Đóng góp mới và ý nghĩa của luận án - Luận án làm rõ một số nội dung lý luận liên quan ñến phúc lợi và xây dựng khung lý thuyết về phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
*****
ĐINH QUỐC THẮNG
PHÚC LỢI Y TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
*****
ĐINH QUỐC THẮNG
PHÚC LỢI Y TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 62 31 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS NGUYỄN DUY DŨNG
2 PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG BẰNG
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực, những kết luận khoa học của luận án chưa từng ñược công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Đinh Quốc Thắng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của ñề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của luận án 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp mới và ý nghĩa của luận án 7
6 Kết cấu của luận án 7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHÚC LỢI Y TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 8
1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan tới phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường 8
1.1.1 Những nghiên cứu về nền kinh tế thị trường 8
1.1.2 Những nghiên cứu về phúc lợi xã hội 14
1.1.3 Các quan ñiểm về phúc lợi y tế 19
1.2 Những gợi mở cho nghiên cứu về phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam 22
1.3 Kết luận chương 1 24
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÚC LỢI Y TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 25
2.1 Phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường 25
2.1.1 Những quan ñiểm cơ bản 25
2.1.2 Đặc ñiểm của phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường 35
2.1.3 Vai trò của phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường 37
Trang 5iii
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng ñến phúc lợi y tế 39
2.1.5 Nguyên tắc và phương thức phân bổ phúc lợi y tế 42
2.1.6 Nội dung phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường 45
2.1.7 Tiêu chí ñánh giá phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường 48
2.1.8 Điều kiện ñảm bảo thực hiện phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường 60
2.2 Phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường ở một số nước trên thế giới 61
2.2.1 Phúc lợi y tế của Trung Quốc 62
2.2.2 Phúc lợi y tế của Nhật Bản 67
2.2.3 Phúc lợi y tế của của các nước Bắc Âu 70
2.2.4 Bài học kinh nghiệm ñối với Việt Nam 73
2.3 Kết luận chương 2 80
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÚC LỢI Y TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNGỞ VIỆT NAM 81
3.1 Đặc ñiểm của phúc lợi y tế ở Việt Nam 81
3.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng ñến phúc lợi y tế ở Việt Nam 83
3.2.1 Trình ñộ phát triển kinh tế - xã hội của ñất nước 83
3.2.2 Trình ñộ phát triển của ngành y tế 85
3.2.3 Những quan ñiểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phúc lợi y tế 85
3.2.4 Điều kiện tự nhiên 88
3.2.5 Hội nhập quốc tế 90
3.3 Thực trạng về phúc lợi y tế ở Việt Nam 90
3.3.1 Phúc lợi y tế dành cho những người có hoàn cảnh ñặc biệt 90
3.3.2 Phúc lợi y tế cộng ñồng 92
3.4 Đánh giá về phúc lợi y tế ở Việt Nam 94
3.4.1 Số lượng phúc lợi y tế 94
3.4.2 Chất lượng phúc lợi y tế 104
dịch vụ y tế phúc lợi 107
trong phúc lợi y tế 108
3.4.3 Vấn ñề giá cả khi thực hiện phúc lợi y tế 109
Trang 63.4.4 Phương thức thực hiện phúc lợi y tế 114
3.4.5 Mối quan hệ giữa phúc lợi y tế và ñối tượng ñược hưởng 123
3.5 Nhận xét chung về phúc lợi y tế ở Việt Nam hiện nay 125
3.5.1 Kết quả của chính sách phúc lợi y tế ở Việt Nam 125
3.5.2 Hạn chế của phúc lợi y tế ở Việt Nam 126
3.5.3 Nguyên nhân của hạn chế 130
3.6 Kết luận chương 3 134
CHƯƠNG 4: CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN PHÚC LỢI Y TẾ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 135
4.1 Bối cảnh mới và những yêu cầu ñặt ra ñối với phát triển phúc lợi y tế Việt Nam 135
4.1.1 Bối cảnh quốc tế 135
4.1.2 Bối cảnh trong nước 138
4.1.3 Yêu cầu mới ñối với sự phát triển phúc lợi y tế Việt Nam trong bối cảnh hiện nay 141
4.1.4 Phương hướng, nhiệm vụ của ngành y tế Việt Nam trong giai ñoạn 2011 - 2020 142
4.1.3.2 Các nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế trong thời gian tới 145
4.2 Các quan ñiểm về phúc lợi y tế ở Việt Nam hiện nay 147
4.2.1 Duy trì tốc ñộ tăng trưởng kinh tế ổn ñịnh ở mức cao ñi ñôi với với việc mở rộng, tăng cường chất lượng phúc lợi y tế 147
4.2.2 Đa dạng hóa và kết hợp các lợi ích phúc lợi y tế 148
4.2.3 Nâng cao hiệu quả của quản lý của Nhà nước ñối với phúc lợi y tế 148
4.2.4 Hội nhập quốc tế nhằm phát triển kinh tế và ñảm bảo an sinh xã hội và phúc lợi y tế 149
4.3 Các giải pháp phát triển phúc lợi y tế tại Việt Nam trong thời gian tới 149
4.3.1 Nhóm giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực ñảm bảo cho các hoạt ñộng phúc lợi y tế 149
4.3.2 Nhóm giải pháp nhằm tăng cường tài chính y tế dành cho các hoạt ñộng phúc lợi y tế 155
Trang 74.3.3 Nhóm giải pháp nhằm phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho các dịch vụ phúc
lợi y tế 161
4.3.4 Nhóm giải pháp nhằm phát triển thông tin hỗ trợ phúc lợi y tế 166
4.3.5 Nhóm giải pháp nhằm tăng cường cung cấp dịch vụ y tế cộng ñồng 169
4.3.6 Nhóm giải pháp nhằm phát triển BHYT hỗ trợ những người có hoàn cảnh ñặc biệt 175
4.4 Kết luận chương 4 178
KẾT LUẬN 179
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 181
TÀI LIỆU THAM KHẢO 182
PHỤ LỤC 194
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Danh mục chữ viết tắt Tiếng Anh
ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á
AIDS Acquired Immune Deficiency
GPP Good Pharmacy Practices Thực hành tốt nhà thuốc
GSP Good Storage Practices Thực hành tốt bảo quản thuốc
HIV human immunodeficiency virus Vi rút gây suy giảm miễn dịch
JAHR Joint Annual Health Report Báo cáo chung tổng quan ngành y tế MDG Millennium Development Goals Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ ODA Official Development Assistance Viện trợ phát triển chính thức
WHO World Health Organization Tổ chức Y tế thế giới
Danh mục chữ viết tắt tiếng Việt
Trang 9người nghèo và cận nghèo, 2003–2012 95Bảng 3.3: Tình hình tham gia BHYT của người nghèo và một số nhóm ñối tượng khó
khăn năm 2011 96Bảng 3.4: Mức chi cho y tế từ tiền túi của hộ gia ñình trung bình/hộ/tháng (theo giá
hiện hành và giá so sánh năm 2010), 2002~2010 111Bảng 3.5: Thực trạng chi phí y tế thảm họa và nghèo hóa do chi phí y tếtại Việt Nam,
2002–2010 112Bảng 3.6: Tỷ lệ chi phí thảm họa theo một số ñặc tính của hộ gia ñìnhgiai ñoạn 2002-
2010 113
Trang 102001 - 2007 100Hình 3.2: Tỷ lệ ngân sách nhà nước chi cho y tế dự phòng giai ñoạn 1998 - 2007 101Hình 3.3: Tổng chi NSNN cho y tế so với GDP 101Hình 3.4: Tỷ trọng chi thường xuyên cho y tế từ NSNN so với tổng chi thường xuyên
NSNN và so với GDP, 2008–2013 102Hình 3.5: Tỷ lệ chi sự nghiệp y tế trong NSNN giai ñoạn 2005 - 2011 103Hình 3.6: Tốc ñộ tăng chi NSNN cho y tế so với tốc ñộ tăng chi NSNN theo giá so
sánh, 2004–2012 103Hình 3.7: Đánh giá của người dân về chất lượng cơ sở hạ tầng cung cấp 107Hình 3.8: Đánh giá của người dân về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh trong phúc
lợi y tế 107Hình 3.9: Đánh giá của người dân về thái ñộ của cán bộ y tế trong phúc lợi y tế 107Hình 3.10: Đánh giá của người dân về khả năng tiếp cận các dịch vụ trong phúc lợi y
tế 108Hình 3.11: Đánh giá chung của người dân về chất lượng các dịch vụ 108Hình 3.12: Tỷ lệ chi phí từ tiền túi của hộ gia ñình trong tổng chi cho y tế tại một số
quốc gia châu Á năm 2011 110Hình 3.13: Tỷ lệ chi phí thảm họa và nghèo hóa do chi phí y tế tại một số quốc gia
châu Á giai ñoạn 2007 – 2009 112Hình 3.14: Số người tham gia BHYT theo nguồn ñóng giai ñoạn 2008 - 2011 122
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của ñề tài
Bệnh tật là một rủi ro của con người mà trong cuộc ñời không ai tránh ñược Bệnh tật ảnh hưởng ñến sức khỏe người dân, làm suy giảm sức sản xuất của nền kinh
tế và thậm chí trở thành những vấn ñề của xã hội Ngành y tế ra ñời ñể giải quyết vấn
ñề ñó Sự phát triển của ngành y tế thể hiện sự phát triển của một quốc gia bao gồm sự phát triển kinh tế - xã hội và mức sống người dân
Cơ chế thị trường với hoạt ñộng của cung - cầu ñể xác ñịnh mức giá và số lượng dịch vụ ñã nhanh chóng thể hiện sự bất cập trong lĩnh vực y tế Vốn ñầu tư cho hệ thống
cơ sở hạ tầng kỹ thuật và nguồn nhân lực lớn làm chi phí bệnh viện bị ñẩy cao, khiến giá
cả cho các dịch vụ y tế cũng cao Điều này khiến cho rất nhiều người dân với thu nhập thấp sẽ khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh Bên cạnh ñó, luôn tồn tại hiện tượng ñộc quyền, sự phân bố không ñều của các cơ sở y tế… khiến cho ngành y tế không thể hiện hết vai trò của mình trong việc ñảm bảo nguồn nhân lực cho nền kinh tế Chính vì vậy, chính phủ buộc phải can thiệp vào lĩnh vực này
Thực tế ñã chỉ rõ, chi tiêu công của Chính phủ ñể cung cấp những hàng hóa công cộng, giải quyết thất bại thị trường và các vấn ñề xã hội, hướng tới ñạt ñược những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hình thành hệ thống phúc lợi xã hội Trong
