1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận Văn Thạc Sĩ) Nghĩa Vụ Của Người Quản Lý Công Ty Theo Pháp Luật Việt Nam

95 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghĩa Vụ Của Người Quản Lý Công Ty Theo Pháp Luật Việt Nam, So Sánh Với Pháp Luật Của Vương Quốc Anh
Trường học University
Chuyên ngành Law
Thể loại Thesis
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 163,17 KB
File đính kèm 1. Luận văn thạc sĩ.zip (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của các nghĩa vụ cũng thỏa mãn được tiêu chuẩn về tính minh bạch và hợp lý. Từ góc độ so sánh, các quy định của pháp luật Anh Quốc và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng, đặc biệt là về cơ sở lý luận và nội dung. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện đang thiếu đi sự giải thích và cơ chế áp dụng của pháp luật, điều này khiến cho quy định pháp luật – dù minh bạch và hợp lý – trở nên khó ứng dụng

Trang 1

NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM, SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT CỦA

VƯƠNG QUỐC ANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ Luận văn đạt trên 8 điểm

Trang 2

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là hệ thống quy định pháp luật về nghĩa

vụ của Người quản lý công ty theo pháp luật Việt Nam và Vương Quốc Anh Cụ thể,Luận văn trình bày các vấn đề sau: (i) Bản chất mối quan hệ giữa công ty và ngườiquản lý công ty; (ii) Rủi ro của vấn đề Người đại diện đối với công ty; (iii) Cơ sở lýluận của chế định nghĩa vụ của người quản lý công ty; (iv) Các nghĩa vụ mà ngườiquản lý công ty phải tuân thủ trong suốt quá trình thực thi nhiệm vụ và chế tài tươngứng nếu vi phạm nghĩa vụ Mục tiêu của Luận văn là đánh giá và phát hiện được cácvấn đề tồn tại trong thực trạng pháp luật Việt Nam và đưa ra đề xuất hoàn thiện Các

đề xuất này không nhằm thay đổi quy định pháp luật hiện hành Thay vào đó, mụcđích của các đề xuất này là để nâng cao hiệu quả áp dụng của pháp luật

Để thực hiện điều đó, Luận văn nghiên cứu Luật Doanh nghiệp 2020 của ViệtNam; Đạo luật Công ty 2006 của Vương Quốc Anh và một số án lệ, bản án của cácquốc gia Thông qua việc phân tích và so sánh hai hệ thống pháp luật, người viết chỉ

ra một số thiếu sót trong quy định của pháp luật Việt Nam và giải quyết chúng bằngcách nghiên cứu phương hướng theo pháp luật Vương Quốc Anh

Luận văn đi tới kết luận như sau: Nhìn chung, hệ thống quy định pháp luậtViệt Nam về nghĩa vụ của người quản lý công ty đã bao quát được các khía cạnh củanghĩa vụ người quản lý công ty, đảm bảo không bỏ sót Nội dung của các nghĩa vụcũng thỏa mãn được tiêu chuẩn về tính minh bạch và hợp lý Từ góc độ so sánh, cácquy định của pháp luật Anh Quốc và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng, đặc biệt

là về cơ sở lý luận và nội dung Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện đang thiếu đi sựgiải thích và cơ chế áp dụng của pháp luật, điều này khiến cho quy định pháp luật –

dù minh bạch và hợp lý – trở nên khó ứng dụng Nhằm thay đổi điều đó, Luận văn đềxuất một số bổ sung nhằm làm rõ các quy định hiện hành, bao gồm:

Thứ nhất Mở rộng phạm vi chủ thể chịu nghĩa vụ của người quản lý công ty

cho hai đối tượng người quản lý thực tế và người quản lý giấu mặt;

Thứ hai Làm rõ định nghĩa giao dịch có nguy cơ xung đột lợi ích và nguyên

tắc ứng xử của người quản lý công ty;

Trang 3

Thứ ba Làm rõ nghĩa vụ không tước đoạt cơ hội kinh doanh của công ty, bao

gồm phương pháp nhận diện hành vi vi phạm, chế tài và ngoại lệ;

Cuối cùng, Làm rõ tiêu chuẩn cẩn trọng, mẫn cán của người quản lý công ty.

Trang 4

This Thesis main subject is on the law system on company managerialofficers' duties according to Vietnam Law and United Kingdom Law In particular,the Thesis shall present: (i) The nature of the relationship between company and itsmanagerial officers; (ii) The risk of Agency Problem to companies; (iii) Thetheoretical base of the law system on managerial officers' duties; (iv) The duties thatmanagerial officers must always comply with in his/her post and the correspondingremedies applied for violations The goal of this Thesis is to review and detect theproblems existing in Vietnam Law in comparison with practicability and proposesome methods to supplement them The supplement does not have a purpose ofrevising the current law as it is not necessary Instead, its main purpose is to enhancethe effectiveness and applicability of the current Law

In order to do that, the Thesis shall research on the Law on Enterprise 2020 ofVietnam; United Kingdom Company Act 2006 and some related case law orjudgements from both countries By analyzing and comparing both law systems, thewriter demonstrates some lacking points in Vietnam Law and tries to solve it bystudying the corresponding directions presented in the United Kingdom Law

The Thesis conclusion is that: Generally, the law system on companymanagerial officers' duties according to Vietnam Law has covered all the aspects ofmanagerial officers' duties, guaranteeing not to leave out any obligations The content

of the duties also meets the standards for transparency and reasonableness From acomparative perspective, the law on the mentioned subject of Vietnam and the UnitedKingdom has many similarities, especially in the theoretical base and the content ofthe duties However, Vietnam Law is currently lacking the explanation andapplication mechanism of the law, which makes Vietnam Law – even transparent andreasonable – become unmeaningful and hardly being used in reality In order tochange that, the Thesis suggest to supplement some content to clarify the current law,include:

Trang 5

Firstly, Extend the subject of company managerial officers' duties into de-

facto and shadow managerial officers;

Secondly, Clarify the definition of transactions having conflict of interest and

the behavior principle of company managerial officers;

Thirdly, Clarify the obligation of not taking companies' opportunities,

including identifying the violation, the remedy and its exception;

Lastly, Clarify the standards of care and diligence of the company managerial

officers

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 5

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 5

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY 8

1.1 Những vấn đề lý luận chung về nghĩa vụ của người quản lý công ty 8

1.1.1 Khái niệm người quản lý công ty 8

1.1.2 Cơ sở lý luận của nghĩa vụ của người quản lý công ty 14

1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam và Anh về nghĩa vụ của người quản lý công ty 20 1.2.1 Quy định về nghĩa vụ của người quản lý công ty trong pháp luật Việt Nam 20

1.2.1.1 Nghĩa vụ trung thành với lợi ích của công ty 20

a) Xử sự bắt buộc của người quản lý công ty trong giao dịch có nguy cơ tư lợi 21

b) Nghĩa vụ không chiếm đoạt tài sản, thông tin của công ty 25

c) Nghĩa vụ không chiếm đoạt cơ hội kinh doanh của công ty 28

1.2.1.2 Nghĩa vụ cẩn trọng, mẫn cán 30

1.2.2 Quy định về nghĩa vụ của người quản lý công ty trong pháp luật Anh 36

1.2.2.1 Nghĩa vụ trung thành 38

1.2.2.2 Nghĩa vụ thúc đẩy sự thành công của công ty 44

1.2.2.3 Nghĩa vụ hành động trong phạm vi quyền hạn được công ty giao phó 47

Trang 7

1.2.2.4 Nghĩa vụ quản lý công ty một cách cẩn trọng và chuyên nghiệp 50

1.3 Nhận xét so sánh quy định của pháp luật Việt Nam và Anh Quốc về nghĩa vụ của người quản lý công ty 54

1.3.1 Nhận xét so sánh về chủ thể chịu nghĩa vụ của người quản lý công ty trong pháp luật Việt Nam và Anh Quốc 54

1.3.2 Nhận xét so sánh về nhóm các nghĩa vụ trung thành trong pháp luật Việt Nam và Anh Quốc 56

1.3.2.1 Vấn đề thứ nhất Phương pháp nhận diện giao dịch có nguy cơ tư lợi 56

1.3.2.2 Vấn đề thứ hai Nghĩa vụ không tước đoạt cơ hội kinh doanh của công ty 58 1.3.3 Nhận xét so sánh về nghĩa vụ quản lý công ty một cách cẩn trọng, mẫn cán trong pháp luật Việt Nam và Anh Quốc 59

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHẾ ĐỊNH NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG 61

