1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Đề tài Quan hệ thương mại - đầu tư hợp tác giữa Việt Nam - Hàn Quốc

28 693 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ thương mại - đầu tư hợp tác giữa Việt Nam - Hàn Quốc
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận văn
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 185,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của đề tài này là phân tích, đánh giá sự tiến triển của quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam – Hàn Quốc dựa trên những thành tựu đã đạt được trong suốt gần 2 thập kỷ qua, đồng thời làm rõ những vấn đề tồn tại, cơ hội và thách thức của sự hợp tác giữa hai nước trong giai đoạn kinh tế đầy biến động như hiện nay. Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển quan hệ Việt – Hàn lên tầm cao mới, trở thành mối quan hệ hợp tác sâu sắc toàn diện không chỉ trong khu vực mà còn trên toàn thế giới.

Trang 1

LUẬN VĂN

ĐỀ TÀI:

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI – ĐẦU TƯ

HỢP TÁC GIỮA VIỆT NAM - HÀN QUỐC

Thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU 2

I YẾU TỐ LỊCH SỬ TRONG MỐI QUAN HỆ CỦA HAI NƯỚC VIỆT NAM – HÀN QUỐC 3

II NHÌN NHẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA VIỆT NAM – HÀN QUỐC 4

1 Về phía Việt Nam 4

2 Về phía Hàn Quốc 5

III THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI – ĐẦU TƯ GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC HIỆN NAY 6

1 Tình hình hợp tác kinh tế 6

2 Những vấn đề còn tồn tại 17

IV TRIỂN VỌNG VÀ THÁCH THỨC TRONG QUAN HỆ HỢP TÁC THƯƠNG MẠI – ĐẦU TƯ GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC 19

1 Triển vọng 19

2 Thách thức 22

V KIẾN NGHỊ THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI – ĐẦU TƯ VIỆT NAM – HÀN QUỐC 23

1 Thương mại 23

2 Đầu tư – FDI và ODA 24

3 Du lịch 25

4 Xuất khẩu lao động 26

KẾT LUẬN 27

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Thế giới đang bước vào một giai đoạn cực kỳ sôi động, đầy cơ hội, song cũngđầy sự thách thức.Các quá trình liên kết và hợp tác đa phương, song phương của cácnước, các tổ chức trong khu vực cũng đang mở ra, với sự đa dạng về hình thức vàtốc độ rất cao.Đây là một trong những cơ hội phát triển đang đặt ra đối với nền kinh

tế của mỗi nước

Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước vớimục tiêu phát triển nhanh, mạnh và bền vững trong một thế giới hòa bình và ổnđịnh.Để đạt được mục tiêu này, chúng ta cần có một chính sách ngoại giao tích cực,chủ động, đa phương hóa và đa dạng hóa các mối quan hệ; làm bạn với tất cả cácquốc gia trên thế giới Trong đó, quan hệ hợp tác song phương với các nên kinh tếphát triển là một trong những vấn đề quan trọng được đặt lên hàng đầu

Việt Nam và Hàn Quốc đã thiết lập được mối quan hệ song phương kiểu mẫutrong khu vực.Quan hệ giữa hai nước được kết tinh từ tầng sâu văn hóa lịch sử, đãphát triển mạnh mẽ trong thời gian qua và đạt được những thành tựu trong nhiềulĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế.Trong tương lai, chúng ta có quyền hyvọng vào sự hợp tác nhiều hơn nữa và những thành tựu to lớn hơn nữa từ mối quan

hệ của hai nước

Mục đích của đề tài này là phân tích, đánh giá sự tiến triển của quan hệ hợp táctoàn diện Việt Nam – Hàn Quốc dựa trên những thành tựu đã đạt được trong suốtgần 2 thập kỷ qua, đồng thời làm rõ những vấn đề tồn tại, cơ hội và thách thức của

Trang 4

sự hợp tác giữa hai nước trong giai đoạn kinh tế đầy biến động như hiện nay Trên

cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển quan hệ Việt – Hànlên tầm cao mới, trở thành mối quan hệ hợp tác sâu sắc toàn diện không chỉ trongkhu vực mà còn trên toàn thế giới./

