Giao kết hợp đồng thương mại điện tử đòi hỏi các chủ thể phait am hiểu về pháp luật, những quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử có những điểm khác biệt so với giao kết theo kiểu truyền thống. Để hiểu rõ hơn về sự khác biệt, nhìn nhận những điểm mới, tiến bộ của hợp đồng thương mại điện tử cũng như những bất cập về việc áp dụng luật trong thời gian qua
Trang 1TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
BÀI THI CUỐI KỲ
MÔN PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN VÀ HỢP ĐỒNG
ĐỀ TÀI: HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ: THỰC
TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
Trang 2Table of Conents
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 6
1.1 Những vấn đề lý luận về hợp đồng thương mại điện tử 6
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng thương mại điện tử 6
1.1.2 Vai trò của hợp đồng thương mại điện tử 8
1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật hợp đồng thương mại điện tử 9
1.2.1 Cấu trúc pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử 9
1.2.2 Trình tự giao kết hợp đồng thương mại điện tử 10
1.1.3 Hình thức của hợp đồng thương mại điện tử 13
1.3 Rủi ro phát sinh khi giao kết hợp đồng thương mại điện tử 14
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 15
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT - MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 15
2.1 Thực trạng áp dụng pháp luật vào giao kết hợp đồng thương mại điện tử 15
2.2 Những vướng mắc trong thực tiễn giao kết hợp đồng thương mại điện tử 17
2.3 Vi phạm và xử lý vi phạm hợp đồng thương mại điện tử 20
2.4 Thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại điện tử 21
2.5 Một số kiến nghị liên quan đến hợp đồng thương mại điện tử 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 25
KẾT LUẬN CHUNG 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết/sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Việt Nam trong những năm gần đây đã hội nhập toàn diện với thế giới về phương diệnkinh tế, việc tiếp thu các thành quả khoa học công nghệ là tất yếu và vô cùng cần thiết,trong đó bao gồm cả việc tiếp thu công nghệ thông tin nói chung và thương mại điện tửnói riêng Thương mại điện tử là phương thức thương mại nhanh chóng, thuận tiện nhất
và tiết kiệm chi phí, giúp cho việc kết nối nhà sản xuất, phân phối và khách hàng ngàymột tốt hơn Tuy nhiên, việc giao dịch qua hợp đồng thương mại điện tử thường có nhiềurủi ro khi mà website thương mại điện tử vẫn chưa đủ độ tin cậy để tạo niềm tin chongười tiêu dùng, những thủ đoạn lừa đảo đã xuất hiện ngày một phổ biến, lợi dụng cáckhe hỡ của pháp luật để gây thiệt hại cho các bên giao dịch dưới những hành vi vô cùngtinh vi Điều này đã phần nào hạn chế những lợi ích mà thương mại điện tử có thể đemlại Vì thế, cần phải hoàn thiện pháp luật để nhằm đảm bảo quyền lợi, lợi ích hợp phápcủa các bên khi giao kết, thực thi các hợp đồng thương mại điện tử
Việt Nam ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý phù hợp nhằm thựchiện các cam kết quốc tế, trong đó có cam kết về thúc đẩy sự phát triển của thương mạiđiện tử Các văn bản như Luật giao dịch điện tử 2005, Luật thương mại và Luật côngnghệ thông tin và nhiều văn bản khác Các văn bản pháp luật này đã tạo môi trường pháp
lý quan trọng cho việc ký kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử Sự đa dạng vàmặt công nghệ, sự đầu tư thiếu đồng bộ về cơ sở hạ tầng, sự thiếu chuyên nghiệp về độingũ nguồn nhân lực có chất lượng cao, cũng đang là những khó khăn về giao kết hợpđồng thương mại điện tử Các quy định trong các văn bản pháp luật về giao kết hợp đồngthương mại điện tử còn mang tính tổng quát, quy trình giao kết hợp đồng còn nhiều tháchthức Còn có nhiều trường hợp cá nhân, hộ kinh doanh gia đình, tổ chức, doanh nghiệp, ởnhững nơi vẫn còn chưa biết về pháp luật quy định trong giao kết hợp đồng thương mạiđiện tử
Giao kết hợp đồng thương mại điện tử đòi hỏi các chủ thể phait am hiểu về pháp luật,những quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử có những điểmkhác biệt so với giao kết theo kiểu truyền thống Để hiểu rõ hơn về sự khác biệt, nhìnnhận những điểm mới, tiến bộ của hợp đồng thương mại điện tử cũng như những bất cập
về việc áp dụng luật trong thời gian qua Vì những lý do cơ bản trên nên người nghiên
Trang 4cứu đã lựa chọn đề tài “Hợp đồng thương mại điện tử: Thực trạng và hướng hoàn thiện”làm tiểu luận khoa học của mình.
