1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Đề tài nghiên cứu Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong năm

20 879 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 432 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lao động sau đào tạo nghỉ việc tự lập cơ sở sản xuất hoặc chuyển qua các ngành có thu nhập cao, làm cho đơn vị sản xuất thủ công mỹ nghệ thường gặp khó khăn về lao động có tay nghề. Các đơn vị sản xuất nhỏ thường thiếu thông tin, thiếu vốn, khả năng tiếp thị và xúc tiến thương mại rất hạn chế, hàng hoá nhiều lúc phải bán qua nhiều trung gian, làm cho giá bán thấp, sản xuất thiếu hiệu quả, không có khả năng đầu tư mở rộng nhà xưởng, mua sắm trang bị và cải tiến máy móc thiết bị, hạn chế việc phát triển và nâng cao chất lượng lẫn số lượng sản phẩm.

Trang 1

LUẬN VĂN

ĐỀ TÀI

TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU HÀNG THỦ

CÔNG MỸ NGHỆ TRONG NĂM

TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

MỞ ĐẦU

Sản phẩm thủ công mỹ nghệ là mặt hàng có truyền thống lâu đời của Việt Nam, và được xuất khẩu khá sớm so với các mặt hàng khác, đã đóng góp tích cực vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đồng thời có một vai trò quan trọng trong giải quyết một số vấn đề kinh tế xã hội tại nông thôn

Hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam ngày càng mở rông thị trường tiêu thụ Hiện tại hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã có mặt tại 163 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, cũng là mặt hàng có tiềm năng tăng trưởng xuất khẩu rất lớn Mặc

dù ngành thủ công mỹ nghệ có kim ngạch xuất khẩu không cao so sánh nhiều mặt hàng xuất khẩu khác, nhưng hàng mỹ nghệ lại mang về cho đất nước thực thu ngoại

tệ có một tỷ trọng rất cao trong kim ngạch xuất khẩu của mình So với một số mặt hàng khác như may mặc, gỗ và giày da do nguyên liệu đều phải nhập khẩu từ nước ngoài giá trị gia tăng của các ngành này chủ yếu là chi phí gia công và khấu hao máy móc thiết bị, cho nên giá trị thực thu ngoại tệ mang về cho đất nước chỉ chiếm một tỷ trọng từ 5-20% trong tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu Nhưng đối với hàng thủ công mỹ nghệ do sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước đặc biệt là các nguồn nguyên vật liệu, được thu lượm từ phế liệu và thứ liệu của nông lâm sản, chẳng những mang lại hiệu quả từ thực thu giá trị ngoại tệ rất cao, có những mặt hàng thủ công mỹ nghệ như đạt 100% giá trị xuất khẩu, còn lại cũng đạt trên 80% giá trị kim ngạch xuất khẩu, đồng thời xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đã giúp xã hội thu hồi một bộ phận chất thải nôngnghiệp sau chế biến và thu hoạch, đã biến phế liệu trở thành những sản phẩm xuất khẩu, góp phần tích cực cho việc bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế đất nước

Tuy nhiên mức độ phát triển của ngành thủ công mỹ nghệ vẫn còn hạn chế so với tiềm năng của nó: đặc biệt những năm gần đây doanh thu xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệ mặc dù có tăng trưởng nhưng vẫn không đạt được chỉ tiêu đề ra, ngoài một số mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ còn lại đã

Trang 3

bộc lộ nhiều điểm yếu Mẫu mã sản phẩm chậm cải tiến, thiếu mặt hàng mới, kiểu dáng sản phẩm không theo kịp tập quán và thói quen tiêu dùng của thị trường xuất khẩu, sản phẩm không dự đoán được những biến đổi khí hậu của từng địa phương Sản phẩm thiếu đồng bộ, tính hoàn thiện sản phẩm còn thấp, công dụng không rõ nét, độ an toàn chưa được chú ý, bao bì không hấp dẫn đặc biệt là thiếu sản phẩm được thiết kế kiểu dáng sáng tạo từ đơn vị trực tiếp sản xuất, chi phí giá thành sản phẩm vẫn còn cao, làm giảm đi khả năng cạnh tranh của hàng hoá Những mặt hàng được sản xuất mang đặc tính và tượng trưng của từng địa phương còn hạn chế, chưa gây được ấn tượng mạnh cho người tiêu dùng và các nhà phân phối