ñó, phúc lợi y tế luôn ñược coi là nhiệm vụ trọng tâm của nhà nước Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc chăm lo phát triển chất lượng nguồn lực xét ở khía cạnh sức khoẻ của người lao ñộng và của cả xã hội ñòi hỏi phải phát triển y tế phục vụ cho cộng ñồng Phúc lợi y tế mà nòng cốt là của nhà nước ñược coi như là cái lưới an toàn không chỉ cho chính những người cần chăm sóc, ñiều trị bệnh tật mà còn cho cả sức khoẻ của cả xã hội bất luận ñó là quốc gia phát triển hay kém phát triển Với các nước ñang phát triển ñiều này càng có ý nghĩa ñặc biệt khi mà thu nhập của người dân còn thấp, sự phân hoá giàu nghèo ngày một tăng, khó khăn ngày càng nhiều khi mà bệnh tật gia tăng và chất lượng sức khỏe ngày càng kém… thì sự hỗ trợ của nhà nước thông qua phúc lợi y tế là ñiều không thể thiếu ñược Phúc lợi y tế làm giảm chi phí khám chữa bệnh mà người dân phải chịu, phổ cập y tế tới từng người dân thông qua những
hỗ trợ về phát triển nguồn lực cán bộ y tế, ñầu tư trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, phát
Trang 12số 76 ngày 20/5/1950 về ban hành quy chế công chức, Sắc lệnh số 77 ngày 22/5/1950
về ban hành quy chế công nhân, ngoài những quy ñịnh về lao ñộng ñã có những quy ñịnh về chế ñộ ốm ñau, sinh ñẻ, tai nạn lao ñộng Mặc dù trong hoàn cảnh ñất nước
có chiến tranh, song Việt Nam ñã tổ chức ñược hệ thống y tế khá tốt, ñóng góp công sức vào việc bảo vệ chăm sóc sức khoẻ toàn dân và góp phần thực hiện thành công hai nhiệm vụ chiến lược của ñất nước Ngay sau khi ñất nước thống nhất, dù còn vô vàn khó khăn, song chủ trương nâng cao mức sống cho nhân dân, trong ñó ñảm bảo hoạt ñộng phúc lợi y tế ñã ñược Đảng và Chính phủ ta hết sức coi trọng Điều này ñược thể hiện rất rõ trong các văn bản pháp luật, các nghị quyết, các chương trình y tế và biện pháp tổ chức hoạt ñộng y tế và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
Từ năm 1986 ñến nay, Việt Nam chuyển ñổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường ñịnh hướng XHCN Qua gần 30 năm ñổi mới chúng ta ñã ñạt ñược rất nhiều thành tựu về mọi mặt, nhất là phát triển kinh tế ñất nước Đồng thời, các lĩnh vực ñảm bảo xã hội cũng ñược coi trọng và Việt Nam ñã trở thành một trong những quốc gia ñược ñánh giá cao về xoá ñói giảm nghèo và chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân Mục tiêu tổng quát trong lĩnh vực này ñã ñược chỉ rõ: Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ, phấn ñấu ñến năm 2020 ñảm bảo nhu cầu ngày càng cao của mọi tầng lớp nhân dân ta ñạt mức trung bình của các nước trong khu vực Để hiện thực hoá những nội dung trên nhiều nghị quyết, chỉ thị quan
Trang 133
trọng đã được ban hành như: Nghị quyết 46 của Bộ Chính trị, Nghị Định 63 về chương trình bảo hiểm y tế tự nguyện, Quyết định 139 về việc thành lập quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo Đồng thời, nhà nước cùng với các thành phần kinh tế, cộng đồng
và sự hỗ trợ của bên ngồi đã tập trung mọi nỗ lực, đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, nhân lực nhằm xây dựng mạng lưới y tế, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân Nhờ vậy, thời gian qua tiến bộ đạt được trong chăm sĩc sức khỏe ban đầu của Việt Nam là rất ấn tượng Theo điều tra nhân khẩu và y tế Việt Nam năm 2012: Tỷ
lệ tử vong ở trẻ sơ sinh đã giảm xuống cịn 15,4/1000 ca sinh so với 18/1000 ca sinh vào năm 2002, tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 5 tuổi đã giảm từ 58/1000 vào năm 1990 xuống cịn 23,2/1000 trẻ vào năm 2012 Việt Nam cũng đã đạt kết quả tốt trong lĩnh vực chống suy dinh dưỡng trẻ em và các bệnh truyền nhiễm, tình hình chống bệnh sốt rét cĩ nhiều tiến bộ, việc chẩn đốn và điều trị một tỷ lệ lớn các ca lao phổi mới cũng đạt nhiều thành cơng, chương trình phịng chống lao đã bao phủ 100% lãnh thổ, Việt Nam đã thực hiện chính sách hỗ trợ để chữa bệnh cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi
và các đối tượng chính sách xã hội Những thành tựu đáng khích lệ trên là kết quả của những nỗ lực chung của xã hội, trong đĩ cĩ vai trị quan trọng của phúc lợi y tế- với tư cách là “bà đỡ” và cái lưới an tồn khơng thể thiếu trong lĩnh vực chăm sĩc sức khỏe khơng chỉ đối với các đối tượng khơng cĩ cơ may, bị tổn thương mà cịn cho chính tồn bộ người dân
Nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay cĩ các thành phần kinh tế cùng tồn tại, đan xen, hợp tác với nhau đã làm cho các mối quan hệ trở nên
đa dạng và phức tạp hơn Cơ chế thị trường đã tác động mạnh mẽ đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, tác động đến phúc lợi xã hội và phúc lợi y tế Suy rộng hơn phúc lợi xã hội nĩi chung, phúc lợi y tế nĩi riêng chính là một nội dung quan trọng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa sản xuất, phân phối, giữa lợi ích của các nhĩm xã hội, vai trị của nhà nước với các thành phần kinh tế, giữa tăng trưởng kinh tế và đảm bảo cơng bằng xã hội Rõ ràng, trong điều kiện mới duy trì mơ hình phúc lợi xã hội trong đĩ cĩ phúc lợi y tế theo kiểu tập trung, bao cấp sẽ khơng cịn phù hợp với sự biến đổi của tình hình kinh tế xã hội Việt Nam Hơn thế nữa, bản thân hoạt động y tế đã cĩ nhiều thay đổi khá căn bản: từ cơ cấu bệnh tật, nhu cầu chữa trị cho đến kinh phí, cơ sở vật chất và nhất là hệ thống tổ chức y tế với sự tham gia của các chủ thể, các thành phần kinh tế
Trang 14tế nói chung, phúc lợi y tế nói riêng sẽ vận hành ra sao ñể không chỉ hỗ trợ cho những người không có cơ may mà thực sự phải là cái lưới an toàn cho xã hội, cho cộng ñồng Câu hỏi ñặt ra hiện nay là: Hệ thống phúc lợi y tế của trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Đây là những nội dung rất phức tạp ñòi hỏi cần phải ñược giải ñáp ñầy ñủ không chỉ về cơ sở lý luận mà còn cả thực tế, nhất là ở Việt Nam
Dù rằng, ở nhiều cách tiếp cận, mức ñộ và khía cạnh bàn luận khác nhau, những nội dung trên ñã ñược ñề cập trong một số công trình ñược công bố ở nước ta… Song, thực tế cho ñến nay vẫn chưa có một công trình nào bàn luận một cách ñầy ñủ các vấn
ñề nêu trên, ñặc biệt dưới góc ñộ kinh tế chính trị học Đây là một khoảng trống trong nghiên cứu về phúc lợi xã hội nói chung và phúc lợi y tế nói riêng ở Việt Nam, ñòi hỏi cần phải ñầu tư nghiên cứu sâu rộng hơn về nội dung này
Hơn thế nữa, ñảm bảo ngày càng tốt hơn cho an sinh và phúc lợi xã hội là một trong những nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 Trong ñó phúc lợi y tế ñược coi là một trong những lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng và
là một chức năng và nhiệm vụ của nhà nước và là quyền lợi, trách nhiệm của toàn xã hội Việc khẩn trương hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế chính sách nhằm phát triển hệ thống y tế và các chế ñộ bảo hiểm (nhất là bảo hiểm y tế) ñòi hỏi phải nghiên cứu một cách ñầy ñủ ñồng bộ và ñảm bảo tính linh hoạt, bền vững, hỗ trợ lẫn nhau, ñặc biệt với các ñối tượng dễ bị tổn thương Trên cơ sở ñó ñề ra các giải pháp hữu hiệu và phù hợp với ñiều kiện Việt Nam và tiếp cận với thông lệ quốc tế ñang ñặt
ra nhiều vấn ñề cần bàn luận Do vậy, tác giả chọn: “Phúc lợi y tế trong nền kinh tế
thị trường ở Việt Nam hiện nay” làm nội dung nghiên cứu của luận án tiến sỹ chuyên
ngành Kinh tế chính trị, nhằm góp phần làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận và thực tiễn của vấn ñề trên của nước ta hiện nay và trong thời gian tới
Trang 155
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Hoàn thiện hệ thống phúc lợi y tế tại Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục ñích trên luận án sẽ tập trung thực hiện các nhiệm vụ nghiên
cứu sau :
• Giải quyết vấn ñề khoa học: Xây dựng khung khổ lý thuyết cơ bản về phúc lợi y
tế Khảo cứu những kinh nghiệm thực hiện phúc lợi xã hội và phúc lợi y tế ở một số nước
• Giải quyết vấn ñề thực tiễn: Phân tích, ñánh giá thực trạng về phúc lợi y tế ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở ñó, ñề xuất ñịnh hướng và giải pháp nhằm góp phần tăng cường hiệu quả hoạt ñộng phúc lợi y tế của Việt Nam, ñảm bảo mục tiêu tăng trưởng và công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường ñịnh hướng XHCN ở nước ta hiện nay và trong thời gian tới
• Câu hỏi nghiên cứu của luận án: Phúc lợi y tế ñang diễn ra ở Việt Nam như thế nào? Việt Nam cần làm gì ñể phúc lợi y tế phát huy ñược hiệu quả cao nhất?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
• Đối tượng nghiên cứu của ñề tài là phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam
• Về thời gian: Các vấn ñề phúc lợi y tế Việt Nam từ 2000 ñến 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận khoa học: Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Sử dụng phương pháp tiếp cận vấn ñề kinh tế chính trị bắt ñầu
từ quan ñiểm phúc lợi xã hội, xem xét các mô hình phúc lợi xã hội, coi phúc lợi y tế là một thành tố cấu thành phúc lợi xã hội và xây dựng hệ thống lý thuyết về phúc lợi y tế
- Luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp thống kê, tổng hợp, phương pháp so sánh, ñối chiếu, phân tích số liệu ñể làm rõ thực trạng của
hệ thống phúc lợi y tế tại Việt Nam Từ ñó, ñánh giá, tìm ra hạn chế của hệ thống ñể ñưa ra những giải pháp giải quyết vấn ñề phù hợp
Dữ liệu sử dụng trong luận án gồm: dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
Trang 166
* Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp:
Để thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp có hiệu quả, tác giả tiến hành quy trình gồm các bước:
- Bước 1: Xác ñịnh các thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu về phúc lợi y tế
ở Việt Nam và các nước
- Bước 2: Tìm hiểu các nguồn dữ liệu:
Trong nghiên cứu, tác giả thu thập dữ liệu từ các nguồn dữ liệu bên ngoài như các nghiên cứu ñã ñược công bố, các bài báo, tạp chí, số liệu thống kê của các cơ quan chức năng
- Bước 3: Tiến hành thu thập thông tin
Tác giả thu thập và tiến hành thống kê lại các thông tin thu thập ñể từ ñó ñưa ra các phân tích trong luận án
- Bước 4: Đánh giá các dữ liệu thu thập
Đây là bước lựa chọn ra những giá trị cần thiết nhất cho quá trình nghiên cứu, loại bỏ những không tin không có giá trị ñã ñược thu thập ở bước 3
- Bước 5: Phân tích các dữ liệu ñã thu thập ñược:
Sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp các dữ liệu cần thiết; phương pháp phân tích ñể phân tích những dữ liệu ñã có và phương pháp ñánh giá ñể tổng kết rút ra những kết luận trong quá trình phân tích dữ liệu
* Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu sơ cấp:
Thực hiện phương pháp ñiều tra, khai thác số liệu, sử dụng bảng hỏi ñể lấy thông tin ở một số ñịa bàn khảo sát Với tư cách người tham gia ñề tài cấp nhà nước
KX02/13/11-15 “Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các nước Đông Nam
Nguyễn Duy Dũng làm chủ nhiệm, Nghiên cứu sinh ñã sử dụng một số kết quả khảo sát ñiều tra cho luận án
Trang 177
Bình Dương và các ñịa phương xung quanh những tỉnh thành này
ñối tượng ñiều tra , câu trả lời sẽ ñược xác ñịnh trên mỗi bảng hỏi theo phương pháp ñiều tra xã hội học và sau ñó ñược nhập liệu theo quy ñịnh thống kế học vào phần mềm thống kê
và những người ñã sử dụng các dịch vụ y tế tại các ñịa phương
Các số liệu sau khi thu thập ñược, xử lý qua phần mềm thống kê SPSS 16.0
5 Đóng góp mới và ý nghĩa của luận án
- Luận án làm rõ một số nội dung lý luận liên quan ñến phúc lợi và xây dựng khung lý thuyết về phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay nhằm chỉ ra vai trò và mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phân phối và phát triển con người
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hoạt ñộng phúc lợi y tế nhằm góp phần giải quyết tốt chủ trương ñảm bảo tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở ñầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường
Chương 2: Một số vấn ñề lý luận về phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường Chương 3: Thực trạng phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Chương 4: Quan ñiểm, ñịnh hướng, giải pháp về phát triển phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới
Trang 188
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHÚC LỢI Y TẾ TRONG
và thực tiễn Sau ñây luận án sẽ tổng quan các nội dung kết quả chính của các nghiên cứu mà Nghiên cứu sinh ñã tham khảo
1.1.1 Những nghiên cứu về nền kinh tế thị trường
Ở các khía cạnh khác nhau, nền kinh tế thị trường ñã ñược các nhà nghiên cứu kinh tế bàn luận ở những thời kỳ khác nhau của nền kinh tế thế giới Điển hình là các tác phầm của các nhà kinh ñiển Mác, Ănghen, Lê Nin…, các nhà kinh tế của các nước Trong Bộ “Tư Bản” của C.Mác, nền kinh tế thị trường ñược khắc hoạ là một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa với quan hệ mua bán là quan hệ cốt lõi của thị trường Từ việc phân tích về giá trị của lao ñộng và nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư từ lao ñộng, Mác
ñã làm rõ bản chất của tiền công, các hình thức phân phối, nguyên nhân của sự phân hoá….[26] Dù chưa thực sự ñề cập trực tiếp ñến phúc lợi xã hội và y tế như quan niệm hiện nay nhưng chính những ñiều này là nền tảng phát sinh các các mâu thuẫn của nền
kinh tế thị trường và hướng giải quyết Ở hai tác phẩm nổi tiếng “Tuyên ngôn ñảng
thuyết phục về một xã hội công bằng, hạnh phúc mà ở ñó ñảm bảo xã hội cho mỗi người dân ñược coi trọng Dĩ nhiên, ñiều ñó ñược thực hiện trên cơ sở một nền kinh tế phát triển và phân phối một cách hợp lý và công bằng Trong xã hội ñó, phúc lợi xã hội nói chung, chăm sóc sức khoẻ nói riêng ñược nhà nước và xã hội ñảm bảo Điều này càng trở nên quan trọng hơn trong nền kinh tế thị trường khi mà có nhiều chủ thể kinh tế tham gia hoạt ñộng.[27,28] Từ ñó, các nhà nghiên cứu ñã ñưa ra nhiều quan ñiểm, ñánh giá khác nhau về kinh tế thị trường cũng như mối quan hệ với các lĩnh vực khác, trong ñó có các vấn ñề xã hội, con người
Trang 199
Có thể nhận thấy ñiều ñó qua kết quả nghiên cứu nổi bật của các công trình ñã
công bố ở Việt Nam thời gian qua Đó là các cuốn sách: Kinh tế thị trường: thực chất
(1994), Các mô hình kinh tế thị trường trên thế giới, NXB Thống kê [63], TS Đinh Sơn Hùng (2002) Một số mô hình kinh tế thị trường và bài học kinh nghiệm rút ra,
Nội san Kinh tế tháng 6/2002, Viện Kinh tế TP HCM [52] Các nhà nghiên cứu ñều cho rằng: Khi nền kinh tế vận ñộng theo cơ chế thị trường thì gọi là nền kinh tế thị trường hoặc mô hình kinh tế thị trường, hay kinh tế thị trường Đến thời ñiểm ngày nay, dù kinh tế thị trường có những khuyết tật bản chất của nó, nhưng ñây vẫn là mô hình kinh tế ưu việt nhất Lịch sử phát triển kinh tế thị trường nhân loại, tới hôm nay,
ở góc ñộ tổng quát có thể phân thành hai mô hình: mô hình kinh tế thị trường ”cổ ñiển“ và mô hình kinh tế thị trường “hiện ñại”
Đặc trưng cơ bản của mô hình kinh tế thị trường “cổ ñiển“ là duy trì, và khuyến khích rộng rãi tự do cạnh tranh, tự do trao ñổi, tự do tiến hành các hoạt ñộng sản xuất kinh doanh trên cơ sở tín hiệu và sự ñiều tiết của thị trường Do vậy, hoạt ñộng của mọi chủ thể kinh tế, sự vận ñộng của giá cả ñều chịu tác ñộng trực tiếp của hệ thống quy luật kinh tế thị trường, mà A.Smit gọi là “Bàn tay vô hình“ Trong giai ñoạn vận ñộng, phát triển của kinh tế thị trường “cổ ñiển“, Nhà nước chỉ ñóng vai trò “giữ nhà“, nghĩa là Nhà nước can thiệp rất hạn chế và mang tính gián tiếp vào các hoạt ñộng kinh
tế Tiêu biểu của mô hình này là nền kinh tế Tây Âu từ thế kỷ XVI ñến gần cuối thế kỷ XIX Ưu ñiểm nổi bật của mô hình kinh tế thị trường “cổ ñiển“ là nền kinh tế phát triển năng ñộng, linh hoạt Nhưng sự tồn tại và vận ñộng của nền kinh tế theo mô hình này ñến một giai ñoạn nhất ñịnh, khi trình ñộ xã hội hóa của lực lượng sản xuất cao, thì những khuyết tật của thị trường bộc lộ một cách mạnh mẽ, mâu thuẫn nội tại trong phát triển ngày càng gay gắt, khủng hoảng kinh tế bột phát với sức tàn phá nặng nề Cuộc khủng hoảng 1929-1933 là một minh chứng khá rõ về những ñụng ñộ trên
David Begg, Stanley Fischer, Rudiger Dornbusch cho rằng khuyết tật và mâu thuẫn trong phát triển kinh tế thị trường “cổ ñiển” gồm 4 nội dung chính: tồn tại ñộc quyền gây ra chiếm dụng thặng dư tiêu dùng và mất không của xã hội; tồn tại ngoại ứng ñặc biệt là các ngoại ứng tiêu cực, tồn tại hàng hoá công cộng mà khu vực tư nhân không có ñộng lực cung cấp và ñôi khi giá cả do thị trường xác ñịnh không dành cho
Trang 2010
ñông ñảo người dân Điều này khiến cho một bộ phận dân cư không thể mua ñược hàng hoá và dịch vụ phục vụ cho nhu cầu sống Nếu những hàng hoá và dịch vụ ñó là hàng thiết yếu thì sẽ ảnh hưởng tới mức sống người dân nói chung của một nền kinh
tế Chính ñiều ñó ñã ñặt ra yêu cầu khách quan về sự can thiệp, ñiều tiết sâu, rộng hơn của Nhà nước vào nền kinh tế [105] Và mô hình kinh tế mới xuất hiện – mô hình kinh
tế thị trường hiện ñại, hay còn gọi là nền kinh tế “hỗn hợp” Đặc trưng cơ bản của kinh
tế thị trường hiện ñại là có “hai người” tham gia ñiều tiết nền kinh tế, ñó là thị trường ñiều tiết ở tầm vi mô, Nhà nước ñiều tiết ở tầm vĩ mô; có “hai người” thực hiện các hoạt ñộng ñầu tư là Nhà nước và tư nhân Khó khăn lớn nhất trong kinh tế thị trường hiện ñại là xác ñịnh giới hạn sự can thiệp, ñiều tiết giữa thị trường và Nhà nước với tính khoa học, khả thi trong những công cụ mà Nhà nước sử dụng ñể ñiều tiết kinh tế
Vì giới hạn sự can thiệp và ñiều tiết của Nhà nước cũng như của thị trường ở những giai ñoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế không phải là bất biến Một trong những can thiệp của Nhà nước ñể giải quyết khuyết tật của thị trường chính là hệ thống phúc lợi xã hội Nhà nước bằng hệ thống chính sách và sử dụng ngân sách làm thay ñổi giá
và sản lượng cung cấp trên thị trường Từ ñó ñạt ñược mục tiêu kinh tế - xã hội ñặt ra
và loại bỏ những hạn chế ñược xác ñịnh bằng quan hệ thị trường Kinh tế thị trường hiện ñại cũng hình thành nên nhiều mô hình kinh tế thị trường khác nhau Có thể ñiểm qua một số mô hình như sau:
* Mô hình kinh tế thị trường Bắc Âu:
Mô hình kinh tế thị trường Bắc Âu có thể phân thành hai “nhánh” Một nhánh là kinh tế thị trường “Xã hội phúc lợi” ở Thụy Điển từ những năm 30 của thế kỷ XX Mô hình này ñược xây dựng dựa trên lý thuyết “Ngôi nhà chung cho mọi người” với khẩu hiệu: ”bình ñẳng, ñảm bảo xã hội, hợp tác và sẵn sàng giúp ñỡ” Trong mô hình này, sự phát triển ñược thực hiện kết hợp hài hòa giữa mở rộng phúc lợi xã hội với kinh tế thị trường tư nhân, sự phân hóa giàu – nghèo dần dần ñược thu hẹp Tuy vậy, việc giữ mức phúc lợi xã hội cao cho mọi công dân dần dần trở thành gánh nặng cho nền kinh tế; Một
“nhánh“ khác của kinh tế thị trường Bắc Âu là nền “Kinh tế thương lượng” Thương lượng là công cụ ñể tìm kiếm các giải pháp trong phân bổ nguồn lực và trong phát triển; thương lượng giúp tìm ñược tiếng nói chung và ñồng thời là kỹ thuật thông qua các quyết ñịnh; xây dựng các mối quan hệ và ñược thỏa hiệp trong phát triển
Trang 2111
Trong nền “Kinh tế thương lượng“, liên tục có các cuộc ñấu tranh, các cuộc xung ñột ở nhiều góc ñộ khác nhau và chúng ñược giải quyết khi các bên liên quan tìm ñược tiếng nói chung Do ñó, thương lượng là ñấu tranh; thỏa hiệp và ñấu tranh luôn ñi liền với nhau Tất nhiên, trong nền “Kinh tế thương lượng“, thương lượng không phải
là công cụ duy nhất, mà chỉ là một trong các công cụ ñể thông qua quyết ñịnh; các công cụ truyền thống ñã và vẫn là những nguyên tắc của cơ chế thị trường Nghĩa là nền kinh tế vận hành với sự kết hợp giữa thương lượng và các công cụ của cơ chế thị truờng; các công cụ này bổ xung cho nhau, có thể cạnh tranh, cản trở và thậm chí lấn
át lẫn nhau [90]
* Mô hình kinh tế thị trường Nhật Bản:
Kinh tế thị trường Nhật Bản ñã phát triển qua nhiều giai ñoạn khác nhau và trở thành một trong những nền kinh tế thị trường hiện ñại mà nhiều người coi là mẫu mực cho các nước phát triển sau noi theo Nền kinh tế thị trường Nhật Bản với ñặc ñiểm:
- Thực hiện dân chủ hóa kinh tế gắn liền với dân chủ hóa chính trị và xã hội
- Thực hiện kinh tế thị trường có sự ñiều tiết của Nhà nước Thời kỳ ñầu tiên phát triển kinh tế thị trường, Chính phủ Nhật Bản can thiệp trực tiếp rộng rãi và khá sâu vào nền kinh tế, nhưng sự can thiệp ñó của Nhà nước càng về sau càng giảm dần
- Ngoài việc giải thoát về tư tưởng và ñảm bảo quyền tự do kinh doanh, phải không ngừng chú trọng phát triển giáo dục – ñào tạo
- Tăng cường và chủ ñộng mở rộng quan hệ kinh tế ñối ngoại
Tuy vậy, thời gian gần ñây người ta bắt ñầu ñặt vấn ñề về sự can dự quá nhiều của Chính phủ vào những lĩnh vực cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng vì tính hiệu quả giảm sút của sự can dự này [36]
* Kinh tế thị trường ở các quốc gia và vùng lãnh thổ NICS Châu Á:
Tuy có những nét riêng biệt, nhưng sự phát triển kinh tế thị trường các nước và vùng lãnh thổ NICS Châu Á có những ñặc ñiểm chung cơ bản giống nhau, ñó là:
- Vai trò của doanh nhân dưới sự ñiều tiết của “bàn tay thị trường“ ñược ñề cao trong phát triển kinh tế
- Xác ñịnh và thực thi vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường Chính phủ các quốc gia và vùng lãnh thổ NICS Châu Á hạn chế sự tham gia vào hoạt ñộng
Trang 2212
kinh doanh và chỉ ñại diện cho lợi ích quốc gia, luôn ñi ñầu trong những lĩnh vực khó khăn phức tạp Thực hiện phúc lợi xã hội cũng như khi trừng phạt một cách nhất quán, minh bạch trong khuôn khổ luật pháp quốc gia và công ước quốc tế
- Khuyến khích “hướng ngoại” mạnh mẽ
- Phát triển các hoạt ñộng nghiên cứu - ứng dụng - triển khai tiến bộ khoa học - công nghệ
- Đẩy mạnh sự hình thành và phát triển các loại thị trường, ñặc biệt là thị trường tài chính – tiền tệ và thị trường sức lao ñộng; gắn với củng cố, kiện toàn và hiện ñại hóa hệ thống tài chính, ngân hàng
Tóm lại, các quốc gia, vùng lãnh thổ NICS Châu Á, một mặt vừa rất tôn trọng những nguyên tắc, quy luật, thể chế thị trường; vừa xác ñịnh ñúng giới hạn về sự can thiệp vào kinh tế của Nhà nước và không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước
* Kinh tế thị trường ở Trung Quốc
Trung Quốc xây dựng mô hình kinh tế này trong quá trình cải cách, chuyển ñổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường với những bước ñi thận trọng, từ thực hiện thí ñiểm ñể rút kinh nghiệm, sau ñó mới mở rộng trong từng ngành
và toàn bộ nền kinh tế qua các giai ñoạn khác nhau Trong nền kinh tế này, sở hữu công cộng ñược lấy làm cơ sở tức là sở hữu công cộng ở những ngành, những lĩnh vực nào nhằm giữ vai trò chủ ñạo và thực hiện ña dạng hoá các hình thức sở hữu Chế ñộ phân phối không nhằm tập trung tài sản vào trong tay một số ít cá nhân như kinh tế thị trường Tư bản chủ nghĩa, mà nhằm ñem lại sự sung túc chung cho mọi tầng lớp dân
cư Chủ nghĩa xã hội lấy phân phối theo lao ñộng là chính, nhưng cũng chấp nhận các hình thức phân phối khác Chính phủ tách chức năng quản lý khỏi chức năng kinh doanh và không tham gia vào kinh doanh Giá cả ñược tự do hoá theo ñiều tiết thị trường và Nhà nước chỉ can thiệp khi xảy ra mâu thuẫn trong xã hội Thực hiện phát triển mạnh các thị trường và mở rộng quan hệ kinh tế ñối ngoại.[127]
Cùng với việc nghiên cứu các mô hình kinh tế thị trường, các ñiều kiện ñể thực hiện các mô hình kinh tế này, hầu hết các nhà nghiên cứu ñều cho rằng: ñiều kiện thực
Trang 2313
hiện kinh tế thị trường ở Việt Nam có phần giống Trung Quốc nhất và cho tới nay, con ñường xây dựng mô hình kinh tế thị trường ñịnh hướng XHCN là phù hợp nhất Những ñặc ñiểm, bản chất và tác ñộng chủ yếu của kinh tế thị trường ñịnh hướng XHCN ở Việt Nam ñã ñược các nhà nghiên cứu, các học giả Việt Nam bàn luận khá
sôi nổi Các công trình như: Phát triển kinh tế thị trường ñịnh hướng XHCN, NXB Hà
Nội của Đinh Văn Ân (2003) [2], Một số vấn ñề kinh tế thị trường ñịnh hướng XHCN
(2004) [29], 20 năm ñổi mới và sự hình thành cơ chế kinh tế thị trường ñổi mới XHCN,
NXB Lý luận chính trị, Hà Nội của Nguyễn Cúc (2005) [34], PGS.TS Phạm Văn
Dũng, Sách “Tính phổ biên và tính ñặc thù trong phát triển kinh tế thị trường”, NXB
Đại học Quốc gia, Hà Nội năm 2008 [38], hoặc sách “Định hướng XHCN trong phát
Dũng [39] ñã phân tích khá sâu sắc bản chất của kinh tế thị trường và những ñặc ñiểm chung và riêng biệt ở nước ta Không chỉ ñề cập những mặt tích cực mà cả mặt trái của thị trường cũng ñược mổ xẻ phân tích khá ñầy ñủ Các công trình cũng chỉ ra rằng: kinh tế thị trường sẽ tác ñộng mạnh mẽ ñến các lĩnh vực xã hội, trong ñó có hoạt ñộng bảo hiểm, trợ cấp và y tế Điều này không chỉ thể hiện ở mức ñộ ñầu tư, sự quan tâm của các chủ thể mà còn ở tổ chức hoạt ñộng cũng như các chính sách của nhà nước Trong bối cảnh Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng hơn vào kinh tế khu vực
và thế giới, sự tác ñộng mạnh mẽ của toàn cầu hoá chắc chắn hoạt ñộng ñảm bảo xã hội nói chung, phúc lợi y tế nói riêng sẽ có sự thay ñổi khá lớn
Tóm lại, phát triển kinh tế thị trường theo ñịnh hướng XHCN là mô hình chưa
có tiền lệ trong lịch sử cả về lý luận lẫn thực tiễn Vì vậy, vừa phải tiến hành trong thực tiễn, nhưng ñồng thời cũng phải không ngừng nghiên cứu ñể khái quát thành lý luận Và ñây là quá trình phát triển lâu dài, trải qua nhiều giai ñoạn; ñòi hỏi phải thực thi có hiệu quả cao ñồng bộ nhiều giải pháp, chính sách khác nhau một cách linh hoạt, uyển chuyển Nền kinh tế thị trường ñịnh hướng XHCN ñề cao vai trò chủ ñạo của Nhà nước trong quản lý kinh tế, giải quyết các mâu thuẫn và khắc phục những khiếm khuyết thị trường Những ñóng góp của các nghiên cứu mang lại giá trị lý luận lớn, ñồng thời gợi mở về mối quan hệ giữa các chính sách phúc lợi xã hội và sự phát triển
Trang 2414
của kinh tế thị trường Nhà nước xây dựng và thực thi các chính sách phúc lợi xã hội chính là cách thức ñể giải quyết các khiếm khuyết của thị trường và làm cho nền kinh
tế trở nên hiệu quả hơn
1.1.2 Những nghiên cứu về phúc lợi xã hội
Nghiên cứu phúc lợi xã hội nói chung là một chủ ñề khá hấp dẫn thu hút sự quan tâm của các học giả, nhất là ở nước ngoài Đặc biệt ở các nước Tây Âu khi mà họ ñang tìm cách xây dựng con ñường phát triển kinh tế thị trường xã hội mà ở ñó “nhà nước phúc lợi” ñược coi như là một mô hình mới với nhiều ưu việt nhằm giải quyết các khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh
Rất nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài ñã tìm hiểu về phúc lợi như Marshall
trong "Out-of-Pocket Spending in the Last Five Years of Life" Journal of General
Internal Medicine 28 (2), 2012 [123]; Martineau T, Martínez J (1997) trong “Human resources in the health sector: Guidelines for appraisal andstrategic development” [125] Hay của Bales S trong “Human resource financing issues”; Jenny Kakasuleff (2009) trong “Health Care Reform Series: The Japanese health care system” [117]
Ngay cả ILO (1944) cũng ñưa ra khái niệm về “phúc lợi xã hội” trong “Kỷ yếu Hội
phúc lợi.[53] Những khái niệm này có ñiểm chung và ñiểm riêng tùy theo hoàn cảnh lịch sử nghiên cứu
Các nhà nghiên cứu trong nước cũng góp phần vào hệ thống lý luận về phúc lợi
và phúc lợi xã hội Từ rất lâu trước, Đào Duy Anh (1951) ñã ñưa ra khái niệm về phúc
lợi trong “Hán Việt từ ñiển giản yếu” [1], Hồ Ngọc Đức (2011) lại bổ sung khái niệm