2 Tình hình nghiên cứu
Pháp luật về hợp đồng thương mại thương mại điện tử nói chung và những vấn đề lý luận
từ thực tiễn của hợp đồng thương mại điện tử nói riêng là vấn đề thu hút sự quan tâmnghiên cứu, tìm hiểu của các nhà nghiên cứu luật học trên cả nước Thời gian qua đã cónhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu của giới luật học toàn quốc về vấn đề này và đượccông bố mà tiêu biểu phải kể đến một số công trình sau đây: Cẩm nang pháp luật về giaokết hợp đồng điện tử - Tác giả: Nguyễn Thị Mơ (2006); Hợp đồng thương mại điện tửtheo pháp luật Việt Nam – Tác giả: Trần Văn Biên (2012); Luận án tiến sĩ Luật học của
Lê Văn Thiệp (2016) về “Pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay”; Luận vănthạc sĩ Luật học của Nguyễn Nhất Tư (2017) “Hợp đồng thương mại điện tử theo phápluật Việt Nam” Bên cạnh đó, cũng có một số bài viết khoa học đăng trên các tạp chí luật
học uy tín như: “Phòng tránh rủi ro trong giao kết, thực hiện hợp đồng thương mại điện
tử” của Nguyễn Thành Luân đăng trên tạp chí Luật sư Việt Nam số 5 tháng 5 năm 2015;
“Hợp đồng thương mại điện tử và các biện pháp hạn chế rủi ro” của Lê Thị Kim Thoa đăng trên tạp chí Luật học số 11/2008; “Hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng
thương mại điện tử ở Việt Nam” của Phạm Hồng Nhật đăng trên tạp chí dân chủ và pháp
luật điện tử năm 2016; “Chữ kí điện tử trong giao kết hợp đồng điện tử” của Trần Văn Biên đăng trên tạp chí Luật học số 6 năm 2012; “Bảo vệ người tiêu dùng trong giao kết
hợp đồng điện tử qua Internet” của Trần Văn Biên đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp
số 20 năm 2010; “Ký kết hợp đồng thông qua phương thức điện tử” của Trương Nhật Quang và Huỳnh Thông đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 10 năm 2020; “Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo” của Dương Quỳnh Hoa đăng
trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 09 năm 2020; “Hợp đồng thương mại điện tử: thực
trạng và hướng hoàn thiện” của Nguyễn Duy Phương và Nguyễn Duy Thanh đăng trên
tạp chí nghiên cứu lập pháp số 08 năm 2019; “Pháp luật Việt Nam về dịch vụ Logistic
trong hoạt động thương mại điện tử” của Tạ Thị Thuỳ Trang đăng trên tạp chí Nghiên
cứu lập pháp số 17 năm 2018; “Vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùngtrong thương mại điện tử” của Nguyễn Thị Thu Hằng đăng trên tạp chí Khoa học pháp lý
số 02 năm 2019; “Quy định của CPTPP về thương mại điện tử và thách thức đối với Việt
Nam trong bối cảnh hiện đại” của Trần Lê Quốc Công đăng trên tạp chí Khoa học pháp
Trang 5lý số 06 năm 2019… Các công trình trên đã giải quyết một số vấn đề lý luận và thực tiễnbao gồm khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của vai trò về hợp đồng thương mại điện tử, cơ sởcủa quy định về thương mại điện tử, phân tích nội dung quy định của hợp đồng thươngmại điện tử và đưa ra giải pháp hoàn thiện Tuy nhiên nếu phân tích dưới góc độ chuyênbiệt về lĩnh vực thực tiễn về hợp đồng thương mại điện tử thì có rất ít các công trình nhưvậy Trên cơ sở kế thừa kết quả, thành tựu nghiên cứu của các công trình khoa học về vấn
đề này đã công bố Tiểu luận tiếp tục nghiên cứu, tập hợp và phát triển hệ thống cơ sở lýluận và thực tiễn của hợp đồng thương mại điện tử nhìn nhận dưới góc độ các quy địnhcủa Luật giao dịch điện tử 2005
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tiểu luận có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau: Nêu rõ khái niệm, đặc điểm, phânloại hợp đồng thương mại điện tử Các điều kiện để chấp nhận giao kết hợp đồng điện tử,vấn đề rút lại hoặc hủy đề nghị giao kết hợp đồng, hủy chấp nhận đề nghị giao kết hợpđồng, giá trị của thông điệp dữ liêu, giá trị pháp lý của chữ ký điện tử trong giao kết hợpđồng thương mại điện tử
Đề tài tiểu luận nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật vềhợp đồng thương mại điện tử ở Việt Nam; đồng thời nghiên cứu để đưa ra các định hướng
và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật về hợp đồng thương mạiđiện tử, trong đó đặc biệt chú trọng đến những vấn đề pháp luật quy định giao kết, thựchiện hợp đồng thương mại điện tử, quy định thanh toán điện tử…
Phạm vi nguyên cứu, phân tích những khía cạnh chính yếu của hợp đồng thương mại điện