2.1 Đề xuất thứ nhất Mở rộng phạm vi chủ thể chịu nghĩa vụ của người quản lý công ty 62

a) Thực trạng quy định pháp luật hiện hành 62

b) Đề xuất nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật 64

2.2 Đề xuất thứ hai Làm rõ nghĩa vụ trung thành của người quản lý công ty 65

2.2.1 Nội dung về xử sự bắt buộc của người quản lý công ty trong giao dịch có nguy cơ tư lợi 65

a) Thực trạng quy định pháp luật hiện hành 65

b) Đề xuất nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật 67

2.2.2 Nghĩa vụ không tước đoạt cơ hội kinh doanh của công ty 68

2.2.2.1 Vấn đề thứ nhất Phương pháp nhận diện hành vi tước đoạt cơ hội kinh doanh của công ty 69

Trang 8

a) Thực trạng quy định pháp luật hiện hành 69

b) Đề xuất nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật 71

2.2.2.2 Vấn đề thứ hai Chế tài của hành vi vi phạm 72

a) Thực trạng quy định pháp luật hiện hành 72

b) Đề xuất nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật 73

2.3 Đề xuất thứ ba Đặt ra tiêu chuẩn cho nghĩa vụ cẩn trọng, mẫn cán của người quản lý công ty 75

a) Thực trạng quy định pháp luật hiện hành 75

b) Đề xuất nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật 77

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam đã và đang đạt được nhiều thànhtựu trong chặng đường xây dựng nền kinh tế vững mạnh Để đạt được kết quả nhưhiện tại, các thiết chế pháp lý về kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng Những thiếtchế này góp phần duy trì trật tự, tính ổn định và tính dự báo trước của môi trườngkinh doanh, phần nào làm giảm đi những rủi ro cho các nhà đầu tư Như vậy, xâydựng và phát triển pháp luật kinh doanh chính là một yêu cầu cấp thiết để phát triểnkinh tế nước ta

Sau khi đã thành lập và đi vào hoạt động, thông thường các nhà đầu tư (chính

là thành viên, cổ đông) thường không tự mình quản lý công ty Thay vào đó, họ tuyểndụng một số cá nhân khác để quản lý công ty của mình Nguyên nhân là vì việc sửdụng một bộ phận quản lý chuyên trách mang lại cho các nhà đầu tư các lợi ích sau:

Thứ nhất Sử dụng một bộ phận quản lý chuyên trách giúp nâng cao hiệu quả

quản trị công ty, loại bỏ được các thủ tục họp, bầu, lấy ý kiến thành viên, cổ đông gâytốn kém chi phí, thời gian

Thứ hai Khi tuyển dụng những người quản lý, công ty có thể tận dụng được

nguồn kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn và các mối quan hệ kinh doanh của ngườiquản lý công ty

Về lý thuyết, quan hệ giữa người quản lý công ty (gọi tắt là "NQLCT") vớicông ty là quan hệ đại diện Công ty không phải là một thể nhân, do đó nó không thể

tự mình thực hiện các hoạt động của mình Thay vào đó, mọi hành vi của công typhải được thực hiện thông qua NQLCT Cụ thể, NQLCT sẽ thay mặt công ty quản lý

và sử dụng nguồn tài sản trong hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi Vớinhiệm vụ đó, NQLCT được công ty trao thẩm quyền quyết định những vấn đề quantrọng mà có thể ảnh hưởng tới lợi ích của chính công ty

Tuy nhiên, bản thân NQLCT cũng là một chủ thể với những động cơ, mụcđích và mong muốn riêng Do đó, tồn tại rủi ro rằng lợi ích của họ có thể sẽ xung độtvới lợi ích của công ty – đối tượng mà họ có nghĩa vụ phải phục vụ Trong trường

Trang 10

hợp đó, NQLCT có thể sẵn sàng xâm phạm các lợi ích của công ty để đạt được lợi íchcủa mình, hậu quả là những quyền và lợi ích hợp pháp của công ty bị xâm phạm.Một trong những cách giải quyết cho vấn đề này chính là phải chuẩn hóanhững quy tắc xử sự của NQLCT Nói cách khác, cần phải xây dựng và hoàn thiệncác quy định pháp luật về nghĩa vụ pháp lý mà NQLCT có bổn phận tuân theo để bảođảm lợi ích tốt nhất của công ty Trong suốt chiều dài lịch sử phong kiến Việt Nam,với tư tưởng Nho giáo "sĩ, nông, công, thương", người Việt Nam ta không quá xemtrọng công việc kinh doanh Pháp luật kinh doanh – thương mại nói chung và phápluật công ty nói riêng cũng vì thế mà không có cơ hội phát triển Mãi tới tận sau này,chúng ta mới du nhập các lý thuyết, chính sách pháp luật công ty từ các quốc giaphương Tây Tuy nhiên, có thể nói rằng hiện nay, chế định pháp lý về nghĩa vụ củaNQLCT của Việt Nam vẫn còn nhiều điểm bất cập Cụ thể, các quy định pháp luậtnước ta về vấn đề này còn sơ sài, chưa rõ ràng, gây khó khăn trong việc tiếp cận và

áp dụng Tổng thể các hạn chế này khiến cho quy định pháp luật trở nên thiếu sứcsống, tính hiệu quả cũng như khả năng ứng dụng vào thực tiễn bị giới hạn

Ngược lại, bắt nguồn từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ I, một làn sóngđầu tư quy mô lớn tràn qua Vương quốc Anh Kéo theo đó là việc thành lập công ty

để kinh doanh ngày càng trở nên phổ biến Pháp luật công ty Anh trong thời kỳ nàycũng có sự phát triển tương ứng để đáp ứng với sự phát triển của nền kinh tế Cụ thể,nhiều án lệ, học thuyết pháp lý quan trọng về Luật công ty Anh được xây dựng tronggiai đoạn này và vẫn tồn tại tới tận ngày nay Như vậy, có thể thấy về mặt di sản, AnhQuốc đã có truyền thống pháp lý lâu đời về pháp luật công ty nói chung và chế địnhnghĩa vụ của Người quản lý công ty nói riêng

Chính vì những lý do trên, việc học tập pháp luật Anh Quốc nhằm nâng caohiệu quả áp dụng của chế định về nghĩa vụ của NQLCT là vô cùng cần thiết để bảo

vệ lợi ích chính đáng của các công ty và sự lành mạnh của môi trường kinh doanhViệt Nam Đó chính là lý do mà người viết lựa chọn đề tài “Nghĩa vụ của người quản

lý công ty theo pháp luật Việt Nam, so sánh với pháp luật của Vương quốc Anh”

Trang 11

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Hiện nay, ở phạm vi Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học

về chủ đề nghĩa vụ của NQLCT, bao gồm cả sách chuyên khảo, luận văn, luận án, bàibáo khoa học Các công trình này chủ yếu nghiên cứu về các nội dung sau: cơ sở lýluận của quy định pháp luật; nội dung của các nghĩa vụ trung thành và cẩn trọng; cơchế thực thi nghĩa vụ và chế tài do vi phạm nghĩa vụ; phân tích các vụ việc, tìnhhuống thực tế có liên quan Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu nhưsau:

Thứ nhất Đỗ Minh Tuấn (2018) Một số vấn đề pháp lý về nghĩa vụ của

Người quản lý công ty Hà Nội, Việt Nam: Nxb Tư pháp.

Trong cuốn sách này, tác giả phân tích các vấn đề pháp lý về nghĩa vụ củaNQLCT theo pháp luật Việt Nam Tác giả có đặt ra sự so sánh với pháp luật HànQuốc, Đức và Mỹ và đưa ra một số đề xuất cải cách Tuy nhiên, đối tượng nghiêncứu của tác giả là Luật Doanh nghiệp 2014 – hiện đã hết hiệu lực và bị thay thế bởiLuật Doanh nghiệp 2020 Bên cạnh đó, cuốn sách cũng chưa làm rõ vấn đề Phươngpháp nhận diện hành vi tước đoạt cơ hội kinh doanh và Chế tài tương xứng cho hành

vi này

Thứ hai Nguyễn Thị Thái Vân (2010) Nghĩa vụ của Người quản lý công ty

theo Luật Doanh nghiệp 2005 (Luận văn thạc sĩ) Trường Đại học luật Thành phố Hồ

Chí Minh, Việt Nam

Luận văn nghiên cứu các quy định của NQLCT theo Luật Doanh nghiệp 2005

và đưa ra kiến nghị hoàn thiện Hiện nay, Luật Doanh nghiệp 2005 đã chấm dứt hiệulực Ngoài ra, Luận văn cũng chưa phân tích sâu vấn đề chủ thể chịu nghĩa vụ củaNQLCT cũng như tiêu chí của sự cẩn trọng, mẫn cán mà NQLCT phải thể hiện

Thứ ba Nguyễn Thị Hoài Thương (2017) Nghĩa vụ của người quản lý công

ty trong pháp luật Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam (Khóa luận tốt nghiệp) Trường

Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Khóa luận trình bày những lý luận chung về nghĩa vụ của NQLCT trong phápluật Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích thực trạng, đánh giá, so sánh với

Trang 12

pháp luật Anh và Việt Nam, đồng thời đưa ra kiến nghị hoàn thiện Tuy nhiên, khóaluận không phân tích sâu về chủ thể của nghĩa vụ NQLCT theo luật Anh, bao gồmNgười quản lý thực tế và Người quản lý giấu mặt Ngoài ra, khóa luận chưa phân tíchnhững dấu hiệu của hành vi vi phạm cướp đoạt cơ hội kinh doanh của NQLCT.