Mặc dù có trên 200 làng nghề, 1,4 triệu lao động và 1000 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ, nhưng đa số vẫn là các đơn vị vừa và nhỏ, quy mô sản xuất không lớn, nhà xưởng sản xuất còn thiếu và máy móc thiết bị phụ trợ sản xuất còn đơn sơ, lạc hậu không đáp ứng được nhu cầu của những đơn hàng lớn, hoặc khi có đơn hàng lớn lại gặp phải thiếu nguyên liệu, thiếu lao động, phải huy động các cơ sở gia công riêng lẻ, dẫn đến chất lượng hàng hoá không ổn định, hoặc thời gian giao hàng kéo dài không đảm bảo được thời gian hợp đồng

Sự liên kết giữa các nhà sản xuất và kinh doanh còn hạn chế, thiếu chiến lược cộng tác lâu dài Hợp tác giữa nhà sản xuất và nhà sản xuất không được quan tâm, thiếu tin cậy lẫn nhau: tranh mua tranh bán, làm giảm hiệu quả kinh doanh, chưa phát huy được thế mạnh của cộng đông Lực lượng lao động thiếu ổn định do thu nhập của ngành mỹ nghệ còn thấp so với các ngành khác Lao động sau đào tạo nghỉ việc tự lập cơ sở sản xuất hoặc chuyển qua các ngành có thu nhập cao, làm cho đơn vị sản xuất thủ công mỹ nghệ thường gặp khó khăn về lao động có tay nghề Các đơn vị sản xuất nhỏ thường thiếu thông tin, thiếu vốn, khả năng tiếp thị và xúc tiến thương mại rất hạn chế, hàng hoá nhiều lúc phải bán qua nhiều trung gian, làm cho giá bán thấp, sản xuất thiếu hiệu quả, không có khả năng đầu tư mở rộng nhà xưởng, mua sắm trang bị và cải tiến máy móc thiết bị, hạn chế việc phát triển và nâng cao chất lượng lẫn số lượng sản phẩm

Trang 4

Những khó khăn trên là lý do làm cho kim ngạch suất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ năm 2011 có những giảm sút đáng kể, sự phân tích sẽ góp phần đưa ra giải pháp cho hướng đi của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trong tương lai

NỘI DUNG

I Tình hình chung của việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam có sự tăng trưởng mạnh trong 10 năm gần đây, từ 274 triệu USD năm 2000 đến 880 triệu USD năm

2009 Trong năm 2009, kim ngạch xuất khẩu có sự chững lại do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu

BIỂU ĐỒ KIM NGẠCH XUẤT KHẨU THỦ CÔNG MỸ NGHỆ

QUA CÁC NĂM

Nguồn số liệu: theo Cục tài chính hải quan

1 Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong năm 2010

Trang 5

Kim ngạch xuất khẩu thủ công trong quý I nặm 2010 đạt gần 180 triệu USD Thị trường xuất khẩu thủ công mỹ nghệ chủ yếu trong quý I là Mỹ, Nhật Bản,Pháp, Đức, Đài Loan, Trong đó, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Pháp tăng khá mạnh, tăng tới 31.4% so với cùng kỳ năm trước Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ và Đức cũng tăng nhẹ, tăng 2,3% và 1,1% Trong khi đó, kim ngạch xuất sang thị trường Nhật Bản giảm 35,2%; Australia giảm 86,4% Trong các mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu quý I năm nay, kim ngạch xuất khẩu gốm sứ đạt cao nhất với 80,6 triệu USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước

Trong quý 2/2010, tình hình xuất khẩu có những tiến triển rất tích cực Tính chung 5 tháng đầu năm 2010, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm mây tre lá của Việt Nam đạt 82,3 triệu USD chiếm 0,32% tổng kim ngạch, tăng 14,92% so với cùng kỳ Tính chung 5 tháng đầu năm 2010, Nhật Bản là thị trường chủ yếu nhập khẩu sản phẩm mây, tre, cói thảm của Việt Nam 5 tháng đầu năm 2010, Việt Nam đã xuất khẩu 12,7 triệu USD sản phẩm mây, tre, cói thảm sang thị trường Nhật Bản, chiếm 13,99% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm này trong 5 tháng, tăng 20,91% so với cùng kỳ năm 2009

Bên cạnh sản phẩm mây tre lá, tính chung 5 tháng đầu năm 2010, cả nước đã xuất khẩu 129,7 triệu USD sản phẩm gốm sứ, chiếm 0,5% kim ngạch xuất khẩu của

cả nước, tăng 15,65% so với cùng kỳ năm ngoái và Nhật Bản cũng là thị trường xuất khẩu chính sản phẩm gốm sứ của Việt Nam với kim ngạch đạt 14,8 triệu USD, chiếm 11,48% kim ngạch xuất khẩu sản phẩm này, nhưng nếu so với cùng kỳ năm ngoái, thì kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gốm sứ sang thị trường Hoa Kỳ lại giảm 2,11% Đứng thứ hai sau thị trường Nhật Bản là Hoa Kỳ, đạt 14,4 triệu USD, chiếm 11,13% kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gốm sứ của cả nước, nhưng so với cùng kỳ năm 2009 thì lại giảm 3,72%

2 Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong 3 quý đầu năm 2011

Trang 6

a Hàng mây tre cói

Dẫn nguồn số liệu từ cục tài chính hải quan, xuất khẩu mây, tre, cói thảm trong nửa đầu năm 2011 đã thu về cho Việt Nam 97,5 triệu USD, giảm 2,11% so với cùng kỳ năm 2010 Trong đó kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong tháng đạt 16,5 triệu USD, tăng nhẹ so với tháng liền kề trước đó (tăng 1,9%), nhưng giảm 4,04% so với tháng 6/2010

Số thị trường tăng trưởng về kim ngạch trong hai quý đầu năm chiếm 52%, trong đó tăng trưởng mạnh nhất là thị trường Cananda với kim ngạch trong tháng đạt 244 nghìn USD, tăng 9,2% so với tháng 5/2011 và tăng 16,6% so với tháng 6/2010, nâng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này hai quý đầu năm lên 1,8 triệu USD, tăng 57,73% so với cùng kỳ năm trước

Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm mây, tre, cói thảm tháng 9/2011 đạt 15,2 triệu USD, giảm 9,15% so với tháng 8 và giảm 5,75% so với tháng 9/2010 Tính chung 3 quý năm 2011, xuất khẩu mặt hàng này đạt 151,4 triệu USD, giảm 5,01% so với cùng kỳ năm 2010

Nhìn chung, xuất khẩu mây, tre, cói thảm từ đầu năm đến hết tháng 9 đều giảm kim ngạch ở hầu khắp các thị trường

Hoa kỳ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Ôxtraylia… là những thị trường chính nhập khẩu hàng mây , tre, cói thảm của Việt Nam Hoa kỳ - thị trường chính, chiếm 15,8% tỷ trọng, đạt kim ngạch cao nhất trong 3 quý đầu năm 22,7 triệu USD, giảm 4,98% so với cùng kỳ, tính riêng tháng 9 xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường Hoa Kỳ đạt 2,38 triệu USD, giảm 15,44% so với tháng 8 và giảm 17,74% so với tháng 9/2010