tử trong hoạt động thương mại Đề tài chỉ tập trung phân tích những quy định của phápluật Việt Nam về việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử, chủ yếu là Luật Giao dịchđiện tử 2005 và một số văn bản pháp luật liên quan
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 6Phương pháp luận nghiên cứu là Chủ nghĩa Mác Lênin về duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử Tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế, về hộinhập kinh tế quốc tế, về vai trò của công nghệ thông tin và thương mại điện tử cũng làkim chỉ nam cho phương pháp luận nghiên cứu của đề tài
Ngoài ra, tiểu luận còn áp dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, bao gồm:
(i) Phương pháp phân tích, phương pháp đánh giá, phương pháp tổng hợp,
phương pháp so sánh được sử dụng ở Chương 1 luận văn để tìm hiểu tổngquan tình hình nghiên cứu và lý giải, soi sáng những vấn đề lý luận thực tiễnđặt ra, những điểm tốt, điểm hạn chế trong quy định pháp luật đối với hợpđồng thương mại điện tử
(ii) Phương pháp đánh giá, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê số liệu,
phương pháp diễn giải, phương pháp bình luận… được sử dụng ở Chương 2 đểtrình bày thực trạng về hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam Từ đó, đưa
ra nhận xét, bình luận và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật hợpđồng thương mại điện tử
6 Giá trị nghiên cứu
Tiểu luận có giá trị đánh giá thực trạng pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử ở ViệtNam hiện nay Từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp cụ thể đề xây dựng và hoànthiện pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử ở Việt Nam Nhằm thúc đẩy sự chủ độngcủa các doanh nghiệp Việt Nam trong việc tích cực sử dụng hợp đồng thương mại điện
tử, nhằm tận dụng các thành tựu của công nghệ thông tin trong kinh doanh, nâng caonăng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế toàn cầu thành công Những giải pháp thực hiện
mà luận văn đưa ra có khả năng ứng dụng vào thực tiễn nhằm nâng cao công tác quản lýhoạt động giao kết hợp đồng thương mại bằng phương thức điện tử, xâm phạm đến quyềnlợi của người tiêu dùng, giảm thiểu rủi ro đối với các cá nhân, tổ chức tham gia vào hoạtđộng giao dịch hợp đồng bằng phương thức điện tử
7 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài các phần như mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mụccác bảng biểu thì tiểu luận được kết cấu thành 2 chương:
Trang 7Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng thương mại điện tử và pháp luật hợp đồng
thương mại điện tử
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật - một số định hướng và giải pháp hoàn thiện
pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN
TỬ VÀ PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.1 Những vấn đề lý luận về hợp đồng thương mại điện tử
Quan hệ hợp đồng là mối quan hệ phổ biến, là cơ sở pháp lý chủ yếu để các bên chủ thểthoả thuận để thiết lập nên các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia các giao dịchnhằm thoả mãn các nhu cầu cuộc sống hàng ngày cũng như các giao dịch kinh doanhthương mại Xã hội phát triển càng hiện đại thì sự đa dạng của các loại hợp đồng cũngngày càng tăng lên Đặc biệt cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, giao dịchthương mại điện tử (TMĐT) được hình thành với nhiều lợi thế về chi phí, tốc độ truyềntải thông tin nhanh chóng, không phụ thuộc vào khoảng cách địa lý và biên giới quốc gia
Sự gia tăng không ngừng của các giao dịch TMĐT làm xuất hiện một loại hình hợp đồngmới là hợp đồng TMĐT1
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, các giao dịch điện tử và đặc biệt
là hợp đồng điện tử cũng hình thành và được sử dụng ngày càng nhiều trong kinh doanhnói chung và kinh doanh quốc tế nói riêng Tuy nhiên về khái niệm “Hợp đồng điện tử”thì cho đến nay vẫn còn thể hiện sự khác biệt trong quan niệm của pháp luật các nướccũng như cách hiểu của nhà chuyên môn Theo như nhận định của Luật sư Olivier Iteanu(đoàn Luật sư Paris) thì hợp đồng thương mại điện tử được là “Sự gặp gỡ trên mạng viễnthông quốc tế giữa một lời đề nghị giao kết hợp đồng thể hiện bằng phương tiện nghenhìn và một lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Sự gặp gỡ này có thể được thể hiệntức thời nhờ sự trao đổi tương tác”2
Hợp đồng điện tử theo quan điểm của Uỷ ban kinh tế châu Âu của Liên Hợp Quốc
(UNECE) là “hợp đồng nhằm đáp ứng các yêu cầu của các đối tác thương mại điện tử.