I YẾU TỐ LỊCH SỬ TRONG MỐI QUAN HỆ CỦA HAI NƯỚC

VIỆT NAM – HÀN QUỐC

Thế kỷ XIII, năm 1226 khi nhà Lý sụp đổ, Hoàng tử Lý Long Tường của nướcViệt đã lưu vong và định cư tại Vương quốc Cao Ly tức Hàn Quốc hiện nay Khiquân giặc Mông Cổ xâm lược Cao Ly, Lý Long Tượng đã có đóng góp to lớn nênđược vua Cao Ly phong là Quân Hoa Sơn, sau đó trở thành ông tổ của họ Lý HoaSơn ở Hàn Quốc hiện nay Để ghi nhận mối nhân duyên lịch sử này, chính phủ ViệtNam đã đối xử với con cháu dòng họ Lý Hoa Sơn như người Việt Nam, khi họ trở

về đầu tư vào Việt Nam

Thời kỳ trước năm 1975, Hàn Quốc có quan hệ ngoại giao, kinh tế, quân sự vớichính quyền Sài Gòn, đưa quân sang Việt Nam tham gia chiến tranh xâm lược của

Mỹ Từ 1975 – 1982, Việt Nam và Hàn Quốc bắt đầu có quan hệ buôn bán tư nhânqua trung gian, từ 1983 bắt đầu có quan hệ buôn bán trực tiếp và một số quan hệ phiChính phủ Ngày 20/04/1992, ký thỏa thuận trao đổi văn phòng liên lạc giữa 2 nước.Ngày 22/12/1992, Bộ trưởng ngoại giao Hàn Quốc thay mặt Chính phủ ký kếtcác hiệp ước hợp tác và đặt quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ với Việt Nam.Đây là sựkiện chính trị quan trọng đánh dầu mối quan hệ song phương chính thức giữa 2nước trên tất cả các lĩnh vực

Trang 5

Sau gần hai thập kỷ kể từ thời điểm lịch sử nói trên, quan hệ giữa hai nước Việt– Hàn không ngừng được duy trì, củng cố và phát triển nhiều lĩnh vực, đặc biệt làtrên lĩnh vực thương mại và đầu tư – nền tảng vững chắc cho quan hệ hữu nghị vàhợp tác lâu dài giữa 2 nước.

II NHÌN NHẬN CHUNG VỀMỐI QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA VIỆT

NAM – HÀN QUỐC

1 Về phía Việt Nam

Tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa với xuất phát điểm rất thấp, thu nhậpbình quân đầu người/ năm chưa đến 400 USD (năm 2000), thuộc nhóm những nướcnghèo nhất thế giới Cơ sở hạ tầng lạc hậu, tiềm lực kinh tế yếu, hiệu quả sản xuấtkinh doanh và năng suất lao động xã hội chưa cao, hàng hóa dịch vụ thiếu sức cạnhtranh, nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu về chất lượng của sự nghiệp đổi mới.Tăng cường hợp tác với Hàn Quốc sẽ có nhiều thuận lợi trong quá trình phát triểnkinh tế Chúng ta có điều kiện để thu hút vốn đầu tư, tiếp cận được công nghệ tiêntiến, cách thức quản lý khoa học, phát triển công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng,thực hiện công nghiệp hóa, đồng thời mở mang thị trường, phát huy lợi thế và hòanhập vào khu vực, rút ngắn khoảng cách phát triển

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (năm 1997 và năm 2008) đã gây khó khăn rấtlớn cho nền kinh tế Việt Nam, thương mại của Việt Nam với các nước, cũng nhưthương mại song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc Tuy nhiên, chính cuộckhủng hoảng này đang tạo ra cơ hội lớn để phát triển quan hệ thương mại và đầu tưsong phương giữa 2 nước khi mà các nhà đầu tư và doanh nghiệp Hàn QUốc xemxét lại các danh mục đầu tư và tìm kiếm các thị trường có tính ổn định và nhiều lợi

Trang 6

thế cạnh tranh (ngoài Trung Quốc, Ấn Độ…), nhiều công ty Hàn Quốc đã chuyểnhướng đầu tư vào Việt Nam.

Hiện nay, Hàn Quốc là một trong những nước có lượng vốn đầu tư vào ViệtNam vào thuộc top đầu, với hàng nghìn dự án đầu tư và tổng số vốn đầu tư lên đếnhàng tỷ USD Hàn Quốc cũng là một trong những thị trường xuất khẩu lao động lớncủa Việt Nam

2 Về phía Hàn Quốc

Việt Nam có nguồn tài nguyên đa dạng và quan trọng như dầu khí, quặng, cáchải sản quý và nông sản.Điều này có thể bù đắp cho sự khan hiếm tài nguyên củaHàn Quốc Đối với một nước mà phần lớn nguồn tài nguyên khoáng sản đều dựavào nước ngoài như Hàn Quốc thì việc đầu tư vào Việt Nam sẽ tận dụng được lợithế sử dụng nguồn tài nguyên tại chỗ mà không phải nhập từ các nước khác