Thứ tư Phạm Hoài Huấn, Đặng Quốc Chương, Lê Nhật Bảo, Nguyễn Thị

Thanh Lê (2015) Luật Doanh nghiệp, Tình huống – Phân tích – Bình luận Hà Nội,

Việt Nam: Nxb Chính trị Quốc gia Sự Thật

Trong cuốn sách này, các tác giả nghiên cứu nội dung các quy định của LuậtDoanh nghiệp 2014 Ở mỗi chủ đề pháp lý, các tác giả dẫn chiếu một số bản án, tìnhhuống thực tế điển hình để làm ví dụ Tuy nhiên, cuốn sách chỉ giải thích và cắt nghĩaquy định pháp luật mà chưa có sự nhận xét cũng như ý kiến nâng cao hiệu quả ápdụng

Thứ năm Đỗ Minh Tuấn (2016) Nghĩa vụ trung thành của người quản lý

công ty cổ phần Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 5(309), 48-57.

Trong bài báo khoa học này, tác giả phân tích nhóm các nghĩa vụ trung thànhcủa NQLCT trong bối cảnh công ty cổ phần Bao gồm nghĩa vụ không xung đột lợiích và không lạm dụng tài sản, thông tin mật của công ty Cuối bài viết, tác giả đưa

ra một số nhận xét hoàn thiện quy định pháp luật Tuy nhiên, bài viết chưa trình bàyđược vấn đề Chủ thể chịu nghĩa vụ của NQLCT trong công ty cổ phần và Nghĩa vụkhông tước đoạt cơ hội kinh doanh của công ty

Người viết xin chân thành cảm ơn các tác giả, các bậc tiền bối đã dày côngnghiên cứu Các công trình nghiên cứu này đã góp phần xây dựng nên nền móng chokhoa học pháp lý Việt Nam về chế định nghĩa vụ của NQLCT Qua đó tạo ra nguồntài liệu tham khảo bổ ích cho hoạt động áp dụng, thực thi và nghiên cứu pháp luậtnước ta

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về nghĩa vụ của NQLCT hiện nay đều

có căn cứ là các quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 hoặc Luật Doanh nghiệp

2014 Hiện nay, Luật Doanh nghiệp 2020 đã được ban hành và có hiệu lực từ ngày01/01/2021 Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng của các quy

Trang 13

định của Luật Doanh nghiệp 2020 là rất cần thiết Tuy nhiên, do văn bản pháp luậtchỉ mới được ban hành chưa lâu nên chưa có nhiều công trình nghiên cứu theo quyđịnh mới Để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn, Luận văn này sẽ có đối tượng nghiêncứu chính là chế định nghĩa vụ của NQLCT trong Luật Doanh nghiệp 2020.

Bên cạnh điểm mới ở đối tượng nghiên cứu, Luận văn cũng nghiên cứu một

số vấn đề mới, bao gồm:

Thứ nhất Mở rộng chủ thể chịu nghĩa vụ của NQLCT cho cả các đối tượng

Người quản lý thực tế và Người quản lý giấu mặt;

Thứ hai Làm rõ các quy định về nghĩa vụ trung thành của NQLCT.

Thứ ba Đặt ra tiêu chuẩn cho nghĩa vụ cẩn trọng, mẫn cán của NQLCT.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Hiện nay, pháp luật Việt Nam đã có một hệ thống các quy định điều chỉnhnghĩa vụ của NQLCT Tuy nhiên, các quy định này vẫn còn tồn tại một số điểm bấtcập Do đó, cần thiết phải tiến hành nghiên cứu nhằm mục đích nâng cao hiệu quả ápdụng của pháp luật hiện hành

Với mục đích nêu trên, đề tài phải thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật Anh

Quốc về nghĩa vụ của Người quản lý công ty;

Thứ hai Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam, cụ thể là các vấn đề vướng

mắc trong quy định và áp dụng pháp luật;

Thứ ba So sánh cách xử lý trong luật Anh Trên cơ sở so sánh đó, luận văn

đề ra phương hướng giải quyết trên cơ sở học tập pháp luật Anh Quốc

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là các quy định của pháp luật Anh về nghĩa

vụ của Giám đốc và quy định của pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ của NQLCT Cụthể: đối với pháp luật Anh là các quy định trong Đạo luật Công ty năm 2006(“Company Act 2006”) và các án lệ có liên quan Tại Việt Nam, nguồn chủ yếu của

Trang 14

chế định nghĩa vụ NQLCT chính là Luật Doanh nghiệp 2020 Việt Nam ta cũng đãbắt đầu công nhận hiệu lực điều chỉnh của Án lệ trong xét xử từ từ cuối năm 2015.Tuy nhiên theo quan sát của người viết, tính tới thời điểm tháng 08 năm 2021 (thờiđiểm hoàn thành Luận văn này), trong số 43 Án lệ được Hội đồng Thẩm phán Tòa ánnhân dân tối cao thông qua, chưa có án lệ nào có nội dung liên quan tới vấn đề nghĩa

vụ của NQLCT Do đó, đối tượng nghiên cứu chủ yếu của người viết sẽ là các quyđịnh về nghĩa vụ Người quản lý công ty trong Luật Doanh nghiệp 2020 và một số vụviệc tranh chấp thực tế

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là chế định nghĩa vụ NQLCT theo phápluật Việt Nam và Vương Quốc Anh, cụ thể gồm các vấn đề sau: (i) Chủ thể chịunghĩa vụ; (ii) Cơ sở lý luận của quy định pháp luật; (iii) Nội dung của các quy địnhpháp luật về nghĩa vụ của NQLCT, những nguyên tắc ứng xử mà NQLCT phải tuânthủ trong quá trình thực thi nhiệm vụ; (iv) Những chế tài mà NQLCT phải chịu trongtrường hợp vi phạm các nghĩa vụ của mình Để tránh gây hiểu nhầm, Luận văn này

sẽ không nghiên cứu các công việc cụ thể thuộc thẩm quyền của NQLCT Thay vào

đó, Luận văn nghiên cứu về những nghĩa vụ mà NQLCT phải tuân thủ khi thực thinhiệm vụ của mình như nghĩa vụ trung thành, nghĩa vụ cẩn trọng, mẫn cán

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và Phápluật

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là tổng hợp, phân tích, sosánh, đánh giá Cụ thể là:

Thứ nhất Phương pháp tổng hợp được sử dụng để tổng hợp các quy định, các

án lệ, tình huống vụ việc thực tế có tính điển hình Phương pháp này được sử dụngtrong Chương 1 và Chương 2;

Trang 15

Thứ hai Phương pháp phân tích được sử dụng để giải thích cơ sở lý luận, chủ

thể, khách thể và nội dung của các quy định pháp luật Phương pháp này được sửdụng trong Chương 1;

Thứ ba Phương pháp so sánh luật được sử dụng để nhận xét những điểm

tương đồng, khác biệt trong quy định của các nước với nhau trong việc giải quyết cácvấn đề có tính tương tự Phương pháp này được sử dụng trong Chương 2

Thứ tư Phương pháp đánh giá được sử dụng để nhận định những điểm chưa

tiến bộ, chưa hợp lý còn tồn tại trong pháp luật Việt Nam và đưa ra phương hướnggiải quyết nhằm nâng cao hiệu quả quy định trên cơ sở học tập pháp luật Anh.Phương pháp này được sử dụng trong Chương 2 của Luận văn