1 Nguyễn Nhất Tư (2017), Hợp đồng thương mại điện tử theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Viện Hàn Lâm.
2 Nhà pháp luật Việt – Pháp (1999), Khoảng không vũ trụ, mạng không gian và thông tin viễn thông (tiến bộ
khoa học và các vấn đề pháp lý), kỷ yếu hội thảo Pháp – Việt, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trang 8Hợp đồng bao gồm các điều khoản cơ bản có thể đảm bảo rằng một hay nhiều giao dịch thương mại điện tử, sau này có thể ký kết giữa các đối tác thương mại trong khuôn khổ pháp lý cho phép Hợp đồng này nhằm đề cập tới mọi hình thức liên lạc điện tử có thể ký
định nghĩa “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu
được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử” Thông điệp dữ liệu
thường được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, điện báo,fax và các hình thức tương tự5 Vậy nên, hợp đồng thương mại điện tử là hợp đồng điện
tử được giao kết giữa các thương nhân nhằm thực hiện các hành vi thương mại
Hợp đồng thương mại điện tử (TMĐT) có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, hợp đồng TMĐT vẫn giữ các đặc điểm pháp lý của một hợp đồng thương mại
có ít nhất một bên chủ thể là thương nhân, mục đích của hợp đồng TMĐT là lợi nhuận,đối tượng của hợp đồng là hàng hoá Nội dung hợp đồng thể hiện quyền và nghĩa vụ củacác bên trong quan hệ hợp đồng, việc này thể hiện thông qua các thoả thuận do các bênquy định
Thứ hai, hợp đồng TMĐT có các đặc điểm riêng: hợp đồng thể hiện hoàn toàn dưới dạngthông điệp dữ liệu Trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng, các bên không cầngặp trực tiếp mà thông qua các phương tiện điện tử Phương tiện điện tử là cơ sở để phânbiệt sự khác nhau giữa giao dịch thương mại điện tử với các giao dịch thương mại thôngthường Nếu như phương tiện thực hiện trong giao dịch thương mại thông thường chủ yếuđược thực hiện thông qua lời nói, văn bản giấy tờ thì phương tiện thực hiện trong giaodịch thương mại điện tử được thực hiện thông qua phương tiện hoạt động trên công nghệđiện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện tử hoặc các côngnghệ tương tự… 6
Theo quan điểm của các học giả nghiên cứu Luật học, dựa trên thực tiễn quá trình vàcông nghệ được sử dụng trong quá trình ký kết hợp đồng thương mại điện tử thì hợp
3 Trung tâm thương mại quốc tế (2002), Bí quyết thương mại điện tử, Phụ lục 3: Hợp đồng thương mại điện tử của UNECE, Nxb Thế giới, Hà Nội.
4 Quốc Hội (2005), Luật giao dịch điện tử 2005, Hà Nội.
5 Lê Thị Kim Hoa (2008), Hợp đồng thương mại điện tử và các biện pháp hạn chế rủi ro, Tạp chí Luật học số 11/2008.
6 Lê Danh Vĩnh (2007), Các vấn đề kỹ thuật, công nghệ chủ yếu trong thương mại điện tử: Lý thuyết và thực hành, Nxb Lao Động.
Trang 9đồng này có thể phân chia thành bốn loại phổ biến như: Hợp đồng thương mại truyềnthống được đưa lên website, hợp đồng TMĐT hình thành qua giao dịch tự động, hợpđồng TMĐT hình thành qua thư điện tử và hợp đồng TMĐT có sử dụng chữ ký số7.