Ngoài ra, Việt Nam là một thị trường có tiềm năng tăng trưởng cao, các nhà đầu

tư Hàn Quốc khi đầu tư vào Việt Nam sẽ có một thị trường xuất khẩu lớn hơn.Không chỉ khía cạnh định lượng, thị trường lớn với trên 80 triệu dân, mà cả khíacạnh định tính, tầng lớp trung lưu ngày càng tăng luôn đòi hỏi được bắt kịp với xuthế tiêu dùng của thời đại

Bên cạnh đó, chi phí lao động đắt đỏ ở Hàn Quốc làm mất dần lợi thế so sánhcủa Hàn Quốc trên thị trường thế giới Đầu tư vào Việt Nam, Hàn Quốc sẽ tận dụngđược nguồn nhân công rẻ hơn so với trong nước Yếu tố này đã thúc đẩy Hàn Quốcchuyển giao các loại công nghệ sử dụng nhiều lao động sang Việt Nam

Trang 7

Từ những năm 1980 trở về trước, bạn hàng buôn bán và đầu tư chủ yếu của HànQuốc là Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu Tuy nhiên, từ 1989, Mỹ đã đưa Hàn Quốc rangoài các đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi chính, nên khả năng xuất khẩu củaHàn Quốc sang các thị trường truyền thống này bị giảm xuống Cũng chính vì vậy,Hàn Quốc chuyển hướng xuất khẩu sang thị trường Đông Nam Á, đầu tư vào thịtrường này cũng ngày một tăng.

Cũng từ những năm 1990, đề thực hiện chiến lược “toàn cầu hóa”, Hàn Quốc đãtiến hành chính sách “hướng nam” phát triển mạnh mẽ các quan hệ hợp tác kinh tếvới các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương Với thuận lợi về vị trí địa

lý, sự gần gũi về văn hóa, Việt Nam sẽ trở thành “cầu nối” kinh tế - văn hóa giữakhu vực Đông Á và Đông Nam Á, giữa Hàn Quốc với khu vực Đông Nam Á và bánđảo Đông Dương

Có thể thấy việc phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác Việt Nam và Hàn Quốc là một logic tự nhiên vì lợi ích của cả hai bên và lợi ích chung của khu vực và thếgiới

III THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI – ĐẦU TƯ GIỮA VIỆT

NAM VÀ HÀN QUỐC HIỆN NAY

1 Tình hình hợp tác kinh tế

1.1 Thương mại

 Quy mô thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc đã thực sự có bước pháttriển nhanh chóng, tăng gấp 3 lần sau 10 năm Hiện tại, Hàn Quốc là đối tác thươngmại lớn thứ 6 của Việt Nam, chỉ sau Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Đài Loan và

Mỹ Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam–Hàn Quốc chiếm khoảng 6,6%tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2002-2005

Trang 8

- Năm 2004, xuất khẩu của Việt Nam đạt 603 triệu đôla Mỹ, tăng 18,1% so vớinăm 2003, trong khi đó xuất khẩu của Hàn Quốc đạt 3.328,5 triệu đôla Mỹ, tăng26,8% đưa tổng kim ngạch lên tới hơn 3,9 tỷ đôla Mỹ.

- Năm 2005, xuất khẩu của Việt Nam đạt 694,04 triệu US$, tăng 5,4% so vớinăm 2004, trong khi đó xuất khẩu của Hàn Quốc đạt 3.431, 65 triệu US$, tăng 3,1%

- Thương mại giữa hai nước trong năm 2005 vẫn tiếp tục tăng trưởng nhưng đã

có dấu hiệu chững lại Xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2004 có mức tăng cao là

do trong năm này ta đã xuất được dầu thô với trị giá 51,64 triệu US$ Trong năm

2005, do Hàn Quốc không mua dầu thô nữa nên kim ngạch chung không tăng Tuynhiên, nếu không tính dầu thô, thì xuất khẩu của ta vẫn tăng khoảng 10%

 Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Hàn Quốc là thủy hảisản, dầu thô, than đá, máy móc thiết bị điện và phụ tùng, giầy dép, đồ gỗ, thủy sảnchế biến, cao su, đồ gia dụng, quần áo may sẵn, sắn lát, cà phê Thủy sản vẫn là mặthàng xuất khẩu của Việt Nam có kim ngạch cao nhất, chiếm khoảng 23% tổng kimngạch xuất khẩu của ta, tiếp theo là các mặt hàng giày dép, đồ gỗ, cà phê, cao su.Đặc biệt giày dép, đồ gỗ, cà phê và cao su là các mặt hàng có mức tăng trưởng caotrong cả năm 2005 và 2 tháng đầu năm 2006 Các mặt hàng nhiên liệu khoáng nhưthan đá, dầu thô có mức giảm tới 68,8% do năm 2005 ta không xuất được dầu thô.Riêng mặt hàng than đá có mức tăng khá trong những năm vừa qua thì năm naycũng giảm 8,4%

 Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ Hàn Quốc của Việt Nam là xăng dầu,máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị điện và phụ kiện, nhựa plastic và chếphẩm, tơ sợi nhân tạo, vải dệt kim các loại và các loại vải khác, sắt thép, nhôm vàcác chế phẩm, giầy dép, giấy, tân dược Tuy nhiên, việc nhập khẩu các mặt hàng

Trang 9

này có chiều hướng tăng ít hoặc giảm dần Cụ thể là trong năm 2005 nhập khẩu máymóc thiết bị giảm 5,7%, ô tô xe máy giảm 2,9%, sợi nhân tạo giảm 11,9%.

 Trong 5 năm trở lại đây, kim ngạch buôn bán giữa hai nước tiếp tục tăngtrưởng Tuy nhiên, Việt Nam luôn nhập siêu từ Hàn Quốc và với việc kim ngạchtrao đổi hàng hóa giữa hai nước ngày càng tăng thì nhập siêu của Việt Nam ngàycàng lớn Nếu năm 1995 ta nhập siêu hơn 1 tỷ US$ thì năm 2002 ta nhập siêu gần1,8 tỷ US$, năm 2004 ta nhập siêu 2,5 tỷ US$ và năm 2005 con số này đã lên tớihơn 2,74 tỷ US$

Mặc dù vậy, việc nhập siêu từ Hàn Quốc được đánh giá là mang tính tíchcực, phản ánh sự gia tăng đầu tư vào Việt Nam của Hàn Quốc Điều này được thểhiện rất rõ trong cơ cấu nhập khẩu từ Hàn Quốc của Việt Nam với vị trí chủ yếu làcác nhóm hàng công nghiệp như: máy móc, thiết bị và phụ tùng, ôtô (CKD, SKD vànguyên chiếc), nguyên phụ liệu dệt may, chất dẻo nguyên liệu, sắt thép, xăng dầu,linh kiện điện tử và thuốc tân dược Các nhóm hàng này là các hàng hóa mà chúng

ta chưa sản xuất được, và đồng thời lại là nhóm hàng hóa bán sản phẩm sử dụng đểsản xuất và xuất khẩu sang thị trường khác cũng nhu dùng để đầu tư cho phát triểncông việc kinh doanh Nói chung, đa phần các mặt hàng nhập khẩu khiến nhập siêunhanh là các mặt hàng nhập khẩu cho đầu tư, “nhập khẩu có ích“ Phần nhập khẩunày là đầu vào cho xuất khẩu hàng hóa tới thị trường khác như EU, Mỹ, Nhật Bản

 Tính đến hết tháng 9/2011, kim ngạch thương mại hai nước đạt 12,7 tỷ USD,tăng 44,5% so với cùng kỳ năm 2010 Việt Nam và Hàn Quốc đang hướng việcnâng kim ngạch thương mại hai chiều lên 20 tỷ USD trước năm 2015 và hướng tớimục tiêu 30 tỷ USD

Trang 10

KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG HÀN QUỐC

7 THÁNG ĐẦU NĂM 2011

Tổng kim ngạch: 2.596.924.668 USD

Số lượng Trị giá

Trang 11

Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh USD 8.002.012

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm USD 2.247.766

Kim loại thường khác và sản phẩm USD 26.885.662Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện USD 54.420.228

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác USD 74.258.547

(nguồn: Tổng cục Hải quan)

Trang 12

KIM NGẠCH NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM TỪ HÀN QUỐC

7 THÁNG ĐẦU NĂM 2011

Tổng kim ngạch: 6.976.433.988 USD

Số lượng Trị giá (USD)

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc USD 4.850.035Thức ăn gia súc và nguyên liệu USD 12.380.140Nguyên phụ liệu thuốc lá USD 635.645 1.787.850

Trang 13

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày USD 323.572.099

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm USD 14.278.484

Sản phẩm từ kim loại thường khác USD 22.003.944Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện USD 791.268.275Hàng điện gia dụng và linh kiện USD 12.172.082Điện thoại các loại và linh kiện USD 382.329.746Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác USD 666.123.034