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY

1.1 Những vấn đề lý luận chung về nghĩa vụ của người quản lý công ty

1.1.1 Khái niệm người quản lý công ty

Có nhiều tiêu chí khác nhau để định nghĩa khái niệm NQLCT Dưới góc độkinh tế, NQLCT được hiểu là những người có quyền đưa ra, hoặc tham gia vào quátrình đưa ra những quyết định quan trọng mà có thể tác động toàn bộ hoặc một phầnđáng kể đến hoạt động kinh doanh của công ty; hoặc có khả năng tác động đáng kểđến tình trạng tài chính của công ty1 "Quyết định quan trọng" ở đây được hiểu lànhững quyết định giải quyết các vấn đề quan trọng trong tổ chức và hoạt động củacông ty Thông thường, các vấn đề sau được coi là vấn đề quan trọng của công ty,bao gồm: (i) Mục tiêu, chiến lược và kế hoạch kinh doanh của công ty; (ii) Cơ cấu,

tổ chức, bộ máy quản lý của công ty; (iii) Cấu trúc vốn, huy động vốn, sử dụng vốn;(iv) Đầu tư, góp vốn, hợp tác kinh doanh; (v) Các giao dịch có giá trị lớn; (vi) Kiểmsoát tài chính của công ty (vii) Điều hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh hằngngày của công ty2

Thực tế, xuất phát từ sự khác biệt trong ngành nghề kinh doanh, địa bàn hoạtđộng cũng như ý chí của nhà đầu tư, các công ty khác nhau thường có những quanđiểm riêng về định nghĩa "quyết định quan trọng có thể tác động toàn bộ hoặc mộtphần đáng kể đến hoạt động kinh doanh của công ty; hoặc có khả năng tác động đáng

kể đến tình trạng tài chính của công ty" Điều này dẫn tới hệ quả là nếu pháp luậtđịnh danh NQLCT thuần túy thông qua một tiêu chí kinh tế duy nhất thì sẽ khiến chođịnh nghĩa của pháp luật trở nên cứng nhắc, thiếu linh hoạt và khó áp dụng đối vớitừng doanh nghiệp cụ thể Do đó, pháp luật đã dành phần việc quyết định vấn đề nàycho các công ty thông qua việc xây dựng Điều lệ Đây là xu hướng chung được thểhiện qua quy định pháp luật của nhiều quốc gia, điển hình như là:

1 Đỗ Minh Tuấn (2018) Một số vấn đề pháp lý về nghĩa vụ của Người quản lý công ty Hà Nội, Việt Nam:

Nxb Tư pháp, trang 36.

2 Mark Byrne (2006) The duties and liabilities of persons below board level Canberra Law Review, 9(2),

trang 50.

Trang 17

Các quy định pháp luật công ty Hoa Kỳ nhìn chung đều quy định rằng: Công

ty được quản lý bởi một Hội đồng quản trị ("Board of Directors") và người điều hành("officiers") Tùy theo quy mô công ty mà Hội đồng quản trị có thể tự mình quản lýcông ty hoặc thông qua những người điều hành3 Pháp luật Hoa Kỳ cũng không đặt

ra định nghĩa rõ ràng của hai chủ thể này Đơn cử như Luật Công ty Cổ phần

("Corporation Act") của Bang North-Carolina Điều 55-8-01 quy định: Mỗi công ty

phải có một Hội đồng quản trị, việc bầu, miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị sẽ

do quy chế công ty quy định Trong khi đó, Điều 55-8-40 quy định: Người điều hành công ty do quy chế công ty mô tả hoặc được Hội đồng quản trị bổ nhiệm.

Trong khi đó, Đạo luật Thương mại 2010 ("Commercial Act") của Hàn Quốc,

Điều 287 – 12 quy định rằng: Một công ty trách nhiệm hữu hạn sẽ bổ nhiệm, thông

qua điều lệ của nó, một người quản lý để điều hành các công việc của nó.

Từ các ví dụ trên, có thể thấy nhìn chung, pháp luật của các quốc gia thườngkhông nỗ lực định nghĩa NQLCT mà thay vào đó sẽ bỏ ngỏ vấn đề này cho quy chếnội bộ công ty Mỗi công ty, căn cứ theo hoàn cảnh thực tế, sẽ xác định những chứcdanh nào nên được xem là NQLCT

Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2020, Điều 4, khoản 24: Người quản lý

doanh nghiệp là người quản lý doanh nghiệp tư nhân và người quản lý công ty, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ công ty Như vậy, nếu loại trừ đi chức danh

"chủ doanh nghiệp tư nhân", chúng ta có định nghĩa của khái niệm NQLCT theo phápluật Việt Nam bao gồm: thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thànhviên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viênHội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lýkhác theo quy định tại Điều lệ công ty

3 Andreas Cahn, David C Donald (2010) Comparative Company Law: text and Cases on the Laws

Governing Corporations in Germany, the UK and the USA Cambridge, Anh: Cambridge University Press,

trang 305.

Trang 18

Từ quy định trên, có thể thấy pháp luật Việt Nam định nghĩa NQLCT bằngcách kết hợp hai phương thức:

Thứ nhất là Phương thức liệt kê Pháp luật dựa vào tiêu chí kinh tế, chọn lọc

ra những chức danh quản lý có thẩm quyền quyết định các vấn đề quan trọng và cầnđược xem là NQLCT; và

Thứ hai là Phương thức trừu tượng Pháp luật cho phép chủ sở hữu công ty

được quy định trong Điều lệ các chức danh được xem là NQLCT tùy theo hoàn cảnh(quy mô, ngành nghề kinh doanh, địa bàn hoạt động, …) công ty của mình Ví dụ:Theo Điều lệ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương (VietinBank) sửa đổi bổ

sung tháng 5/2021, Điều 1, khoản 7 quy định: Người điều hành của Vietinbank bao

gồm Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng và Giám đốc chi nhánh của

Vietinbank 4 Tại điều 49, khoản 4 quy định: Kế toán trưởng giúp Tổng giám đốc chỉ đạo thực hiện công tác kế toán, thống kê Có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam Như vậy, thông qua Điều lệ, Vietinbank đã quy định chức danh

Kế toán trưởng chính là một NQLCT

Theo đánh giá của người viết, cách quy định của pháp luật Việt Nam tươngđối toàn diện vì đảm bảo bao quát được các trường hợp thực tế đối với mọi công ty.Nếu pháp luật chỉ sử dụng phương thức liệt kê để định danh NQLCT thì sẽ dẫn đếnnhiều bất cập, khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng pháp luật

So sánh với Luật Doanh nghiệp 2014, định nghĩa này đã bị lược bỏ đi yếu tố

"có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty" Sự lược bỏ này làhợp lý, nguyên nhân là vì việc đại diện ký kết giao dịch không nhất thiết phải là thẩmquyền bắt buộc của mọi chức danh quản lý trong công ty Một người có thể nắmquyền điều hành, đưa ra hoặc tham gia đưa ra các quyết định quan trọng về hoạt độngkinh doanh của công ty nhưng không nhất thiết phải là người trực tiếp thay mặt công

ty xác lập các giao dịch, hợp đồng Cách quy định như trên khiến cho định nghĩa

4 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương (2021) Điều lệ sửa đổi bổ sung tháng 5/2021 Truy cập

ngày 14/06/2021, Chuyên trang Quan hệ Nhà Đầu tư, Ngân hàng Vietinbank.

Đường dẫn: https://investor.vietinbank.vn/Handlers/DownloadAttachedFile.ashx?NewsID=85946

Trang 19

NQLCT bị trùng lặp với định nghĩa Người đại diện theo pháp luật của công ty Quaytrở lại ví dụ của Ngân hàng Vietinbank, có thể thấy Điều lệ Ngân hàng không hề quyđịnh thẩm quyền của Kế toán trưởng được thay mặt công ty ký kết giao dịch Trênthực tế, các công ty cũng rất hiếm khi trao cho Kế toán trưởng thẩm quyền này.Nguyên nhân là vì một trong những chức năng chính của chức danh Kế toán trưởng

là lập báo cáo tài chính để phản ánh đúng tình hình tài chính của công ty5 Nếu cho

Kế toán trưởng có thêm thẩm quyền đại diện ký kết giao dịch thì sẽ sẽ tạo ra sự tậptrung quyền lực trong cơ cấu tổ chức doanh nghiệp, từ đó dẫn tới tình trạng lạmquyền, "vừa đá bóng vừa thổi còi" của Kế toán trưởng

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, NQLCT phải thỏa mãn một số yêucầu nhất định về nhân thân Các điều kiện này được phản ánh thông qua quy định tạiLuật Doanh nghiệp 2020, Điều 17, khoản 2, bao gồm:

Thứ nhất NQLCT phải là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Các

đối tượng bao gồm: Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dânsự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làmchủ hành vi bị pháp luật nghiêm cấm quản lý công ty

Thứ hai NQLCT không được đồng thời đang nắm giữ các chức danh tại cơ

quan Nhà nước hoặc đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm: Cán bộ, công chức, viênchức; Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốcphòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và Công an Nhân dân ViệtNam; Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước Nguyênnhân của hạn chế này là để ngăn ngừa sự xung đột lợi ích trong thi hành công vụ