Trong những năm trở lại đây, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, nhiềugiải pháp mới, mô hình kinh doanh mới dựa trên các nền tảng công nghệ cũng hết sứcmạnh mẽ, dần hình thành nên một nền kinh tế số tại Việt Nam Thương mại điện tử làmột lĩnh vực phát triển sôi động nhất trong thị trường kinh tế số tại Việt Nam và đang trởthành một công cụ không thể thiếu đối với doanh nghiệp để mở rộng hoạt động kinhdoanh, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Thực tế, hoạt động thương mại điện tửđang phát triển mạnh trong “cơn bão” dịch COVID-19, nhiều lĩnh vực và các ngành nghềkinh tế bị tác động một cách nặng nề, ảnh hưởng xấu đối với bức tranh kinh tế của ViệtNam và các nước trên thế giới trong năm 2020 Thói quen của người tiêu dùng, doanhnghiệp cũng vì tác động này mà thay đổi một cách nhanh chóng và ngoạn mục Bộ CôngThương đã đặt mục tiêu đến năm 2025 quy mô thị trường thương mại điện tử sẽ đạt 55%dân số tham gia với giá trị trực tuyến đạt trung bình 600 USD/người/năm Theo đó, hợpđồng TMĐT cũng vì thế mà được các doanh nghiệp xem xét cẩn trọng khi giao kết, nóđóng vai trò như kim chỉ nam, sợi chỉ đỏ trong hoạt động thương mại điện tử Vai trò củahợp đồng TMĐT được thể hiện một cách cơ bản như sau:
Thứ nhất, thông qua việc sử dụng internet mà các chủ thể kinh doanh cùng lúc có thể giao
dịch với nhiều đối tác trên một thị trường gần như là không biên giới, góp phần tiết giảmchi phí giao dịch, bán hàng8 Điều này nếu so sánh với hợp đồng truyền thống thì hợpđồng TMĐT là một điểm cộng nổi bật, bên cạnh đó việc lưu trữ và bảo quản các hợpđồng điện tử cũng đơn giản, tiện lợi hơn9
Thứ hai, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp có sự
linh hoạt trong việc thực hiện giao kết hợp đồng TMĐT Trong điều kiện nền kinh tế sốkhông biên giới, việc giao kết hợp đồng TMĐT giúp các doanh nghiệp trong nước nhanhchóng trở thành đối tác với các thương nhân quốc tế, tập đoàn quốc gia Giúp doanh
7 Lê Thị Kim Hoa, Hợp đồng thương mại điện tử và các biện pháp hạn chế rủi ro, Tạp chí Luật học số 11/2008
8 Nguyễn Đức Thông (2014), Hoàn thiện các quy định của pháp Luật Việt Nam về đề nghị giao kết hợp đồng nhằm thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ thương mại trong điều kiện toàn cầu hoá, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội.
9 Nguyễn Văn Thoan (2010), Ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử trong điều kiện Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án Tiến Sĩ, trường Đại học ngoại thương, Hà Nội.
Trang 10nghiệp trong nước được học hỏi, tiếp thu được các tư duy kinh doanh phương Tây đểkhông ngừng thay đổi, cho ra các sản phẩm kinh doanh phù hợp với thị hiếu của ngườitiêu dùng10
Thứ ba, việc giao kết hợp đồng TMĐT giúp các bên chủ tể tiết kiệm thời gian đàm phán,
giao kết hợp đồng, chi phí di chuyển Qua trình giao kết của một hợp đồng truyền thốngthông thường tốn không ít thời gian đối với các doanh nghiệp có khoản cách rất lớn về địa
lý Tuy nhiên, hợp đồng TMĐT lại có thể khắc phục được khuyết điểm này bởi bản chấtcủa của loại hợp đồng này là thông điệp dữ liệu, tốc độ đường truyền nhanh đến độ được
ví như tốc độ ánh sáng 11Vì vậy, hợp đồng TMĐT đã được các doanh nghiệp ưu chuộn và
sử dụng một cách rộng rãi
Luật Giao dịch điện tử năm 2015 là đạo Luật đầu tiên điều chỉnh trực tiếp việc sử dụngcác phương tiện điện tử trong giao dịch hợp đồng, đánh dấu một bước ngoặt quan trọngtrong quá trình xây dựng khung pháp lý về giao dịch điện tử nói chung và hợp đồngthương mại nói riêng Tuy nhiên, trong quá trình pháp luật về hợp đồng thương mại điện
tử đi vào thực tiễn ở Việt Nam đã xuất hiện những điểm hạn chế cần phải sửa đổi và khắcphục nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại điện tử phát triển manh mẽ, đáp ứng nhu cầu
xã hội hiện nay12
1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật hợp đồng thương mại điện tử
Pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhànước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quátrình giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử Ở Việt Nam, pháp luật về giaokết hợp đồng TMĐT được xem là một thành tố của pháp luật hợp đồng thương mại nóiriêng và pháp luật về hợp đồng dân sự nói chung13 Vậy nên, BLDS và LTM được xem là
hệ thống pháp luật chung điều chỉnh hoạt động giao kết hợp đồng thương mại điện tử.BLDS là luật gốc điều chỉnh tất cả các vấn đề về quan hệ dân sự nói chung như hợp đồng
và giao kết hợp đồng, hợp đồng TMĐT là loại hợp đồng thương mại được giao kết thông
10 Tùng Bách, Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử, http://www.vca.gov.vn , 29/08/2020
11 Nguyễn Hữu Tính (2010), Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử, Luận văn thạc sĩ , Đại học Cần Thơ, Cần Thơ.