Phương tiện vận tải khác và phụ tùng USD 6.779.430

(nguồn: Tổng cục Hải quan)

Trang 14

1.2 Đầu tư – vốn ODA

a) Đầu tư

Sau khi Luật đầu tư nước ngoài được ban hành tại Việt Nam, các công ty HànQuốc đã có mặt và hoạt động đầu tư của họ ngày càng đa dạng và sối động hơn.Lượng FDI Hàn Quốc đổ vào Việt Nam ngày càng tăng Tình đến tháng 6/2005, đầu

tư của Hàn Quốc vào Việt Nam đứng thứ tư về tổng vốn đầu tư, đạt gần 4,8 tỷ USDvới 916 dự án Phần lớn các dự án có quy mô vừa và nhỏ, vốn trung bình cho một

dự án là 6.186 triệu USD Tuy nhiên, cũng có nhiều dự án lớn trị giá hàng chục triệuUSD, chủ yếu là của các tập đoàn lớn như Huyndai, Deawoo, Samsung, LG

Cho đến tháng 8/2011, Hàn Quốc đã giữ vị trí nhà đầu tư lớn nhất của Việt Namvới tổng vốn với hơn 2800 dự áncòn hiệu lực và tổng vốn đăng ký đạt 23,3 tỷ USD.Doanh nghiệp Hàn Quốc còn chuyển hướng đầu tư nhiều vào lĩnh vực điện tử vàphụ tùng, thay vì dệt-may, da-giày như trước kia

Bất chấp tình hình kinh tế khó khăn chung toàn cầu, Hàn Quốc đã đầu tư 163 dự

án với tổng số vốn đăng ký hơn 428 triệu USD trong 9 tháng đầu năm 2011 Đây làtín hiệu tích cực cho thấy nhà đầu tư Hàn Quốc quan tâm tới Việt Nam, chọn ViệtNam là điểm đến đầu tư

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA HÀN QUỐC VÀO VIỆT NAM

Năm 2009 2010 7 tháng đầu năm 2011

Số vốn đăng ký (triệu USD) 16,2 tỷ USD 22,5 tỷ USD 23,4 tỷ USD

Trang 15

(nguồn: Tổng cục Hải quan)

b) ODA

Vốn ODA của Hàn Quốc vào Việt Nam dưới 2 hình thức: viện trợ không hoànlại và cấp tín dụng ưu đãi Thông qua Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc (KOICA)trong giai đoạn 1991 – 2004, Việt Nam nhận được 47,37 triệu USD dưới hình thứcviện trợ không hoàn lại

Nguồn vồn này được phân bổ vào lĩnh vực y tế, giáo dục, tăng cường năng lựcnghiên cứu chính sách khoa học công nghệ, gửi chuyên gia và thanh niên tìnhnguyện Hàn Quốc sang công tác tại Việt Nam, gửi học viên và các chuyên gia ViệtNam sang công tác và học tập tại Hàn Quốc Cấp tín dụng ưu đãi là hình thức cungcấp vốn ODA khác của Hàn Quốc sang Việt Nam

Tháng 5/2011,thông qua Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc (KoreaEximbank) – đơn vị điều hành Quỹ hợp tác phát triển kinh tế đối ngoại Hàn Quốc(EDCF) , Chính phủ Hàn Quốc đã hỗ trợ nguồn vốn ODA cho 36 dự án hạ tầng giaothông, y tế, giáo dục, môi trường,…ở Việt Nam với hơn 1.430 tỷ won Trong đó cónhiều dự án lớn về giao thông như đường hành lang ven biển phía Nam, đường caotốc Hà Nội – Hải Phòng, cầu Vĩnh Thịnh, hệ thống quản lý giao thông đường caotốc Tp Hồ Chí Minh – Trung Lương…

Năm 2010, Hàn Quốc đã tài trợ 300 triệu USD, cam kết trong năm 2011 sẽ tàitrợ 411,8 triệu USD, tăng 52,5% so với năm trước.Từ năm 2007 đến nay, tổng vốnODA Hàn Quốc hỗ trợ cho Việt Nam là 150 triệu USD, trong đó 20 triệu USD làviện trợ không hoàn lại Trong thời gian tới, nguồn vốn này sẽ tiếp tục tăng và tậptrung vào ba lĩnh vực trọng điểm là môi trường và tăng trưởng xanh, phát triểnnguồn nhân lực và nâng cao cơ sở hạ tầng giao thông

Ngày đăng: 21/05/2014, 12:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w