Thứ ba Những đối tượng sau cũng bị loại trừ khỏi việc quản lý công ty, bao

gồm: Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hìnhphạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ

sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghềhoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản,

5 Theo Luật Kế toán 2015, Điều 55, khoản 1, điểm c

Trang 20

Luật Phòng, chống tham nhũng Điểm chung của các đối tượng này là đã có hành vi

vi phạm pháp luật hoặc đang bị truy cứu về hành vi vi phạm pháp luật

Bên cạnh các điều kiện chung kể trên, đối với một số ngành nghề, lĩnh vựckinh doanh đặc thù, pháp luật cũng đặt ra các điều kiện về trình độ, kỹ năng củaNQLCT Cụ thể là họ phải có một số chứng chỉ, bằng cấp nhất định để quản lý công

ty hoạt động trong lĩnh vực ấy Ví dụ: đối với Công ty kinh doanh dịch vụ kế toán,giám đốc hoặc tổng giám đốc của công ty phải có chứng chỉ hành nghề kế toán

Trong khi đó, Pháp luật thành văn Anh Quốc, cụ thể là Đạo luật Công ty 2006không có bất kỳ quy định nào định nghĩa NQLCT Theo Đạo luật Công ty 2006, Điều

250: Giám đốc là tất cả mọi người nắm giữ vị trí quản lý công ty, bất kể với chức

danh gì Luật Anh sử dụng từ "director" (tạm dịch là "Giám đốc") để chỉ NQLCT.

Cần lưu ý rằng thuật ngữ "giám đốc" ở đây cần mang ý nghĩa "người quản lý, chỉđạo" nói chung (xuất phát từ động từ "direct" có nghĩa là chỉ đạo), chứ không mang ýnghĩa tương đương chức danh giám đốc nói riêng như theo pháp luật Việt Nam Bêncạnh các quy định pháp luật thành văn, các án lệ luật Anh cũng góp phần làm sáng tỏ

hơn khái niệm Giám đốc Cụ thể, có thể phân loại Giám đốc thành ba nhóm:

Thứ nhất Giám đốc được bổ nhiệm ("de jure director"): Giám đốc được

chủ sở hữu công ty bổ nhiệm và đăng ký với cơ quan chức năng;

Thứ hai Giám đốc thực tế ("de facto director"): người tuy không được bổ

nhiệm và đăng ký theo thủ tục nhưng trên thực tế đã được ủy quyền thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ quản lý công ty;

Trong Án lệ Re Sykes (Butchers) Ltd, một công ty khởi kiện một cá nhânhành vi vi phạm các nghĩa vụ của giám đốc Tuy nhiên cá nhân trong vụ việc nàyhoàn toàn không được bổ nhiệm và đăng ký Sau khi xem xét các tình tiết của vụviệc, cụ thể là sự tham gia của Bị đơn vào hoạt động quản lý công ty, Tòa án đã phánquyết rằng một người, dù không được bổ nhiệm và đăng ký, tuy nhiên trên thực tế cóthực hiện chức năng, nhiệm vụ của quản lý công ty thì vẫn phải chịu trách nhiệm chohành vi của mình với vai trò giám đốc Cũng trong bản án này, Tòa án đã nhận địnhrằng việc

Trang 21

xác định giám đốc thực tế là rất khó khăn và Tòa án cần phải cân nhắc tất cả các yếu

tố liên quan đến sự tham gia vào quá trình quản lý công ty6

Thứ ba Giám đốc giấu mặt ("shadow director"): Theo quy định tại Đạo

luật Công ty 2006, Điều 251, khoản 1, giám đốc giấu mặt là người không trực tiếp

đứng ra quản lý hoạt động công ty nhưng lại có quyền chỉ đạo cho các giám đốc được bổ nhiệm trong công việc quản lý công ty Án lệ cũng góp phần làm rõ hơn khái

niệm giám đốc giấu mặt cũng như phân biệt rõ khái niệm giám đốc giấu mặt và giámđốc thực tế Trong án lệ Re Hydrodam (Corby) Ltd, Tòa án nhận định rằng: trái vớigiám đốc thực tế là người đứng ra nhận lấy vai trò và và thực hiện việc quản lý công

ty một cách công khai, giám đốc giấu mặt quản lý chỉ đạo công ty thông qua ngườitrung gian, chính là các giám đốc được bổ nhiệm và giám đốc thực tế của công ty.Tòa án cũng đặt ra bốn vấn đề cần phải được chứng minh để xác định giám đốc giấumặt, bao gồm: (1) Ai là giám đốc được bổ nhiệm hoặc giám đốc thực tế của công ty;(2) Liệu người bị cáo buộc là giám đốc giấu mặt có chỉ đạo các giám đốc trong câuhỏi 1 hay không? (3) Các giám đốc trong câu hỏi 1 có làm theo sự chỉ đạo haykhông?

(4) Sự chỉ đạo nói trên có phải là một thực tiễn thường xuyên trong hoạt động quản

lý công ty hay không?7 Mục đích của các câu hỏi này là để xác định rằng liệu có haykhông một khuôn mẫu trong cách ứng xử của các giám đốc được bổ nhiệm và giámđốc thực tế, theo đó họ không tự đưa ra các quyết định của riêng mình, mà chỉ làmtheo chỉ đạo của người khác8 Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng việc cho ý kiến hoặc tưvấn sẽ không bị tính là đưa ra chỉ đạo9 Như vậy, việc các chuyên gia (Luật sư, kếtoán) đưa ra lời khuyên mang tính chuyên môn cho các giám đốc sẽ không bị xem làhành vi chỉ đạo của giám đốc giấu mặt

Thông qua việc xem xét các quy định, án lệ nói trên, có thể thấy rằng khác vớiđịnh nghĩa NQLCT trong pháp luật Việt Nam là sự kết hợp giữa hai hình thức liệt kê

6 Án lệ Re Sykes (Butchers) Ltd.

7 Án lệ Re Hydrodam (Corby) Ltd.

8 Len Sealy, Sarah Worthington (2013) Sealy & Worthington's Cases and Materials in Company Law

(10th edition) Oxford, Anh: Oxford University Press, trang 355.

9 Án lệ Secretary of State for Trade and Industry v Deverell.

Trang 22

và trừu tượng, pháp luật Anh không định danh NQLCT qua chức danh mà thông quachức năng, nhiệm vụ (định nghĩa bằng hình thức trừu tượng) Như vậy một ngườinắm giữ các chức năng, nhiệm vụ điều hành công ty - không phân biệt là có được bổnhiệm hay không – vẫn có thể được xem là giám đốc công ty ấy Khái niệm này baohàm luôn cả ba nhóm đối tượng: Giám đốc được bổ nhiệm, Giám đốc trên thực tế vàGiám đốc giấu mặt.

Không như pháp luật Việt Nam, pháp luật Anh không đặt ra nhiều tiêu chuẩn,điều kiện về nhân thân để được bổ nhiệm làm giám đốc Cụ thể, một cá nhân có thểtrở thành giám đốc nếu thỏa mãn hai tiêu chí sau:

Thứ nhất Theo quy định tại Đạo luật công ty 2006, Điều 157, người đó phải

đến 16 tuổi Luật Anh cũng quy định một người chưa tới 16 tuổi vẫn có thể được bổnhiệm làm giám đốc Tuy nhiên, người đó phải đợi tới năm 16 tuổi thì mới được phépthực thi các quyền hạn của mình

Thứ hai Người đó hiện không bị Tòa án truất quyền giám đốc Cụ thể, theo

quy định của Đạo luật mất khả năng thanh toán 1986 ("Insolvency Act 1986"), Tòa

án có quyền ra quyết định nghiêm cấm một người quản lý công ty nếu người đó đã

có các hành vi vi phạm nghĩa vụ trong quá trình quản lý công ty trước đó

Ngoài hai quy định kể trên, pháp luật Anh không đặt ra bất kỳ một quy địnhnào về các bằng cấp, chứng chỉ, kỹ năng để đảm nhiệm chức danh giám đốc Có thểthấy pháp luật Anh đã trao quyền tự quyết cho các nhà đầu tư trong việc lựa chọnNQLCT Như vậy, tự bản thân các nhà đầu tư có trách nhiệm sáng suốt lựa chọnđược người có đủ khả năng và lòng trung thành để giao phó công ty

1.1.2 Cơ sở lý luận của nghĩa vụ của người quản lý công ty

Công ty được công nhận là một pháp nhân, đây là quan điểm chung được cảpháp luật Việt Nam và Anh Quốc công nhận Cụ thể, pháp luật Việt Nam thừa nhận

tư cách pháp nhân cho công ty thông qua các quy định của Luật Doanh nghiệp

202010

10 Cụ thể tại các quy định sau: (i) Công ty TNHH hai thành viên trở lên: Luật Doanh nghiệp 2020, Điều 46, khoản 2; (ii) Công ty TNHH một thành viên: Luật Doanh nghiệp 2020, Điều 74, khoản 2; (iii) Công ty Cổ phần: Luật Doanh nghiệp 2020, Điều 111, khoản 2; (iv) Công ty hợp danh: Luật Doanh nghiệp 2020, Điều

177, khoản 2

Trang 23

Trong khi đó, pháp luật Anh lần đầu công nhận tư cách pháp nhân (Legal-personality) cho công ty thông qua án lệ11.