12 Lê Hà Vũ (2006), Xây dựng khung pháp lý nhằm phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
13 Phạm Hồng Nhật (2016), Hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử ở Việt Nam, Tạp chí dân chủ và pháp luật tháng 8/2016.
Trang 11qua một phương thức mới Vậy nên, hợp đồng thương mại điện tử cũng chịu sự điềuchỉnh của Luật thương mại Bên cạnh BLDS 2015 và LTM 2005 là các văn bản điềuchỉnh chung, Luật GDĐT 2005 được xem là văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạtđộng giao kết hợp đồng TMĐT Ngoài ra, Chính phủ cũng ban hành Nghị định 52/2013/NĐ-CP về TMĐT, văn bản này quy định chi tiết và cụ thể nhất về hợp đồng TMĐT nóichung xũng như giao kết hợp đồng TMĐT nói riêng Thêm vào đó, các Bộ, ban ngànhcũng ban hành các Nghị định, thông tư hướng dẫn quy định việc giao kết hợp đồngTMĐT như: Nghị định số 26/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện
tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số; Nghị định số 27/2007/NĐ-CP về giaodịch điện tử trong hoạt động tài chính; Nghị định số 35/2007/NĐ-CP quy định giao dịchđiện tử trong hoạt động ngân hàng; Nghị định số 87/2012/NĐ-CP quy định chi tiết một sốđiều của Luật Hải quan về thủ tục Hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhậpkhẩu thương mại; Thông tư số 50/2009/TT-BTC hướng dẫn giao dịch điện tử trên thịtrường chứng khoán; Thông tư số 47/2014/TT-BCT quy định về quản lý website TMĐT;Thông tư số 59/2015/TT-BCT quy định về quản lý hoạt động TMĐT qua ứng dụng trênthiết bị di động
Ngoài ra, khi giao kết hợp đồng TMĐT với các đối tác trên thế giới, Việt Nam còn phải
áp dụng quy định trong các điều ước quốc tế có liên quan như Luật mẫu về TMĐT củaUNCITRAL 14
Trước khi giao kết hợp đồng TMĐT, các bên tham gia giao kết phải tuân thủ các nguyêntắc giao kết hợp đồng quy định trong BLDS năm 201515 và Luật GDĐT năm 200516.Không chỉ tuân thủ về các nguyên tắc giao kết, các bên tham gia giao kết hợp đồng cònphải tuân thủ theo những thủ tục và trình tự nhất định Về trình tự giao kết hợp đồngTMĐT, Điều 36 Luật GDĐT năm 2005 quy định: “Trong giao kết hợp đồng, trừ trườnghợp các bên có thỏa thuận khác, đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợpđồng có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu” Như vậy, có thể thấy, Luật
14 Mai Hồng Quỳ, Một số vấn đề pháp lý của thương mại điện tử và việc áp dụng ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước
và Pháp luật số 2 năm 2000.
15 Điều 3 BLDS năm 2015.
16 Điều 35 Luật GDĐT năm 2005.
Trang 12GDĐT quy định rất rõ ràng trình tự giao kết hợp đồng TMĐT bao gồm hai giai đoạn: giaiđoạn đề nghị giao kết hợp đồng và giai đoạn chấp nhận giao kết hợp đồng
a Đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử
Cho đến nay pháp luật Việt Nam cũng chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể về đề nghị giaokết hợp đồng điện tử Tuy nhiên, với từng trường hợp đã được cụ thể hóa trong các Nghịđịnh hướng dẫn Theo đó, về đề nghị giao kết hợp đồng không có bên nhận cụ thể, Điều
12 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định: “Một thông báo bằng chứng từ điện tử về đề
nghị giao kết hợp đồng mà không có bên nhận cụ thể thì chỉ là thông báo mời đề nghị giao kết hợp đồng Thông báo đó chưa được coi là đề nghị giao kết hợp đồng, trừ khi bên thông báo chỉ rõ tại thông báo đó trách nhiệm của mình trong trường hợp nhận được trả lời chấp nhận” Việc quy định chỉ cần bên thông báo chỉ rõ trách nhiệm của mình trong
trường hợp nhận được trả lời chấp nhận vẫn được coi là một đề nghị giao kết như Nghịđịnh số 52/2013/NĐ-CP là một quy định đặc thù, tạo điều kiện thuận lợi cho các giaodịch TMĐT nói chung cũng như đảm bảo an toàn cho quá trình giao kết nói riêng
Khoản 1 Điều 386 BLDS năm 2015 cũng quy định: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc
thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng” Như vậy, ngoài trường hợp bên nhận
được xác định cụ thể còn trường hợp lời đề nghị giao kết hợp đồng đồng được gửi đếncông chúng (không xác định cụ thể được bên nhận) Đây là quy định điều chỉnh giao kếthợp đồng trong TMĐT, đảm bảo quy định của luật chung (BLDS) được thống nhất vớipháp luật chuyên ngành (Điều 12 Nghị định 52/2013/NĐ-CP)
Việc xác định thời điểm có hiệu lực của một lời đề nghị giao kết có ý nghĩa rất quan trọngđối với hợp đồng nói chung và hợp đồng TMĐT nói riêng Luật GDĐT năm 2005 không
có quy định trực tiếp về thời điểm có hiệu lực của để nghị giao kết mà đề cập thông quathời điểm gửi và nhận một thông điệp dữ liệu Chính vì vậy, thời điểm có hiệu lực củamột lời đề nghị giao kết của hợp đồng thương mại nói chung và hợp đồng TMĐT nóiriêng được dẫn chiếu tới các quy định trong BLDS17 Trong giao kết hợp đồng TMĐT,
thời điểm nhận được đề nghị là khi “đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức
của bên được đề nghị” Như vậy, nếu hai bên giao kết sử dụng mạng internet để trao đổi
17 Vũ Thị Minh Hiền, Đổi mới tổ chức quản trị các doanh nghiệp có ứng dụng thương mại điện tử tại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế tại Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2003.