Tuy đứng thứ hai về kim ngạch, 2,36 triệu USD trong tháng 9, nhưng xuất khẩu mây, tre, cói thảm sang Nhật Bản trong tháng 9 lại tăng so với tháng liền kề

Trang 7

trước đó, tăng 4,76% và tăng 2,37% so với tháng 9/2010 Tuy nhiên, nếu tính 3 quý đầu năm 2011, thì xuất khẩu mây, tre, cói thảm sang thị trường này lại giảm 13,82% so với cùng kỳ năm trước, tương đương với 20,2 triệu USD

Nhật Bản là thị trường tiêu thụ hàng mây, tre, cói và thảm lớn của Việt Nam, chiếm trên khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của cả nước Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang Nhật đạt gần 29 triệu USD, tăng 10% so với năm 2009 Tính đến hết tháng 4 năm 2011, kim ngạch mặt hàng này của Việt Nam đạt 64,67 triệu USD, riêng thị trường Nhật thì đạt 9,41 triệu USD, giảm nhẹ 10% so với cùng kỳ năm ngoái Riêng tháng 4, kim ngạch giảm 8% (đạt 2,9 triệu USD)

THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM MÂY, TRE, CÓI THẢM

NỬA ĐẦU NĂM 2011 (ĐVT: USD)

Thị trường

KNXK T6

KNXK 6T/

2011

KNXK 6T/

2010

% tăng giảm KN

so T5/2011

% tăng giảm KN

so T6/2010

% tăng giảm KN

so cùng kỳ Tổng kim

ngạch

16.570.56 8 97.507.410 99.613.699 1,90 -4,04 -2,11

Hoa Kỳ 2.560.367 14.821.488 14.611.442 -1,65 -14,56 1,44 Nhật Bản 2.298.226 14.151.721 16.204.136 1,41 -32,65 -12,67 Đức 1.826.685 13.668.153 13.625.107 -6,62 12,03 0,32 Pháp 642.702 4.457.154 5.017.333 -5,09 -3,98 -11,16 Oxtrâylia 940.393 4.282.389 4.439.007 14,81 20,97 -3,53 Đài Loan 807.880 3.856.698 4.085.843 -0,20 9,18 -5,61

Hà Lan 228.657 3.647.077 4.346.492 -23,88 -47,62 -16,09 Anh 374.964 3.469.734 2.828.364 -41,28 -13,78 22,68 Italia 614.343 3.194.374 3.151.702 14,52 55,73 1,35 Hàn Quốc 531.071 2.912.908 2.606.026 2,77 2,79 11,78 Tây Ban Nha 573.648 2.885.492 3.059.246 -4,48 -11,70 -5,68

Trang 8

Ba Lan 646.801 2.517.479 1.954.828 -27,31 110,99 28,78 Nga 652.919 2.285.171 2.445.141 92,88 76,14 -6,54

Bỉ 352.036 2.235.387 2.954.088 11,13 14,30 -24,33 Canada 244.041 1.861.586 1.180.273 9,26 16,66 57,73 Thuỵ Điển 139.490 1.232.774 924.831 18,63 -23,26 33,30 Đan Mạch 152.452 1.043.606 861.042 -26,69 22,64 21,20

Nguồn số liệu: theo Cục tài chính hải quan

THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM MÂY, TRE, CÓI THẢM

QUÍ 3/2011 (ĐVT: USD) Thị trường KNXK

T9/2011

KNXK 9T/

2011

KNXK 9T/2010

% tăng giảm so T8-2011

% tăng giảm so T9/2010

% tăng giảm so cùng kỳ Tổng KN 15.211.973 143.904.606 151.488.454 -9,15 -5,75 -5,01

