng cao chỉ tiêu này Đánh giá chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHNNo&PTNT Ninh Giang là cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững.
Để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế và phát triển hoạt động kinh doanh an toàn, NHNNo & PTNT Ninh Giang đã chú trọng mở rộng tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) Ngân hàng không chỉ tập trung vào các doanh nghiệp lớn mà còn đảm bảo cung cấp đủ vốn cần thiết cho DNVVN trên địa bàn, thực hiện hiệu quả các chỉ thị cho vay đối với khu vực này Sự quan tâm này được thể hiện rõ qua sự gia tăng số dư nợ đối với DNVVN trong những năm gần đây.
Số dư nợ DNVVN của chi nhánh
Dư nợ DNVVN Đơn vị tính: Triệu đồng
(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2009 – 2011, phòng Tín dụng - Ngân hàng No&PTNT Ninh Giang)