Trang 13thì thời điểm này sẽ là thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng nhập vào hệ thống mạng củangười nhận được đề nghị.
b Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đềnghị về việc chấp nhận toàn bộ hoặc một phần nội dung của đề nghị Chấp nhận giao kếthợp đồng thực chất là việc bên được đề nghị nhận lời đề nghị và đồng ý tiến hành việcgiao kết hợp đồng với bên đã đề nghị Khi giao kết hợp đồng TMĐT, các bên tham giahợp đồng giao dịch và ký kết hợp đồng với nhau một cách gián tiếp thông qua cácphương tiện điện tử có kết nối mạng Do đó, việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cóthể được xác định trong một thời hạn nhất định Nếu các bên đã ấn định một khoảng thờigian trả lời, thì bên được đề nghị phải trả lời trong thời gian hạn đó Nếu các bên khôngthỏa thuận thời hạn trả lời, thì thời gian trả lời đề nghị giao kết hợp đồng TMĐT sẽ theoquy định của pháp luật trong từng trường hợp cụ thể
Luật GDĐT năm 2005 và Nghị định 57/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật GDĐTtrước đây chưa có quy định về chấp nhận đề nghị cũng như thời gian chấp nhận của bên
được đề nghị khi giao kết hợp đồng TMĐT, mà chỉ quy định khái quát “ chấp nhận giao
kết hợp đồng có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu” (Khoản 2 Điều 36 Luật
GDĐT năm 2005) Tuy nhiên, Điều 19 Nghị định 52/2013/NĐ-CP thay thế Nghị định57/2006/NĐ-CP đã bổ sung quy định về trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
TMĐT như sau: “Trả lời chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
phải được thực hiện dưới hình thức phù hợp để thông tin có thể lưu trữ, in và hiển thị được tại hệ thống thông tin của khách hàng”
Theo như đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cũng có thểđược rút lại nếu có sự thỏa thuận với bên còn lại Điều 397 BLDS năm 2015 quy định
“bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp
đồng, nếu thông báo này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng” Pháp luật về giao kết hợp đồng điện tử hiện hành chưa
quy định về việc rút lại chấp nhận giao kết hợp đồng điện tử, nên trường hợp các bênđược đề nghị rút lại thông báo chấp nhận đề nghị giao kết có thể áp dụng quy định của
Trang 14BLDS năm 2015 Theo đó, bên được đề nghị giao kết hợp đồng TMĐT có thể rút lạithông báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo đó đến trước hoặc cùng thời điểmbên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết, tức là thông báo đó được nhập vào hệ thốngthông tin chính thức của bên đề nghị trước hoặc cùng thời điểm trả lời chấp nhận giao kếthợp đồng điện tử được nhập vào hệ thống thông tin của bên đề nghị Tuy nhiên, do việcgiao kết hợp đồng được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử có kết nối internetnên có thể xảy ra trường hợp lỗi mạng, mà thông báo rút lại chấp nhận đề nghị giao kếthợp đồng điện tử không thể đến trước hoặc cùng thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời.