này trong từ ñiển trực tuyến wiktionary [43] Khái niệm về phúc lợi lại tiếp tục ñược ñưa
ra trong các cuốn từ ñiển như “Từ ñiển Tiếng Việt” do Hoàng Phê (chủ biên) (2000)
[59], “Từ ñiển bách khoa Việt Nam” do Hội ñồng Quốc gia chỉ ñạo biên soạn Từ ñiển bách khoa Việt Nam (2005) [49] Như vậy, hầu hết quan ñiểm về phúc lợi và phúc lợi xã hội ở Việt Nam ñược chuẩn hóa tại các quyển từ ñiển chứ không hoàn toàn do các nhà nghiên cứu tự ñưa ra trong các tác phẩm của mình Chỉ có DS Hoàng Trọng Quang (1999) có ñưa ra quan ñiểm riêng tại bài “Chiến lược phát triển sức khoẻ và hệ thống y
tế ở Việt Nam”, nằm trong cuốn “Y tế Việt Nam trong quá trình ñổi mới” [65]
Trang 2515
Từ sự hiểu biết về phúc lợi, các nhà kinh tế bắt ñầu nghiên cứu sâu hơn về
những phúc lợi trong nền kinh tế thị trường phát triển Các công trình như, Kinh tế thị
New York 1993 [101], The privatization of social policy, occupational Welfare and
bàn luận khá sâu sắc về các nội dung thị trường và xã hội [128]
Cho ñến nay, giới nghiên cứu vẫn tiếp tục nghiên cứu và tranh luận về các mô hình hệ thống phúc lợi trên thế giới Có nhiều lý thuyết khác nhau về phúc lợi trong nền kinh tế thị trường Cụ thể như sau:
Lý thuyết phúc lợi của Bismarck: Bismarck hướng tới việc xây dựng một nhà
nước phúc lợi và ông là người thiết lập những nền tảng ñầu tiên cho việc ñưa các pháp lệnh phúc lợi xã hội vào thực tiễn ñời sống Lập luận của ông cho rằng các quỹ phúc lợi ñược xây dựng do người lao ñộng và người sử dụng lao ñộng cùng quản trị; hai nhóm người này sẽ cùng xác ñịnh mức ñóng phí tính theo tỷ lệ so với mức lương; mức trợ cấp theo tỷ lệ ñóng góp [107] Lý thuyết này chỉ ra những phúc lợi mà người dân ñược
hưởng là thông qua hệ thống bảo hiểm xã hội
ñể cải cách hoàn cảnh xã hội Lý thuyết về phúc lợi của ông ñã ñược chấp nhận rộng rãi Ông cho rằng các tổ chức phúc lợi sẽ làm tăng tính cạnh tranh của ngành công nghiệp của Anh trong giai ñoạn sau chiến tranh, không chỉ bởi việc các doanh nghiệp giảm ñược chi phí sản xuất bằng cách chuyển chi phí lao ñộng như chăm sóc sức khỏe
và lương hưu vào tài khoản công cộng mà còn tạo ra nền sản xuất lành mạnh dựa trên lực lượng lao ñộng năng ñộng và hiệu quả hơn Thu nhập của nền kinh tế tăng lên làm người dân giàu có thì ngược lại sẽ tăng nhu cầu ñối với hàng hóa của Anh Chương trình phúc lợi xã hội mà Beveridge xây dựng bao gồm những biện pháp ñảm bảo việc làm ñầy ñủ (ñịnh nghĩa là tình trạng thất nghiệp không quá 3%) Tại ñó, việc cung cấp các dịch vụ việc làm trong xã hội là miễn phí, Chính phủ kiểm soát trực tiếp của nguồn nhân lực, và kiểm soát trạng thái của phương tiện sản xuất Động lực ñằng sau suy nghĩ Beveridge là công bằng xã hội Ông cho rằng các quỹ phúc lợi phải do nhà nước quản trị; nguồn tài trợ lấy từ thuế; mức trợ cấp ñồng ñều giống nhau [108] Lý thuyết này tập trung vào các phúc lợi xã hội
Trang 2616
chiều, Richard Titmus đã nhận diện ra ba quan niệm khác nhau về vai trị của chính sách xã hội, nối kết mỗi quan niệm với những nguyên tắc cung ứng và hưởng dụng các dịch vụ phúc lợi Theo ơng, trên thế giới, cĩ ba mơ hình như sau:
a) Mơ hình phúc lợi thặng dư (residual), trong đĩ vai trị chủ đạo thuộc về gia
đình và thị trường chứ khơng phải là sự tái phân phối của nhà nước, và quyền hưởng
phúc lợi phụ thuộc vào việc thẩm tra khả năng thu nhập (means-testing)
b) Mơ hình phúc lợi phổ quát (universalist) hay cũng cĩ thể gọi là mơ hình định
chế tái phân phối, trong đĩ nhà nước thay thế vào chỗ của gia đình và thị trường trong việc bảo đảm phúc lợi theo mục tiêu hướng đến sự bình đẳng
c) Mơ hình đĩng gĩp dựa trên mức thu nhập kiếm được (earnings-related
động (industrial achievement-performance); trong mơ hình này, cả thị trường lẫn nhà nước đều cùng cĩ mặt, nhưng người ta ưu tiên nhấn mạnh đến những đĩng gĩp kinh tế của các cá nhân [135]
rằng "những động cơ chính của chính sách xã hội hiện đại nằm trong quá trình trong đĩ
cả nhu cầu của con người lẫn sức lao động đều trở thành hàng hĩa, và vì thế, phúc lợi của chúng ta phụ thuộc vào mối quan hệ giữa chúng ta với hệ thống tiền tệ" Trong thời Trung cổ, khi mà chế độ sử dụng lao động chưa chuyển sang chế độ khế ước (hay hợp đồng, contract), thì chính gia đình, giáo hội hoặc vị lãnh chúa là những người quyết định khả năng sinh tồn của mỗi người Sự khuếch trương của Chủ nghĩa tư bản diễn ra
cùng với sự lụi tàn dần dần của phương thức bảo hộ xã hội 'tiền hàng hĩa hĩa'
là do người ta cĩ quyền được hưởng, và người ta cĩ thể duy trì cuộc sống của mình mà
giúp xã hội hay bảo hiểm xã hội thì điều này khơng nhất thiết dẫn đến một tình hình "phi hàng hĩa hĩa" thực thụ nếu chúng khơng thực sự giải phĩng các cá nhân ra khỏi sự phụ thuộc vào thị trường Khi người cơng nhân bị lệ thuộc hồn tồn vào thị trường, họ sẽ rất khĩ mà đồn kết với nhau và rất khĩ mà tập hợp lại được trong những phong trào
Trang 2717
hành ñộng tập thể Chỉ khi nào các quyền xã hội của họ ñược "phi hàng hóa hóa" thì lúc
ấy họ mới thực sự có sức mạnh, và ñồng thời, quyền lực tuyệt ñối của giới chủ lúc ấy mới yếu bớt ñi; chính vì thế mà giới nghiệp chủ thường không có thiện cảm và cũng không sẵn lòng tham gia vào các chương trình phúc lợi xã hội
và Joakim Palme cho rằng có ñến 5 mô hình về phúc lợi
thể hiện ở sự trợ cấp ñược thực hiện dựa trên sự thẩm tra thu nhập (means-tested), với
mức trợ cấp tối thiểu hoặc tương ñối ñồng ñều dành cho những người nằm dưới ngưỡng nghèo hoặc những người ñược coi là túng thiếu
nước trợ cấp Trong ñó tiền thuế ñược dùng ñể giúp các hiệp hội phúc lợi tương trợ và các tổ chức tự nguyện khác trong việc cung ứng bảo hiểm cho các thành viên của mình khi lâm vào hoàn cảnh mất khả năng thu nhập Vì loại phúc lợi này ñặt cơ sở trên sự ñóng góp tự nguyện của các thành viên, nên các chương trình phúc lợi này chủ yếu nhắm tới tầng lớp trung lưu và giới công nhân lành nghề hơn là giới công nhân không
có tay nghề và các tầng lớp nghèo Các chế ñộ phúc lợi tự nguyện này có thể bao gồm
cả loại phúc lợi có mức trợ cấp ñồng ñều (flat rate) (thể hiện bằng những ñường nằm
ñược (earnings-related) (ñường thẳng ñứng)
hiểm xã hội ñầu tiên ñược khởi xướng ở Đức bởi Bismarck vào thập niên 1880 không còn áp dụng cách thức thẩm tra thu nhập lẫn các loại phúc lợi tự nguyện, nhưng áp
dụng những chương trình phúc lợi cưỡng bách theo ñó các thành viên nằm trong
những loại ngành nghề nhất ñịnh sẽ ñược quyền hưởng những khoản phúc lợi khi mà nguồn thu nhập bình thường của họ bị gián ñoạn một cách bất khả kháng Hệ thống bảo hiểm xã hội này của Đức ñi theo mô hình phúc lợi "nghiệp hội" vốn xuất phát từ truyền thống tư tưởng Công giáo và tư tưởng bảo thủ của thế kỷ XIX Để ñược hưởng những loại phúc lợi này, người ta vừa phải ñóng phí, vừa phải thuộc về một thành phần nghề nghiệp nhất ñịnh Những chương trình bảo hiểm xã hội riêng biệt với những quyền lợi ñặc thù ñược tổ chức cho những loại nghề nghiệp hoặc những ngành sản
Trang 2818
xuất khác nhau, tạo nên sự phân khúc giữa các loại ngành nghề Lúc ñầu, hệ thống phúc lợi này ñược khởi sự nơi giai cấp công nhân công nghiệp, nhưng sau ñó dần dần ñược triển khai trong nhiều thập niên sau nơi các loại ngành nghề khác với những dạng bảo hiểm chuyên biệt Các khoản phúc lợi ñược cung ứng dựa trên mức thu nhập kiếm ñược (ñường thẳng ñứng), nhưng các quyền lợi và các quy tắc có thể hết sức khác biệt tùy theo từng loại ngành nghề khác nhau Nguồn tài chính ñược hình thành chủ yếu từ việc ñóng phí của giới chủ và giới thợ Do chỉ giới hạn vào bộ phận dân cư hoạt ñộng kinh tế (tức những người ñang lao ñộng), nên mô hình này ñi ñến chỗ loại ra ngoài những người nội trợ và những người nằm ngoài lực lượng lao ñộng Vì thường có quy ñịnh một mức trần thu nhập ñể ñược hưởng phúc lợi, nên những người có thu nhập cao thường tìm thêm những biện pháp phúc lợi khác từ khu vực bảo hiểm tư nhân
Thứ tư, mô hình an sinh cơ bản (basic security): trong mô hình này, quyền ñược
hưởng phúc lợi ñặt cơ sở trên sự ñóng phí hoặc trên tư cách công dân (nơi cư trú) Một trong những ý tưởng này là ñề ra những mức trợ cấp ñồng ñều hoặc có một mức trần thấp ñối với mức thu nhập, ñể chừa chỗ cho những người có thu nhập cao có thể tìm cách bảo vệ mức sống cao của họ thông qua những chương trình bảo hiểm tư nhân
"nguyên tắc cơ bản ñầu tiên của chế ñộ bảo hiểm xã hội này là cung ứng một mức trợ cấp bảo hiểm ñồng ñều, bất kể mức thu nhập ñã bị gián ñoạn là bao nhiêu Nguyên tắc này là hệ quả của sự nhìn nhận về vị trí của bảo hiểm tự nguyện trong hệ thống an sinh
xã hội " Một ý tưởng cơ bản khác là làm sao bao phủ ñược một cách rộng rãi hoặc toàn
bộ các tầng lớp dân cư có liên quan Tuy nhiên, nếu trong mô hình phúc lợi theo nghiệp hội, những người tham gia thuộc những ngành nghề khác nhau sẽ ñược hưởng những chế ñộ bảo hiểm khác nhau, thì trong mô hình an sinh cơ bản này, tất cả những người ñược bảo hiểm sẽ ñược hưởng chế ñộ giống nhau trong cùng một chương trình
quyền ñược hưởng phúc lợi dựa trên sự ñóng phí và tư cách công dân Do ñó, những chương trình phúc lợi phổ quát bao phủ mọi công dân và bảo ñảm an sinh cơ bản cho