Pháp luật Việt Nam và Anh cũng có điểm tương đồng trong việc quy định ýnghĩa của tư cách pháp nhân của công ty Cụ thể, tư cách pháp nhân có ý nghĩa rằngcông ty được pháp luật công nhận là một thực thể có tư cách pháp lý độc lập so vớicác chủ thể khác (bao gồm nhưng không giới hạn trong chủ sở hữu, người quản lý,người lao động của công ty) Điều này được thể hiện thông qua hai khía cạnh sau12,13:

Thứ nhất Công ty là chủ sở hữu hợp pháp với các tài sản của mình, bao gồm

cả nguồn vốn góp của các thành viên, cổ đông và doanh thu mà nó tạo ra trong quátrình kinh doanh Hệ quả của điều này là tài sản của công ty được tách bạch ra khỏinguồn tài sản của các nhà đầu tư

Thứ hai Công ty được phép giao kết, thực hiện các giao dịch dân sự như một

thể nhân và có đầy đủ các quyền cũng như nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch dân sự

ấy Điều này cũng bao hàm cả việc công ty có thể khởi kiện hoặc bị kiện nhân danhchính mình khi các giao dịch dân sự ấy phát sinh tranh chấp

Tuy nhiên, bản chất công ty vẫn là một tổ chức – một thực thể vô hình khôngthực sự tồn tại trên thế giới vật chất Do đó, công ty không thể nào tự mình thực hiệnđược các quyền hạn, nghĩa vụ nói trên Thay vào đó, công ty phải hoạt động thôngqua những cá nhân cụ thể Những cá nhân này chính là những người đại diện củacông ty, thay mặt công thực hiện mọi công việc, quyền hạn và nghĩa vụ nhân danhcông ty Việc quản lý một công ty cũng chính là việc nhân danh công ty ra quyết địnhhoặc tham gia vào việc ra quyết định các vấn đề quan trọng liên quan tới hoạt độngkinh doanh của công ty ấy

Tuy nhiên, cần lưu ý không phải mọi cá nhân đại diện cho công ty đều làNQLCT Vai trò, nhiệm vụ và phạm vi thẩm quyền của những người đại diện trong

11 Len Sealy, Sarah Worthington (2013) Sealy & Worthington's Cases and Materials in Company Law

(10th edition) Oxford, Anh: Oxford University Press, trang 91.

12 Charles Wild, Stuart Weinstein (2011) Smith and Keenan’s Company Law Anh: Pearson

Education Limited Press, trang 43.

13 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017) Giáo trình pháp luật về chủ thể kinh doanh

Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam: Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, trang 35.

Trang 24

một công ty vô cùng đa dạng Ví dụ, người nhân viên thu ngân của siêu thị khi thựchiện việc thanh toán tiền mua hàng cũng chính là đang thay mặt công ty (siêu thị)giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa; một Hội đồng quản trị quyết định việc đầu tưcũng là đang thay mặt công ty quyết định các vấn đề về quản lý, sử dụng tài sản Chỉnhững cá nhân thỏa mãn các tiêu chí của pháp luật mới được xếp vào nhóm NQLCT.

Như đã phân tích ở nhóm tiểu mục 1.1.1, mỗi hệ thống pháp luật có những cách thức

khác nhau để nhận diện NQLCT Pháp luật Việt Nam định nghĩa NQLCT là nhữngngười nắm giữ các chức danh quan trọng trong công ty (bao gồm thành viên hợpdanh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công

ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổnggiám đốc) cùng các chức danh quản lý khác quy định tại Điều lệ Công ty Pháp luậtAnh lại định nghĩa NQLCT là tất cả những người thực hiện công việc quản lý, điềuhành công ty, không phụ thuộc vào việc người ấy đã được đăng ký hay không

Từ đây, chúng ta đi tới kết luận rằng bản chất mối quan hệ giữa hai chủ thể(Công ty và NQLCT) là mối quan hệ đại diện Trong đó NQLCT đóng vai trò làNgười đại diện còn công ty là Bên ủy quyền Nghĩa vụ của NQLCT là phải thực hiệncác công việc quản lý trong phạm vi thẩm quyền của mình nhân danh công ty Ởchiều ngược lại, công ty có nghĩa vụ trả thù lao, lương, thưởng hoặc các lợi ích kháccho NQLCT

Trong mối quan hệ đại diện, người đại diện có nghĩa vụ tối đa hóa lợi ích củangười ủy quyền Nguyên do là vì người đại diện là người thực hiện các công việckhác nhau nhân danh bên ủy quyền Để thực hiện nhiệm vụ đó, họ được ủy thácquyền quyết định các vấn đề có thể xảy ra trong quá trình thực hiện, bao gồm cả việcđịnh đoạt tài sản của Bên ủy quyền Kết quả công việc của họ ảnh hưởng trực tiếpđến lợi ích hợp pháp của Người ủy quyền Do đó, họ có nghĩa vụ phải luôn luôn đặtlợi ích của Người ủy quyền lên hàng đầu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Điềunày lại càng đúng trong trường hợp NQLCT – những đối tượng có thẩm quyền đưa ranhững quyết định quan trọng cho hoạt động kinh doanh hoặc tình trạng tài chính củacông ty

Trang 25

Tuy vậy, không phải lúc nào NQLCT cũng nghiêm chỉnh chấp hành nghĩa vụnày Trong quá trình làm việc, có nguy cơ NQLCT sẽ tư lợi, phục vụ cho mục đíchcủa mình mà không toàn tâm toàn ý theo đuổi mục đích của công ty Nguy hiểm hơn,NQLCT cũng có thể xâm phạm chính lợi ích của công ty để đạt được mục đích củamình Tình trạng này được định nghĩa là Vấn đề Ông chủ - Người đại diện ("Principal– Agency Problem") Vấn đề Ông chủ - Người đại diện được thể hiện thông qua việccông ty luôn phải gánh chịu các Chi phí đại diện ("Agency cost") Có hai loại chi phíđại diện bao gồm14:

Thứ nhất Chi phí kiểm soát hành vi của người đại diện

Đây là các chi phí nhằm mục đích giám sát, điều chỉnh hành vi của người đạidiện, khuyến khích cũng như răn đe họ thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ củamình Người viết xin lấy ví dụ, khi công ty A tuyển dụng giám đốc Do lo ngại giámđốc sẽ lạm dụng thẩm quyền, lén lút bán các bí mật thương mại của công ty cho đốithủ cạnh tranh, công ty A phải soạn thảo một bản thỏa thuận bảo mật với nội dungràng buộc trách nhiệm bảo mật của giám đốc Chi phí (bao gồm cả tiền, thời gian vàcông sức) mà công ty A đã bỏ ra để soạn thảo bản thỏa thuận bảo mật này chính làmột chi phí đại diện

Thứ hai Thiệt hại do người đại diện không hoàn thành trách nhiệm

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, sẽ có sự chênh lệch giữa cácquyết định của người đại diện và các quyết định nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích củangười ủy quyền Phần thiệt hại mà người ủy quyền phải gánh chịu do sự chênh lệchnày cũng là chi phí đại diện

Trong một công ty, vấn đề Ông chủ - Người đại diện phát sinh bởi nguyênnhân sau: Bản thân NQLCT luôn có những mục đích cá nhân riêng - đôi khi mục đíchnày còn đi ngược với lợi ích của công ty - do đó, có nguy cơ họ sẽ tư lợi, sử dụngquyền hạn được trao cho mục đích của mình mà không toàn tâm toàn ý theo đuổi lợi

14 Michael C Jensen (2000) A theory of the firm: governance, residual claims and organizational forms.

Journal of Financial Economics (JFE), 3 (4), trang 5.