Về vấn đề này, pháp luật TMĐT cần phải có những quy định rõ ràng và cụ thể hơn
Hình thức của hợp đồng được hiểu là sự thể hiện nội dung của hợp đồng và những thủ tục
mà pháp luật quy định bắt buộc các bên giao kết hợp đồng phải thực hiện khi tiến hành kýkết hợp đồng Đối với hợp đồng TMĐT thì nó được thiết lập thông qua việc trao đổithông điệp dữ liệu Hợp đồng TMĐT không sử dụng bằng lời nói, bằng hành vi hay bằngvăn bản như hợp đồng truyền thống mà nó được soạn thảo và gửi qua thư điện tử hoặc làhợp đồng “nhấn nút đồng ý” qua các trang web bán háng, theo đó người mua nhấn vàonút tôi đồng ý thì hợp đồng sẽ được giao kết ngay Vấn đề khó khăn khi giao kết hợpđồng TMĐT là liệu các điều khoản mà các bên đã ký với nhau có được đảm bảo thựchiện đúng hay không? Nó có giá trị pháp lý hay không? Theo như thực tiễn đời sống pháp
lý, trong quá trình giao kết hợp đồng TMĐT, hình thức của hợp đồng TMĐT được biểuhiện như sau:
Thứ nhất, hình thức trao đổi dữ liệu điện tử là trao đổi các dữ liệu dưới dạng “có cấu
trúc”, điều này có nghĩa là thông tin trao đổi được các bên tham gia giao kết thoả thuậnvới nhau sẽ tuân thủ một khuôn dạng nào đó từ khuôn dạng máy tính điện tử này sangmáy tính điện tử khác Theo Uỷ ban của Liên hợp quốc tế về Luật thương mại quốc tế,
việc trao đổi dữ liệu được xác định như sau: “trao đổi dữ liệu điện tử là việc chuyển giao
thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác bằng phương tiện điện tử có
sử dụng một tiêu chuẩn đã được thỏa thuận để cấu trúc thông tin”.
Thứ hai, hình thức thanh toán điện tử là một trong những dạng của hình thức hợp đồng
TMĐT, thanh toán điện tử đã được mở rộng và phát triển mạnh mẽ dưới các hình thức
Trang 15khác nhau như: ví điện tử, tiền mặt internet, internet banking… Với việc sử dụng các hìnhthức thanh toán này là bên sử dụng dịch vụ đã đồng ý chấp nhận giao kết hợp đồng Saukhi thanh toán, một thư điện tử hoặc một tin nhắn sẽ được gửi đến địa chỉ email xác địnhgiao dịch thành công hoặc hợp thư trong ví điện tử.
Thứ ba, hình thức thư điện tử cũng được xem là một hình thức phổ biến của hợp đồng
điện tử Luật giao dịch điện tử Việt Nam 2005 quy định “Hợp đồng điện tử là hợp đồng
được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu” (Điều 33) Điều 10 của Luật này giải thích
rõ “Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ
điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax” Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình
thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax” Cácdoanh nghiệp, cơ quan nhà nước sử dụng thư điện tử để gửi cho nhau một cách “trựctuyến” thông qua mạng, gọi là thư điện tử (viết tắc là e-mail)
1.3 Rủi ro phát sinh khi giao kết hợp đồng thương mại điện tử
Việc sử dụng phương tiện điện tử để giao kết hợp đồng TMĐT, bên cạnh ưu điểm giúpgiảm chi phí, tiết kiệm thời gian, nắm bắt cơ hội hay tăng khả năng cạnh tranh thì luôntồn tại những rủi ro nhất định Xuất phát từ những hạn chế tiềm ẩn trong môi trường vàphương tiện giao kết, các bên thương nhân phải đối mặt với những rủi ro về mặt kỹ thuật,thương mại cũng như về pháp lý
Thứ nhất, chú ý đến điều kiện bảo hộ an toàn của hợp đồng thương mại điện tử, sự phát
triển ứng dụng và đảm bảo an toàn cho các giao dịch điện tử là vấn đề cần phải được xemxét Các điều kiện để bảo đảm độ an toàn cho các giao dịch điện tử nói chung, hợp đồngthương mại điện tử nói riêng phải trên cơ sở ứng dụng công nghệ chứng thực và mã hoátạo sự an toàn Chữ kí tay hoặc chữ ký điện tử cũng có khả năng làm giả, vì vậy để ngănchặn sự giả mạo nhằm bảo đảm an toàn cho các giao dịch điện tử thì cần phải nghiên cứu
và mã hoá, ứng dụng công nghệ chứng thực để bảo vệ dữ liệu Trong các thương vụ kýkết hợp đồng thương mại điện tử có giá trị lớn các bên nên kiểm tra chữ ký điện tử hoặcgọi điện xác nhận trước khi giao kết để giảm rủi ro
Thứ hai, chú ý vấn đề thoả thuận áp dụng pháp luật và cơ quan tài phán nước ngoài trong
giao kết hợp đồng thương mại điện tử Đối với hợp đồng TMĐT thì pháp luật có thể áp