họ ñược phối hợp với những chế ñộ trợ cấp tương ứng với mức thu nhập kiếm ñược dành cho bộ phận ñang hoạt ñộng kinh tế (ñang lao ñộng) trong dân cư Loại ñịnh chế phúc lợi này có khuynh hướng giảm bớt nhu cầu tìm ñến khu vực bảo hiểm tư nhân và
có khả năng bao quát mọi công dân trong cùng một chương trình
Trang 29về phúc lợi ñều giải quyết các vấn ñề về thu nhập, việc làm, y tế, sức khỏe, giáo dục
1.1.3 Các quan ñiểm về phúc lợi y tế
Trong chính sách phúc lợi xã hội của các quốc gia bao gồm rất nhiều những thành tố mà yếu tố phát triển con người và chăm sóc sức khoẻ người dân luôn ñược ñặt lên hàng ñầu Từ ñó hình thành quan ñiểm về phúc lợi y tế
Cho dù tới nay, chưa có những nghiên cứu rõ ràng, tổng quát về phúc lợi y tế ở các nước nhưng những nghiên cứu về các chính sách phúc lợi ñơn lẻ trong lĩnh vực y
tế thì vẫn luôn ñược quan tâm Mỗi quốc gia có một quan ñiểm riêng về sự can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực y tế dẫn ñến các chính sách phúc lợi cũng rất khác nhau
Meesen, B; B Bloom (2007) ñã khắc họa chính sách phúc lợi y tế của Trung
Quốc khá rõ nét trong bài nghiên cứu "Chuyển ñổi kinh tế, thay ñổi thể chế và hệ
nước Trung Quốc với quan ñiểm Nhà nước sẽ ñóng vai trò chủ ñạo trong ngành y tế với một loạt các chính sách hướng tới bao phủ chăm sóc sức khoẻ toàn dân.[127]
Nhật Bản là một quốc gia ñi ñầu trong việc dành lợi ích cho người dân trong lĩnh
vực y tế Rất nhiều nghiên cứu về vấn ñề này ñã ñược công bố như: “High-tech rural
Matsumoto, Masanobu Okayama, Kazuo Inoue, Eiji Kajii (2004) [124], “Health Care
hay "Health Care in Japan: Low-Cost, for Now Aging Population Could Strain System" của Harden, Blaine (2009) [113], , "How can we improve the quality of health care in
2003) [112] Nhà nước dành rất nhiều ngân sách và sự quan tâm ñể mọi người dân Nhật Bản có thể ñược hưởng chăm sóc sức khoẻ ở mức tốt nhất dù họ sống trong hoàn cảnh nào Những nghiên cứu này ñã mang lại giá trị thảm khảo rất lớn không chỉ cho hoạt ñộng quản lý vĩ mô tại nước Nhật Bản mà còn cho các nước khác trên thế giới ñể hoàn thiện các chính sách phúc lợi y tế của mình
Trang 3020
Trường hợp của Hoa Kỳ thì hoàn toàn ngược lại Các chính sách phúc lợi y tế ở
Mỹ thường ñược nghiên cứu trong sự so sánh như Ed Cooper và Liz Taylor (1994)
viết “Comparing Health Care Systems, What makes sense for the US” [106] Bởi ñây
là một quốc gia phát triển hàng ñầu thế giới nhưng quan niệm về phúc lợi xã hội nói chung và phúc lợi y tế lại rất khác biệt so với các nước phát triển khác Nghiên cứu về
họ cũng mở rộng những hiểu biết về các quan ñiểm phúc lợi, cách thức ñạt hiệu quả của các chính sách… Chính sách phúc lợi của Hoa Kỳ tập trung vào phát triển khoa học công nghệ chứ gần như không can thiệp nhiều vào giá cả thị trường
Ở Việt Nam, quan ñiểm về phúc lợi y tế của Đảng và Nhà nước ñã ñược xây dựng dựa trên quan ñiểm về phúc lợi xã hội và có sự biến ñổi qua các giai ñoạn khác nhau mặc dù chưa có một quan niệm chính thức về phúc lợi y tế
Việt Nam trải qua ba mô hình phúc lợi xã hội là: phúc lợi xã hội truyền thống, phúc lợi xã hội của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và phúc lợi xã hội của nền kinh tế thị trường có ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, chính sách phúc lợi y tế của Việt Nam cũng ñược xây dựng khác nhau
Quá trình biến ñổi chế ñộ phúc lợi xã hội và phúc lợi y tế qua ba giai ñoạn trên không dẫn ñến sự thay thế nhau hoàn toàn mà mang tính chất quá ñộ, giai ñoạn trước ñược bảo lưu nhiều ñặc ñiểm ở giai ñoạn sau; dẫn ñến sư kết hợp pha trộn của cả ba giai ñoạn trong thời ñiểm hiện tại Sự biến ñổi này trên cơ sở ñiều kiện lịch sử ñặc thù của nền kinh tế Việt Nam Như vậy, hệ thống phúc lợi y tế hiện nay ở Việt Nam ñược xây dựng trên quan ñiểm Nhà nước ñóng vai trò chủ ñạo ñồng thời thu hút và phát huy sự tham gia của các thành phần xã hội, thừa nhận và nâng cao vai trò của tư nhân, cá nhân gia ñình ñể cùng thực hiện
Từ ñó, sự nghiệp y tế toàn dân vẫn phải ñược thực hiện thông qua chế ñộ phúc lợi
y tế trong ñiều kiện nền kinh tế thị trường ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa Các quan ñiểm ñược thể hiện cụ thể như sau:
quý của mỗi con người và toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ tổ quốc; vì vậy, chúng ta cần phấn ñấu ñể mọi người ñều ñược quan tâm, chăm sóc sức khỏe” Trong quá trình cải cách kinh tế, sự phân hóa giàu nghèo là
Trang 31quan điểm dự phịng, tích cực và chủ động, đẩy mạnh phong trào vệ sinh phịng bệnh, rèn luyện thân thể đi đơi với hiệu quả điều trị Quan điểm này thể hiện sự coi trọng y tế cơng cộng, các giải pháp cộng đồng và chú trọng tới các dịch vụ y tế dự phịng Đây là những thành phần rất quan trọng của phúc lợi y tế Muốn đẩy mạnh những hoạt động này hiệu quả thì Chính phủ phải can thiệp bằng những chính sách cụ thể chứ rất khĩ trơng chờ vào tư nhân thực hiện
người dân, là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng và chính quyền, các đồn thể nhân dân
và các tổ chức xã hội trong đĩ ngành y tế giữ vai trị nịng cốt Quan điểm đĩ đã nhấn mạnh ngành y tế thuộc về trách nhiệm của chính phủ Việc phát triển ngành Y tế dựa rất nhiều vào các chính sách phúc lợi của Chính phủ dành cho người dân
các hình thức chăm sĩc sức khỏe trong đĩ y tế Nhà nước giữ vai trị chủ đạo, tận dụng mọi tiềm năng cĩ sẵn trong nước và mở rộng hợp tác quốc tế
Ở Việt Nam đã cĩ khá nhiều cơng trình bàn về vấn đề thay đổi xã hội trong nền
kinh tế thị trường trong đĩ cĩ chăm sĩc sức khoẻ Đáng chú ý là cuốn: Thay đổi văn
hố xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở một số nước Châu á,
do Tác giả Dương Phú Hiệp và Nguyễn Duy Dũng chủ biên, NXB KHXH Hà Nội năm
1998 [47] Cuốn: Đổi mới chính sách xã hội luận cứ và giải pháp (GS Phạm Xuân Nam chủ biên-Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 1997) [57], Tăng trưởng kinh tế và
Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1998 [56] Trên cơ sở phân tích thực trạng của các
Trang 3222
vấn ñề xã hội dưới tác ñộng của kinh tế thị trường các công trình trên không chỉ làm rõ những tác ñộng cả ở khía cạnh tích cực, tiêu cực mà còn khẳng ñịnh sự cần thiết phải ñảm bảo công tác xã hội, trong ñó có phúc lợi y tế
Ngoài những công trình bàn luận những vấn ñề chung về ñảm bảo xã hội và y
tế, nhiều công trình trực tiếp phân tích các nội dung phúc lợi y tế Đáng chú ý là cuốn:
Chính sách và biện pháp giải quyết phúc lợi xã hội ở Nhật Bản, do tác giả Nguyễn
NXB.KHXH, Hà Nội-2002 [58], Kinh nghiệm giải quyết những vấn ñề xã hội bức xúc
2007 [37]… Các công trình này ñã làm rõ các khái niệm phúc lợi, ñề cập tới vấn ñề phúc lợi y tế và phân tích khá sâu sắc các chính sách và kinh nghiệm của Nhật Bản, Việt Nam trong việc giải quyết các vấn ñề an sinh xã hội, trong ñó có y tế
Nghiên cứu thực tiễn ở Việt Nam về chính sách ñảm bảo xã hội và y tế là chủ ñề ñược nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bàn luận Các Báo cáo thống kê hàng năm ñã chỉ rõ sự thay ñổi này cả ở số lượng và chất lượng của công tác y tế, trong ñó tiếp tục khẳng ñịnh vai trò của nhà nước trong lĩnh vực này Điều này ñã ñược ñề cập trong khá nhiều khảo sát của Việt Nam và các tổ chức quốc tế về hoạt ñộng kinh tế và y
tế của nước ta Đó là các Báo cáo phát triển con người của UNDP, Một số vấn ñề kinh
Nam) [91], Hướng ñến tầm cao mới (báo cáo phát triển Việt nam 2007 tại Hội nghị
nhóm tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam) [92]
1.2 Những gợi mở cho nghiên cứu về phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Những nghiên cứu về kinh tế thị trường và mô hình kinh tế thị trường của các nước, một mặt vừa cho chúng ta thấy tiến trình vận ñộng, phát triển của kinh tế thị trường nhân loại; mặt khác, qua những mô hình kinh tế thị trường khác nhau ñó, có thể thấy: sự phát triển kinh tế thị trường theo ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với ñiều kiện cụ thể của Việt Nam và cũng là lựa chọn hiện nay cho sự phát triển kinh tế ñất
Trang 3323
nước Tuy nhiên, các nghiên cứu lại chưa ñề cập rõ ràng ñến mối quan hệ giữa kinh tế thị trường ñịnh hướng XHCN với các chính sách phúc lợi xã hội và các hình thức phúc lợi cụ thể Điều này gợi mở một hướng nghiên cứu về các chính sách phúc lợi ñặc thù thuộc phúc lợi xã hội ñược thực hiện bởi Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ñịnh hướng XHCN Như vậy, việc xây dựng và thực thi các chính sách phúc lợi xã hội là cần thiết và khách quan ở nền kinh tế Việt Nam hiện nay xuất phát từ việc lựa chọn theo ñuổi mô hình kinh tế thị trường ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa Vì thế, vấn ñề ñặt ra
là khi nghiên cứu về phúc lợi xã hội ở Việt Nam thì cần xem xét tính chất ñặc thù của nền kinh tế này