Hoa Kỳ 2.388.259 22.740.917 23.933.018 -15,44 -17,74 -4,98 Nhật Bản 2.363.196 20.268.681 23.518.091 4,76 2,37 -13,82 Đức 1.904.775 19.355.480 19.598.626 1,62 4,48 -1,24 Pháp 987.360 6.867.025 7.122.788 13,64 32,93 -3,59 Oxtrâylia 835.519 6.570.580 7.401.700 2,08 -6,46 -11,23 Đài Loan 686.549 5.937.762 6.165.535 -5,95 -1,11 -3,69 Anh 364.895 4.851.835 4.791.131 -23,44 -32,39 1,27

Ba Lan 596.845 4.755.298 2.981.147 -40,54 63,69 59,51

Hà Lan 300.880 4.706.200 6.395.405 4,89 -47,73 -26,41 Italia 417.201 4.644.224 4.697.621 -25,43 -8,54 -1,14 Tây Ban Nha 527.527 4.441.826 4.577.621 3,05 8,27 -2,97 Hàn Quốc 423.695 4.301.402 3.932.739 -26,35 46,13 9,37 Nga 394.507 3.444.268 3.556.430 0,11 -11,50 -3,15

Bỉ 546.992 3.332.949 4.374.468 82,45 8,79 -23,81

Trang 9

Canada 244.763 2.758.281 1.812.142 -33,40 18,28 52,21 Thuỵ Điển 160.386 1.714.294 1.578.605 -10,52 -23,59 8,60 Đan Mạch 165.570 1.507.213 1.228.335 * 38,11 22,70

Nguồn số liệu: theo Cục tài chính hải quan

BIỂU ĐỒ KIM NGẠCH XUẤT KHẨU HÀNG MÂY TRE CÓI THẢM

3 QUÝ ĐẦU NĂM 2011

Nguồn số liệu: theo Cục tài chính hải quan

Trang 10

Hàng gốm sứ

Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gốm sứ trong tháng 9 đạt trên 27 triệu USD, giảm 7,38% so với tháng 8, nhưng tăng 22,39% so với tháng 9/2010, nâng kim ngạch 9 tháng đầu năm 2011 lên 253,4 triệu USD, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước

Nhật Bản, Đài Loan, Hoa Kỳ, Thái Lan… là những thị trường chính xuất khẩu hàng gốm sứ của Việt Nam từ đầu năm đến hết tháng 9

Nhật Bản – thị trường đạt kim ngạch cao trong tháng với 5 triệu USD, tăng 6,21% so với tháng liền kề trước đó và tăng 78,13% so với tháng 9/2010 Tính đến hết tháng 9, Việt Nam đã xuất khẩu 36,2 triệu USD hàng gốm sứ sang Nhật Bản, chiếm 14,6% tỷ trọng, tăng 41,55% so với cùng kỳ năm 2010

Đứng thứ hai là thị trường Đài Loan với 3,3 triệu tấn, tăng 7,37% so với tháng

8 và tăng 68,07% so với tháng 9/2010, nâng kim ngạch 9 tháng đầu năm hàng gốm

sứ sang Đài Loan lên 27,7 triệu USD, tăng 13,37% so với 9 tháng năm 2010

Ngoài hai thị trường chính ra Việt Nam còn xuất khẩu sang các thị trường khác nữa như Thái Lan, Đức, Campuchia, Hàn Quốc, Anh…

Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu hàng gốm sứ sang các thị trường trong tháng 9 đều giảm về kim ngạch so với tháng liền kề trước đó Đáng chú ý, xuất khẩu sang thị trường Anh trong tháng 9 là có kim ngạch tăng mạnh hơn cả các thị trường khác so với tháng 8, tăng 45,61%, tương đương với 690,5 nghìn USD

BẢNG THỐNG KÊ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỐM

SỨ 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2011(ĐVT: USD)

Thị trường KNXK

T9/2011

KNXNK 9T/2011

KNXK 9T/2010

% tăng giảm

so T8 -2011

% tăng giảm so T9 – 2010

% tăng giảm so cùng kỳ Trị giá 27.052.265 253.449.329 212.082.823 -7,38 22,39 19,50