Trang 26

ích của công ty15 Mặt khác, NQLCT là chủ thể trực tiếp quản lý công ty, nắm tườngtận các thông tin về hoạt động công ty Do đó, họ đó có lợi thế về thông tin so với cácthành viên, cổ đông (ông chủ của công ty) Sự bất cân xứng về thông tin này lại càngtạo điều kiện cho NQLCT dễ dàng lạm dụng chức vụ quyền hạn nhằm phục vụ mụcđích của mình16.

Để minh họa rõ ràng hơn luận điểm trên, người viết xin đưa ra ví dụ về vụ việccông ty Enron Enron là một công ty năng lượng Hoa Kỳ, từng được ví von như một

"người khổng lồ" trong ngành năng lượng Tháng 12/2001, Enron nộp đơn xin mởthủ tục phá sản Trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản, Tòa án đã phát hiện nhiềusai phạm của ban điều hành công ty Trong đó, sai phạm nổi bật nhất chính là việc sửdụng các kỹ thuật kế toán để ngụy tạo thu nhập và điều chỉnh bảng cân đối kế toánnhằm che mắt nhà đầu tư, khiến họ lầm tưởng về tình hình tài chính của Enron Cụthể, khi kê khai doanh thu từ các hợp đồng dài hạn, Enron sử dụng phương pháp kếtoán theo giá trị trường Theo cách này, mặc dù hợp đồng chưa phát sinh doanh thu,tuy nhiên doanh thu vẫn được ghi nhận vào báo cáo tài chính Hệ quả của sự phóngđại lợi nhuận này là giá cổ phiếu của Enron tăng phi mã trên thị trường tài chính phốWall Lợi dụng tình trạng này, các thành viên Hội đồng quản trị của Enron bán ra cổphần mà mình đang sở hữu để kiếm lời Như vậy, NQLCT Enron đã lợi dụng sự bấtcân xứng về thông tin, cố tình ngụy thông tin nhằm mục đích đẩy giá cổ phần lên cao.Động cơ cho hành động của họ hoàn toàn không nhằm tối đa hóa lợi ích công ty, mà

là để tư lợi cho bản thân khi bán ra cổ phần17

Có thể thấy rủi ro của vấn đề Ông chủ - Người đại diện là vô cùng phổ biến.Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa rằng NQLCT chỉ mang lại rủi ro cho công ty

15 James Chen (2021) Agency Problem Truy cập ngày 30/05/2021 tại website

Investopedia Đường dẫn: https:// www.investopedia.com/terms/a/agencyproblem.asp

16 George A Akerlof (1970) Asymmetric information The Quarterly Journal of Economics, 84 (3), trang

492.

17 Healy, Paul, M., Krishna G Palepu (2003) The Fall of Enron Journal of Economic Perspectives, 17 (2),

3-26, trang 7-8.

Trang 27

Dưới góc độ quản trị doanh nghiệp, có một đơn vị chuyên trách quản lý công ty thìquá trình quản lý sẽ hiệu quả hơn vì hai lý do sau18:

Thứ nhất Loại bỏ các thủ tục bầu, lấy ý kiến chủ sở hữu rườm rà, tốn thời gian

(điều này đặc biệt đúng đối với hình thức công ty cổ phần vốn có số lượng cổ đôngkhông giới hạn);

Thứ hai Có thể tuyển những người quản lý chuyên nghiệp và có kinh nghiệm;

từ đó công ty có thể tận dụng được nguồn kỹ năng, kiến thức, mối quan hệ, … củacác cá nhân này

Như vậy, thay vì loại bỏ vai trò của NQLCT, chúng ta cần chấp nhận rằng Vấn

đề Ông chủ - Người đại diện là một rủi ro tất yếu trong quản trị công ty Do đó, đểloại trừ (hoặc ít nhất là hạn chế) các rủi ro này, chúng ta cần phải có giải pháp để ràngbuộc trách nhiệm của NQLCT, hay nói cách khác là chuẩn hóa cách xử sự củaNQLCT Các quy định ràng buộc trách nhiệm của NQLCT có thể tồn tại trong Quyphạm đạo đức, tập quán kinh doanh; Điều lệ công ty; Hợp đồng tuyển dụng, … Tuynhiên, phổ biến nhất chính là các quy định về pháp luật Cụ thể, chế định về nghĩa vụcủa NQLCT là hệ thống các quy phạm pháp luật quy định về các nghĩa vụ củaNQLCT, các biện pháp chế tài áp dụng khi NQLCT vi phạm nghĩa vụ này và cơ chếbảo đảm thực thi các nghĩa vụ của NQLCT

Các quy định của pháp luật về trách nhiệm của NQLCT có các vai trò sau:

Thứ nhất Định ra quy tắc xử sự mà NQLCT phải thực hiện khi thực hiện chức

năng, nhiệm vụ của mình;

Thứ hai Là cơ sở để quy kết trách nhiệm, buộc NQLCT phải chịu chế tài bồi

thường nếu vi phạm Đồng thời, các chế tài này cũng tác dụng răn đe NQLCT;

Thứ ba Là cơ sở giới hạn nghĩa vụ của NQLCT Điều này giúp hạn chế rủi ro

NQLCT phải chịu trách nhiệm cho những thiệt hại mà họ không gây ra, hoặc làkhông thể lường trước được dù đã hành động hoàn toàn trung thực, mẫn cán

18 Biswas, Pallab Kumar, Bhuiyan, Md Hamid Ullah (2008) Agency Problem and the Role of Corporate

Governance Revisited truy cập ngày 20/06/2021.

Đường dẫn: https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=1287185

Trang 28

Mục đích của việc xây dựng pháp luật về nghĩa vụ của NQLCT chính là để cắtgiảm chi phí đại diện – những chi phí mà công ty phải gánh chịu khi ủy thác việcquản lý, điều hành cho NQLCT19 Do phải chịu sự ràng buộc của quy định pháp luật,NQLCT phải luôn tận tâm, trung thực và tối đa hóa lợi ích của công ty Có thể thấymột trong những lý do khiến cho các nhà đầu tư chùn tay, ngần ngại khi bỏ vốn chính

là vì e ngại những người quản lý – những người trực tiếp quản lý sản nghiệp của họ

- có hành vi vi phạm trách nhiệm Vì vậy, ở phạm vi rộng hơn, chế định pháp luật vềnghĩa vụ của NQLCT góp phần lành mạnh hóa môi trường kinh doanh, thúc đẩy hoạtđộng đầu tư

1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam và Anh về nghĩa vụ của người quản lý công ty

1.2.1 Quy định về nghĩa vụ của người quản lý công ty trong pháp luật Việt Nam 1.2.1.1 Nghĩa vụ trung thành với lợi ích của công ty

Theo nghĩa thông dụng nhất, trung thành được hiểu là sự tận tâm, hết lòng vớimột quốc gia, triết lý, đất nước, tổ chức hoặc một người cụ thể Áp dụng cách hiểutrên đối với NQLCT, trung thành được hiểu là nghĩa vụ của NQLCT là phải ưu tiên,đặt lợi ích của công ty lên trước lợi ích của mình, đồng thời cũng không được lợidụng các thông tin, tài sản và thẩm quyền được trao cho mục đích riêng Quy địnhtrong pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ trung thành của NQLCT bao gồm: (i) Công tyTNHH hai thành viên trở lên: Luật Doanh nghiệp 2020, Điều 71, khoản 1, điểm b;(ii) Công ty TNHH một thành viên: Luật Doanh nghiệp 2020, Điều 83, khoản 3; (iii)Công ty Cổ phần: Luật Doanh nghiệp 2020, Điều 165, khoản 1, điểm c; (iv) Công tyhợp danh: Luật Doanh nghiệp 2020, Điều 181, khoản 2, điểm c

Nghĩa vụ trung thành là nghĩa vụ quan trọng nhất của NQLCT Nghĩa vụ nàyphản ánh rõ nét trách nhiệm của một người đại diện của công ty, theo đó, trong quátrình thực hiện các công việc quản lý thay mặt công ty, NQLCT phải hành động vì

19 The Law Commission, The Scottish Law Commission (1999) Company Directors: Regulating Conflicts

of Interests and Formulating a Statement of Duties Truy cập ngày 03/06/2021 tại website Scottish Law

Commission.