Đối với phúc lợi y tế, mặc dù các nghiên cứu trong và ngoài nước cũng ñã ñề cập tới vì ñây là một vấn ñề cấp bách của mọi nền kinh tế Tuy nhiên, cho ñến nay, khó có thể tìm thấy ñược những nghiên cứu trực tiếp về vấn ñề này nhất là chính sách phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường ñịnh hướng XHCN Để ñạt ñược mục tiêu phát triển kinh tế, chính phủ phải quan tâm ñến việc xây dựng chính sách bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân chứ không phải là một ngành y tế tồn tại theo quy luật thị trường Với quan ñiểm này, mặc dù ngân sách nhà nước còn hạn chế nhưng việc ñảm bảo công bằng xã hội và nâng cao mức sống người dân là một tất yếu khách quan Hầu như các nghiên cứu chỉ quan tâm tới hoạt ñộng y tế nói chung hoặc xem xét một vài chính sách về y tế nhưng vấn ñề về hệ thống phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường ñịnh hướng XHCN lại gần như chưa ñược tiếp cận
Xét một cách tổng quát các tác phẩm ñã tập trung làm sáng tỏ những vấn ñề lý luận của phúc lợi xã hội, khẳng ñịnh vai trò quan trọng của phúc lợi xã hội trong chính sách xã hội của các quốc gia Nhưng những chính sách ñối với y tế cũng chưa ñược xem xét dưới góc ñộ kinh tế chính trị Do vậy, việc bổ sung nghiên cứu những nội dung này là vô cùng cần thiết cả về lý luận và thực tiễn hiện nay ở Việt Nam
Như vậy, việc nghiên cứu xây dựng lý thuyết về phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường ñịnh hướng XHCN ở Việt Nam sẽ bổ sung vào khoảng trống của hệ thống nghiên cứu về phúc lợi y tế nói riêng, phúc lợi xã hội và nền kinh tế thị trường nói chung Từ ñó, ñưa ra những quan ñiểm rõ ràng hơn về phúc lợi y tế và hoạt ñộng y tế trong nền kinh tế thị trường
Trang 3424
1.3 Kết luận chương 1
Chương 1 ñã phân tích và tổng kết những nghiên cứu trong và ngoài nước về phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường ở cả hai khía cạnh lý thuyết và thực tiễn Có thể kết luận về những vấn ñề ñã ñược nghiên cứu và thống nhất như sau:
Thứ nhất, vấn ñề về phúc lợi ñã ñược quan tâm rất nhiều, ñặc biệt trong các nền kinh tế thị trường Khái niệm về phúc lợi xã hội cũng như các lý thuyết chung về phúc lợi ñã ñược hình thành vấn ñề phúc lợi cũng ñược chia thành những lĩnh vực nhỏ và tìm ra nguồn gốc, cách thức thực hiện các chính sách phúc lợi hiệu quả Đây là cơ sở quan trọng ñể luận án tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu hơn về vấn ñề này
Thứ hai, Việt Nam là nước có hơn hai thập niên xây dựng nền kinh tế thị trường ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa Với ñặc thù nền kinh tế dựa vào thị trường ñể giải quyết các mối quan hệ kinh tế nhưng vẫn sử dụng các chính sách và công cụ phúc lợi xã hộiñể khắc phục những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường, Chính phủ Việt Nam ñặc biệt quan tâm tới các vấn ñề ñảm bảo và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân
dù cho nền kinh tế ñang ở mức ñộ nào
Tuy nhiên, có thể thấy còn rất nhiều vấn ñề chưa ñược làm sáng tỏ Điều ñó ñặt
ra yêu cầu, cần phải có những nghiên cứu kỹ càng hơn về vấn ñề này Cụ thể như sau:
Thứ nhất, cho ñến nay, vẫn chưa có một ñịnh nghĩa chính thức về phúc lợi y tế Thứ hai, chưa có hệ thống khung lý thuyết cho việc nghiên cứu về phúc lợi y tế như ñịnh nghĩa, vai trò, các nhân tố ảnh hưởng tới phúc lợi y tế, các nội dung chính sách phúc lợi y tế và các chỉ tiêu ñánh giá về thực hiện phúc lợi y tế…
Thứ ba, những nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu từng chính sách cụ thể ở các lĩnh vực y tế khác nhau Điều này dẫn ñến sự thiếu ñồng bộ của hệ thống chính sách Các chính sách lợi ích ñược ñưa ra có sự chồng chéo, chưa kết hợp một cách hiệu quả
Như vậy, từ các “khoảng trống” nghiên cứu, tác giả có thể xác ñịnh ñược hướng nghiên cứu ñể bổ sung những thiếu sót vẫn còn tồn tại hiện nay
Từ việc tổng quan các kết quả nghiên cứu và những nội dung còn ñang tranh luận, trao ñổi trên, tác giả muốn ñi sâu bàn luận phúc lợi y tế Việt Nam hiện nay nhằm góp phần xây dựng các luận cứ lý luận và thực tiễn ñể ñề xuât các giải pháp ñối với
việc phát triển lĩnh vực y tế nước nhà
Trang 3525
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÚC LỢI Y TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
2.1 Phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường
2.1.1 Những quan ñiểm cơ bản
2.1.1.1 Kinh tế thị trường
Từ tổng quan nghiên cứu ở trên, có thể thấy nền kinh tế thị trường là nền kinh tế
mà trong ñó, người mua và người bán tương tác với nhau theo quy luật cung – cầu, giá trị ñể xác ñịnh giá cả và sản lượng hàng hóa hay dịch vụ trên thị trường Theo cách hiểu như vậy, hoạt ñộng duy nhất của nền kinh tế thị trường là hoạt ñộng mua – bán Với khái niệm ñó, nền kinh tế thị trường ñã tạo ra sự phát triển vượt bậc cho loài người bởi nó tạo ra sự cạnh tranh và những ñộng lực thúc ñẩy sản xuất – kinh doanh Sự phân phối trong nền kinh tế thị trường dựa trên lợi ích
Tuy nhiên, xét về bản chất, bên trong nền kinh tế thị trường chứa ñựng nhiều mâu thuẫn và trên thực tế, bản thân nó vẫn thể hiện ra với nhiều khuyết tật, rủi ro Một trong những khiếm khuyết xuất phát từ quan hệ cung cầu, giá cả và sự phân phối gây
ra những khoảng cách, chênh lệch về thu nhập, mức sống của người dân Những biến ñộng của kinh tế - xã hội ñòi hỏi con người sống trong ñó phải có những thay ñổi thích nghi nhưng không phải ai cũng có khả năng ñó Hơn nữa, thực tế ñã có một bộ phận không nhỏ người dân phải chịu những thua thiệt như thiếu hoặc không có khả năng lao ñộng, gặp phải những hoàn cảnh ñặc biệt Họ sẽ gần như không thể tiếp tục sống bình thường trước những biến ñộng và rủi ro, nhất là trong mối quan hệ mua bán mà kinh tế thị trường phải tuân thủ Trong kinh tế thị trường thuần nhất, con người chỉ ñủ ñầy (ñáp ứng ñầy ñủ nhu cầu cá nhân khi có thu nhập hay có nhiều tiền) bằng việc mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường theo giá cả xác ñịnh dựa trên quan hệ cung cầu Vậy
là, những người có hoàn cảnh ñặc biệt cũng sẽ không có khả năng tham gia vào kinh tế thị trường Từ ñó, vấn ñề của nền kinh tế trở thành vấn ñề của xã hội Nếu các mâu thuẫn không ñược giải quyết thì dẫn ñến những phá vỡ của toàn bộ hệ thống Điều ñó
có nghĩa là cần phải có một nhân tố giải quyết mâu thuẫn, khắc phục những khiếm khuyết thị trường Doanh nghiệp và hộ gia ñình có những mâu thuẫn về lợi ích dẫn ñến những chênh lệch trong phân phối thu nhập nhưng họ lại không thể tự mình giải quyết
Trang 3626
mâu thuẫn của các mối quan hệ trong thị trường Chỉ có Nhà nước với ñầy ñủ quyền lực ñiều hành nền kinh tế vĩ mô mới có thể hạn chế các khiếm khuyết thị trường Sự chênh lệch về phân phối và ñiều kiện sống người dân ñược hầu hết các Chính phủ giải quyết thông qua hệ thống phúc lợi xã hội Ở ñây phúc lợi xã hội ñược coi như một “cái lưới an toàn” ñể giảm bớt mất mát, thiệt thòi của cá nhân.[40]
2.1.1.2 Phúc lợi xã hội trong nền kinh tế thị trường
Trên thế giới, “phúc lợi” ñược nhiều học giả quan tâm và ñưa ra ñịnh nghĩa
Nhà xã hội học Anh Gordon Marshall cho rằng “phúc lợi (welfare)” là "tình trạng
hoặc ñiều kiện làm ăn khấm khá (doing well) hoặc sinh sống ñàng hoàng, hạnh phúc
(being well)".[122;tr701-70] Ông cho rằng “phúc lợi” ñược ñề cập chủ yếu trong các
chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, liên quan ñến những biện pháp ñể bảo vệ trạng thái lợi ích của một cá nhân hay tập thể nào ñó "Các chính sách phúc lợi là những chính sách ñược thiết lập nhằm ñáp ứng những nhu cầu của cá nhân hay của nhóm" Theo Marshall, các nhu cầu trong chính sách phúc lợi bao gồm nhu cầu tối thiểu ñể
sinh tồn và cả những nhu cầu cần thiết cho một "cuộc sống tử tế và xứng ñáng" Điều
ñó có nghĩa phúc lợi phải bao gồm những ñiều kiện ăn, mặc, ở, y tế, việc làm…
Theo từ ñiển mã nguồn mở wikipedia, phúc lợi là việc cung cấp một mức ñộ tối thiểu của hạnh phúc và hỗ trợ xã hội cho tất cả công dân, ñôi khi ñược gọi là viện trợ công cộng “Phúc lợi” trong ñịnh nghĩa này khá gần với ñịnh nghĩa mà Marshall ñưa
ra khi nó ñược gắn với các chính sách của chính phủ Phúc lợi ñược coi là khoản viện trợ do chính phủ thực hiện nhằm cải thiện cuộc sống người dân
Bởi “phúc lợi” là những lợi ích ñược sử dụng trong các chính sách nên nói ñến
“phúc lợi” trong nền kinh tế thị trường là nói ñến hệ thống các biện pháp ñể giải quyết các khó khăn về kinh tế hoặc ñiều kiện sống của con người Ở tầm vĩ mô, phúc lợi là các chính sách ñể giải quyết những vấn ñề của xã hội như xóa ñói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống, chăm sóc sức khỏe, y tế, phát triển giáo dục ñào tạo… Ở tầm vi
mô, phúc lợi là các chính sách của một tổ chức ñể giải quyết các vấn ñề của một nhóm người thuộc tổ chức ñó
“Phúc lợi xã hội” ñược giới khoa học xã hội quan tâm nghiên cứu khá nhiều kể
từ sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhất là trong các ngành xã hội học, kinh tế học và chính trị học Cho ñến nay, người ta ñã ñưa ra nhiều ñịnh nghĩa khác nhau và
Trang 3727
cũng khó thống nhất với nhau về cách hiểu thế nào là phúc lợi xã hội Dưới ñây là một
số ñịnh nghĩa về khái niệm này trên thế giới
Tổ chức Lao ñộng Quốc tế (ILO) cho rằng phúc lợi xã hội là những chương trình, chính sách “nhằm cung ứng một mức thu nhập căn bản cho tất cả những người
có nhu cầu cần ñược bảo hộ và cần ñược hưởng sự chăm sóc y tế toàn diện" [53] Theo