Trang 11

Nhật Bản 5.029.259 37.254.833 26.319.263 6,21 78,13 41,55 Đài Loan 3.343.027 27.763.009 24.488.434 7,37 68,07 13,37 Hoa Kỳ 1.966.719 25.547.413 22.323.299 -2,19 16,70 14,44 Thái Lan 1.805.123 18.473.223 10.078.017 -39,83 27,41 83,30 Đức 950.207 15.980.307 17.635.668 -23,44 9,68 -9,39 Campuchia 1.409.771 15.380.109 11.515.381 -15,40 -4,95 33,56 Oxtrâylia 1.604.140 12.968.239 11.042.261 5,25 -1,95 17,44 Pháp 1.874.092 12.719.029 10.992.082 -25,86 10,70 15,71 Malaysia 2.011.033 8.836.271 6.133.897 41,93 128,70 44,06 Hàn Quốc 705.300 8.185.801 8.248.385 -38,28 -2,90 -0,76 Anh 690.504 7.023.854 7.363.535 45,61 253,01 -4,61

Hà Lan 354.285 3.619.831 4.987.371 8,46 27,18 -27,42 Đan Mạch 298.032 3.371.172 2.394.133 35,21 533,09 40,81 Canada 94.100 2.884.257 2.893.555 -51,61 -63,58 -0,32 Tây Ban Nha 75.682 2.091.908 2.355.357 -80,41 -66,90 -11,19 Italia 121.885 2.085.239 2.043.510 6,98 26,00 2,04 Nga 149.797 1.858.759 1.419.168 -61,43 131,95 30,98

Bỉ 129.150 1.709.379 2.020.772 39,27 43,17 -15,41 Thuỵ Sỹ 1.578.841 1.964.883 * * -19,65 Thuỵ Điển 114.321 1.253.436 1.351.199 -6,26 366,35 -7,24 Trung Quốc 92.380 1.030.009 1.331.966 -27,83 -56,55 -22,67

Nguồn số liệu: theo Cục tài chính hải quan

BIỀU ĐỒ KIM NGẠCH XUẤT KHẨU HÀNG GỐM SỨ

3 QUÝ ĐẦU NĂM 2011

Trang 12

Hiệp Hội Gốm sứ xây dựng Việt Nam cho biết, hiện tại năng lực sản xuất gạch ốp lát của nước ta đạt tới 426 triệu m2/năm và đang đứng thứ 6 trong Top 10 nước sản xuất gạch ốp lát hàng đầu thế giới

Tuy nhiên do nhu cầu thị trường, đến thời điểm hiện tại ngành gạch ốp lát Việt Nam chỉ phát huy được khoảng 70% công suất và liên tục tồn kho gần 30 triệu m2 tương ứng gần 2000 tỷ đồng

Nguyên nhân là do năm 2011 thị trường xây dựng giảm trong khi mọi chi phí đầu vào cho sản xuất như vốn, nguyên liệu, lao động… đều tăng cao Hầu hết các doanh nghiệp trong ngành đều phải tiết giảm năng lực sản xuất, có đơn vị giảm tới 40% dẫn tới chi phí bình quân càng tăng cao, tính cạnh tranh kém, nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với tình trạng thua lỗ Mặt khác, Việt Nam vẫn đang phải nhập khẩu một lượng lớn gạch ốp lát và gốm sứ từ Trung Quốc và việc kiểm soát lượng gạch nhập khẩu còn gặp khó khăn Năm 2011, gạch ốp lát Trung Quốc nhập vào nước ta ngày càng tăng Trong đó hàng lậu và gian lận thương mại diễn ra phức tạp, tinh vi và gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất gạch ốp lát trong nước

Ngày đăng: 21/05/2014, 12:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG THỐNG KÊ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỐM - Luận văn Đề tài nghiên cứu Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong năm
BẢNG THỐNG KÊ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỐM (Trang 10)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w