ñó, ñịnh nghĩa của ILO về phúc lợi xã hội tập trung chủ yếu vào việc khuyến nghị các chính phủ quan tâm trợ cấp cho những người dễ bị tổn thương trong nền kinh tế ñể ñảm bảo cuộc sống và sức khỏe người dân Cụ thể hóa ñịnh nghĩa này, trong Công ước
gồm: chăm sóc y tế, trợ cấp bệnh tật, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp hưu trí, trợ cấp tai
nạn nghề nghiệp, trợ cấp gia cảnh, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, và trợ cấp cho
Còn Hiệp hội An sinh Xã hội Quốc tế (ISSA) thì ñưa ra một ñịnh nghĩa tương ñối hạn hẹp hơn về phúc lợi xã hội, và quan niệm rằng ñây không chỉ là phần việc của Nhà nước Phúc lợi xã hội là "những chương trình bảo hộ xã hội do nhà nước thiết lập, hoặc những tổ chức ñược ủy nhiệm khác, (có chức năng) cung ứng cho các cá nhân một mức ñộ an toàn về thu nhập khi họ phải ñối diện với những hoàn cảnh bất trắc do tuổi già, do lợi quyền thượng tồn [126], do mất khả năng, do tàn tật, thất nghiệp hoặc
do phải nuôi dạy con cái Nó cũng có thể cung ứng quyền ñược hưởng sự chăm sóc y
tế - chữa trị hay phòng ngừa bệnh tật" (xem ISSA) Theo tổ chức ISSA, phúc lợi xã hội bao gồm: các chương trình bảo hiểm xã hội, các chương trình trợ giúp xã hội, các
chương trình phổ quát (universal programmes), các chương trình tương trợ (mutual
chương trình khác trong ñó kể cả những chương trình mang tính thương mại
Beulah Compton (1980) ñịnh nghĩa phúc lợi xã hội là một thiết chế bao gồm các chính sách và luật lệ, ñược thực thi bởi nhà nước hay bởi các tổ chức tự nguyện, thông qua ñó một mức ñộ tối thiểu nhất ñịnh về các dịch vụ xã hội thiết yếu (như y tế, giáo dục, nhà ở…) ñược phân phối cho các cá nhân, gia ñình, nhóm xã hội (những dịch vụ
mà gia ñình hay thị trường không ñáp ứng ñược cho họ) nhằm mục ñích phòng ngừa, giảm nhẹ hoặc ñóng góp vào việc giải quyết các vấn ñề xã hội và cải thiện sự an sinh của cá nhân, nhóm và cộng ñồng một cách trực tiếp [103]
Trang 3828
Hai nhà kinh tế học Jean Dreze và Amartya Sen (1991) đã chỉ ra bản chất của
khái niệm phúc lợi xã hội “là sử dụng những kế sách xã hội để ngăn ngừa sự thiếu
rằng sự cung ứng hệ thống phúc lợi xã hội trong những quốc gia đang phát triển cần được quan niệm theo một nhãn giới rộng rãi hơn, và cần xem đây "chủ yếu như một
mục tiêu cần theo đuổi thơng qua các biện pháp cơng hơn là như một nhĩm chiến lược
Vấn đề về phúc lợi cũng đã được đặt ra khá sớm ở Việt Nam Thuật ngữ này xuất
hiện từ năm 1932 trong cuốn Hán Việt từ điển giản yếu của Đào Duy Anh, với một
định nghĩa ngắn gọn: phúc lợi là "hạnh phúc và lợi ích” [1;tr137] Tuy nhiên, định nghĩa này khá trừu tượng và chung chung Cách giải thích thực chất chỉ là diễn giải sự ghép nối của từ chứ chưa đề cập tới việc làm cho người đọc hiểu được ý nghĩa rõ ràng của từ vựng
Năm 2000, Hồng Phê đã đưa ra định nghĩa về “phúc lợi” trong cuốn từ điển Tiếng Việt là “lợi ích mà mọi người được hưởng khơng phải trả tiền hoặc chỉ phải trả
một phần Thí dụ: Nâng cao phúc lợi của nhân dân Các cơng trình phúc lợi (như nhà trẻ, lớp mẫu giáo, v.v.) Quỹ phúc lợi của xí nghiệp" [59;tr790] Với định nghĩa này,
“phúc lợi” được coi là một loại lợi ích dành cho người dân bắt nguồn từ việc người hưởng khơng phải mất chi phí hoặc mất rất ít chi phí so với kết quả mà họ nhận được Xét về lịch sử, định nghĩa giải thích cách hiểu về từ “phúc lợi” trong hồn cảnh nền kinh tế Việt Nam được quản lý theo cơ chế kế hoạch hĩa tập trung khi mà người ta thường hiểu "phúc lợi" là phần thù lao bằng tiền hoặc hiện vật mà người lao động nhận được từ cơ quan hay xí nghiệp, ngồi phần tiền lương, tiền phụ cấp và tiền thưởng, nhằm được hỗ trợ thêm về mặt đời sống Tuy nhiên, định nghĩa chưa đề cập tới nội hàm của từ “phúc lợi” và cũng khơng phù hợp với cơ chế thị trường nơi mà hoạt động mua - bán là mối quan hệ tồn tại duy nhất trên cơ sở trao đổi ngang giá
Hồ Ngọc Đức đưa ra một khái niệm khác về “phúc lợi” trong từ điển mã nguồn
mở Wiktionary của Việt Nam là “quyền lợi về vật chất mà Nhà nước hay đồn thể bảo đảm cho cơng nhân và viên chức được hưởng”[43] Định nghĩa này cho rằng phúc lợi được thực hiện bởi một tổ chức để mang lại quyền lợi cho mọi người
Ở Việt Nam, thuật ngữ “phúc lợi xã hội” được hiểu một cách chung nhất là một
hệ thống các chính sách, các chương trình và các dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu
Trang 3929
cầu thiết yếu của xã hội hoặc các nhóm xã hội khác nhau về ñời sống, kinh tế, văn hoá, tinh thần, giáo dục và chăm sóc sức khoẻ… Trong ñó, các chính sách và giải pháp phúc lợi xã hội tập trung vào nhóm người yếu thế, nhóm người thiệt thòi trong xã hội nhiều hơn nhằm hướng tới sự công bằng xã hội
Theo từ ñiển Bách khoa Việt nam, phúc lợi xã hội là một bộ phận thu nhập quốc dân ñược sử dụng nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội, chủ yếu ñược phân phối ngoài thu nhập theo lao ñộng, phân phối lại [49] Phúc lợi xã hội bao gồm những chi phí xã hội: trả tiền hưu trí, các loại trợ cấp bảo hiểm xã hội, học bổng cho học sinh, những chi phí cho học tập không mất tiền, những dịch vụ y tế, nghỉ ngơi, an dưỡng, nhà trẻ, mẫu giáo, vv
Tổng quát lại, có thể thấy, có rất nhiều quan niệm về phúc lợi xã hội nhưng tồn tại 3 nhóm tư tưởng sau:
nhà nước ñưa lại Phúc lợi xã hội gắn với những lợi ích công cộng mà thông qua ñó, người dân ñược hưởng thụ không phải trả tiền Quan niệm này ñược Việt Nam và hầu hết các nước XHCN trước ñây ñề cập Quan niệm này cho rằng, phần mà nhà nước cung cấp cho người dân càng nhiều và càng không mất tiền thì càng thể hiện tính ưu việt cao của xã hội Phúc lợi là thước ño của sự tiến bộ, công bằng, văn minh Tuy nhiên, với thực tế của nền kinh tế các nước này thì hình thức và quy mô của phúc lợi
xã hội ñặt ra vượt quá khả năng cho phép dẫn ñến những mâu thuẫn trong kinh tế - xã hội, hệ thống phúc lợi bị phá vỡ hoặc duy trì một cách méo mó
hội là cách thức giải quyết vấn ñề xã hội ñể tạo ñộng lực tăng trưởng kinh tế Phúc lợi
xã hội là biện pháp tổng hợp toàn diện ñể giải quyết nhu cầu cá nhân và xã hội hiện tại
ñể cải thiện mối quan hệ xã hội, ñược tiến hành ở mọi trình ñộ, cấp ñộ xã hội Phúc lợi
xã hội ngoài việc ñóng góp bảo ñảm sức khỏe giáo dục còn nhằm cải thiện và nâng cao ñời sống, công việc cho mọi người
phúc lợi xã hội một cách cụ thể Kinh tế thị trường gây ra những biến ñộng kinh tế - xã hội ñòi hỏi con người phải có sự thích nghi nhưng không phải ai cũng làm ñược Ban ñầu, chính sách phúc lợi xã hội chính là các biện pháp nhằm giúp những người không
ñủ khả năng có thể có ñược cuộc sống bình thường như những người khác Đó là
Trang 4030
những người già, trẻ em, người tàn tật, thần kinh, ốm ñau, bệnh tật, người có thu nhập thấp hay nói chung là những người có hoàn cảnh ñặc biệt Sau này, chính sách phúc lợi xã hội là những hoạt ñộng của nhà nước xuất phát từ sự công bằng và tạo mọi ñiều kiện ñảm bảo cuộc sống tốt nhất cho con người Tuy nhiên, khi thực hiện chính sách phúc lợi, Nhà nước cố gắng giảm bớt trách nhiệm của mình và ñề cao sức mạnh trợ giúp và chia sẻ của cộng ñồng [36]
Theo các nhà nghiên cứu, mô hình “nhà nước phúc lợi” ra ñời sẽ khắc phục ñược cả những khiếm khuyết của CNTB và CNXH Các hình thức phúc lợi khá phong phú, trong ñó có phúc lợi y tế ñã ñược áp dụng và thể hiện vai trò quan trọng trong phát triển xã hội và con người Điều quan trọng mà các tác giả ñã phân tích khá sâu sắc
là trong “nhà nước phúc lợi” không chỉ ñảm bảo tính công bằng bình ñẳng mà còn cần thiết phải có sự hỗ trợ mạnh mẽ của nhà nước Dĩ nhiên, bên cạnh những mặt tích cực hiện cũng ñang tồn tại nhiều vấn ñề cần phải xem xét lại, nhất là hạn chế những tác ñộng tiêu cực ñã và ñang nảy sinh
Bản chất của phúc lợi xã hội là thể hiện tính nhân văn, nhân ñạo, nâng cao mức sống tối thiểu của mọi người dân trong một nền kinh tế Dần dần, sự phát triển của phúc lợi xã hội ñược coi là một thước ño của sự tiến bộ và văn minh của xã hội, ñược hầu hết các Nhà nước quan tâm kể cả ở các nước phát triển hay ñang phát triển Bởi dù
ở nước nào thì nền kinh tế thị trường vẫn có những vấn ñề, ñòi hỏi có sự nỗ lực giải quyết của chính phủ và cộng ñồng Từ ñó, quan niệm về phúc lợi xã hội ñược mở rộng hơn là những “dịch vụ xã hội” ñược thực hiện bởi Chính phủ bằng ngân sách Nhà nước với mục tiêu không chỉ quan tâm ñến những người không có cơ may mà cả các
cá nhân bình thường nhằm nâng cao mặt bằng sống tối thiểu của người dân
Như vậy, phúc lợi xã hội là một biện pháp cần thiết ñể giải quyết nhiều vấn ñề của kinh tế thị trường và thúc ñẩy tăng trưởng bền vững Theo ñó, ñối tượng của phúc lợi xã hội trước hết là những người có hoàn cảnh ñặc biệt trong xã hội, sau ñó là ñảm bảo mức sống tối thiểu và an toàn cho mọi người dân Rõ ràng, sự ra ñời, tồn tại và phát triển của phúc lợi xã hội có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với chế ñộ, thể chế, các cơ chế chính sách chung và với nhiều lĩnh vực khác, trước hết ñó là cơ chế kinh tế
Phúc lợi xã hội ñược coi là hình thức phúc lợi cao nhất, cần thiết và bền vững nhất Đây là hình thức phân phối lại do Nhà nước thực hiện bằng nguồn ngân sách