Đường dẫn: https:// www.scotlawcom.gov.uk/files/7312/7989/6683/rep173.pdf

Trang 29

lợi ích tốt nhất của công ty – tức bên ủy quyền Qua việc phân tích các quy định pháp

lý, có thể nhận thấy nghĩa vụ trung thành được thể hiện qua ba khía cạnh sau đây:

Thứ nhất Xử sự bắt buộc đối với các giao dịch có nguy cơ tư lợi;

Thứ hai Nghĩa vụ không chiếm đoạt tài sản, thông tin của công ty

Thứ ba Nghĩa vụ không chiếm đoạt cơ hội kinh doanh của công ty

a) Xử sự bắt buộc của người quản lý công ty trong giao dịch có nguy cơ tư lợi

Giao dịch có nguy cơ tư lợi là các giao dịch mà trong đó, NQLCT bị đặt vàomột tình thế xung đột giữa các lợi ích khác nhau, cụ thể là giữa lợi ích của công ty vàlợi ích của họ Sự xung đột này được thể hiện qua việc nếu NQLCT tối đa hóa lợi íchcủa chính mình thì sẽ dẫn tới sự sụt giảm lợi ích của công ty

Theo Luật Doanh nghiệp 2020, Điều 67, khoản 1, điểm a và b, giao dịch cónguy cơ tư lợi trong công ty TNHH hai thành viên trở lên bao gồm giao dịch giữacông ty và các đối tượng sau đây: (i) Thành viên, người đại diện theo ủy quyền củathành viên hoặc người có liên quan của họ; (ii) Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, ngườiđại diện theo pháp luật của công ty hoặc người có liên quan của họ Theo Luật Doanhnghiệp 2020, Điều 86, khoản 1, điểm b và c, giao dịch có nguy cơ tư lợi trong công

ty TNHH một thành viên có chủ sở hữu là tổ chức bao gồm giao dịch giữa công ty vàcác đối tượng sau đây: (i) Thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty hoặcngười có liên quan của họ; (ii) Giám đốc, Tổng giám đốc hoặc người có liên quan của

họ Theo Luật Doanh nghiệp 2020, Điều 167, khoản 1, điểm b, giao dịch có nguy cơ

tư lợi trong công ty Cổ phần là giao dịch giữa công ty với Thành viên Hội đồng quảntrị, Giám đốc, Tổng giám đốc hoặc người có liên quan của họ

Từ các quy định pháp luật nói trên, có thể nhận thấy rằng, giao dịch có nguy

cơ tư lợi theo pháp luật Việt Nam là giao dịch có các đặc điểm sau đây20:

Thứ nhất Đây là giao dịch giữa công ty và NQLCT hoặc người có liên quan

của họ Cụ thể, ở mỗi loại hình công ty khác nhau, pháp luật liệt kê các chức danhquản lý Trong trường hợp các cá nhân nắm giữ chức vụ này hoặc người có liên quan

20 Đỗ Minh Tuấn (2016) Nghĩa vụ trung thành của người quản lý công ty cổ phần Tạp chí Nghiên cứu lập

pháp, 5 (309), trang 52.

Trang 30

của họ có giao dịch với công ty Pháp luật sẽ xem đây là một giao dịch nguy hiểm,cần phải bị kiểm soát.

Cũng cần nói thêm là hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có một định nghĩa

cụ thể cho đối tượng Người có liên quan của NQLCT Trong Luật Doanh nghiệp

2020 chỉ đang tồn tại khái niệm Người có liên quan của doanh nghiệp, cụ thể là tại

Điều 4, khoản 23, điểm đ quy định như sau: Người có liên quan là cá nhân, tổ chức

có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với doanh nghiệp trong các trường hợp sau đây: đ) Vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, con

đẻ, con nuôi, con rể, con dâu, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người quản lý công ty, người đại diện theo pháp luật, Kiểm soát viên, thành viên và cổ đông sở hữu phần vốn góp hay cổ phần chi phối.

Mặc dù quy định kể trên không phải là định nghĩa cho khái niệm Người cóliên quan của NQLCT, chúng ta vẫn có thể sử dụng quy định này để xác định người

có liên quan với NQLCT theo nguyên tắc tương tự pháp luật Theo cách hiểu này,Người có liên quan của NQLCT chính là các cá nhân có mối quan hệ huyết thống,gia đình gần gũi với NQLCT Tuy nhiên, theo ý kiến người viết, cách thức xác địnhvẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý vì các lý do sau:

- Phương thức xác định này không đi vào trọng tâm vấn đề Cụ thể là việc giữaNQLCT và cá nhân đó phải có mối quan hệ mà có thể gây ảnh hưởng tới quá trình raquyết định của NQLCT, mối quan hệ này có thể là quan hệ bạn bè, đối tác làm ăn chứkhông chỉ gồm quan hệ huyết thống, gia đình Hậu quả là quy định trên chưa bao quátđược các giao dịch có xung đột lợi ích trên thực tế;

- Từ góc độ NQLCT, không phải lúc nào NQLCT cũng có thể biết được vềviệc công ty đang có giao dịch với những cá nhân có quan hệ huyết thống hoặc giađình với mình Do đó, nếu áp dụng cách hiểu tại Điều 4, khoản 23 thì nghĩa vụ tuânthủ, thi hành pháp luật của NQLCT sẽ trở nên rất khó khăn

Thứ hai Đây là giao dịch mà NQLCT có khả năng nhận được các lợi ích trực

tiếp hoặc gián tiếp Lợi ích trực tiếp phát sinh trong trường hợp NQLCT trực tiếpgiao kết giao dịch với công ty Ví dụ: Giám đốc công ty mua hàng từ công ty; Thànhviên

Trang 31

hội đồng quản trị vay tiền của công ty Trong khi đó, lợi ích gián tiếp lại được hiểu làcác lợi ích mà NQLCT không trực tiếp nhận được, thay vào đó, đối tượng hưởng lợilại là người có liên quan của họ Theo lẽ tự nhiên, con người ta có xu hướng ưu tiên,dành cho chính mình hoặc những người thân thuộc với mình những phần lợi ích tốtnhất Do đó, hoàn toàn có khả năng các quyết định của NQLCT sẽ bị chi phối khi có

sự tham gia của chính bản thân họ hoặc người có liên quan của họ

Khi phải đưa ra quyết định liên quan tới một giao dịch có nguy cơ tư lợi, cónguy cơ NQLCT sẽ không còn vô tư, khách quan và hành động vì lợi ích tốt nhất củacông ty Ngược lại, họ có thể đưa ra các quyết định nhằm mục đích tư lợi cho bảnthân hoặc người thân cận của mình Ví dụ: Giám đốc công ty quyết định ra mức giácung ứng dịch vụ thấp hơn cho người nhà Các quyết định kể trên chuyển dịch lợi íchcủa công ty sang cho các chủ thể khác, trực tiếp xâm phạm quyền và lợi ích hợp phápcủa công ty Một cách gián tiếp, đây cũng là sự xâm phạm quyền lợi các chủ thể cólợi ích liên quan như người lao động, chủ nợ của công ty21

Dù vậy, một giao dịch dù có nguy cơ tư lợi nhưng không nhất thiết sẽ gây rathiệt hại cho công ty Ngược lại, nếu được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo tính côngkhai, minh bạch, các giao dịch dạng này vẫn có thể đem lại lợi ích cho cả hai bên.Mặt khác, một trong các tiêu chí để tuyển dụng NQLCT đó là các mối quan hệ cánhân mà NQLCT nắm giữ22, do đó, nếu ngăn chặn, cấm đoán NQLCT sử dụng cácmối quan hệ này nhằm tìm kiếm các cơ hội kinh doanh cho công ty thì sẽ là lãng phínăng lực của họ Chính vì các lý do trên, thay vì cấm đoán các giao dịch có nguy cơ

tư lợi, pháp luật Việt Nam đi theo hướng kiểm soát, ngăn ngừa rủi ro đối với các giaodịch dạng này Mục tiêu của quy định pháp luật đó là đảm bảo được lợi ích của công

ty phải được ưu tiên hàng đầu trong quá trình ra quyết định

21 Trần Thị Bảo Ánh (2010) Kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi theo luật doanh nghiệp

năm 2005 Truy cập ngày 09/06/2021 tại website Trường ĐH Kiểm sát Hà Nội.

Đường dẫn: https://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/81/490

22 Nguyễn Thanh Huyền, Nguyễn Thanh Bình (2017) Xung đột lợi ích và giao dịch các bên liên quan Tạp

chí Chứng khoán 11/2017, trang 12.

Trang 32

Theo Luật Doanh nghiệp 2020, Điều 67, khoản 1, giao dịch có nguy cơ tư lợitrong công ty TNHH hai thành viên trở lên phải được Hội đồng thành viên thông qua.Theo Luật Doanh nghiệp 2020, Điều 86, khoản 1, giao dịch có nguy cơ tư lợi trongcông ty TNHH một thành viên có chủ sở hữu là tổ chức phải do Hội đồng thành viênhoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên chấp thuận.Theo Luật Doanh nghiệp 2020, Điều 167, khoản 1 và khoản 2, giao dịch có nguy cơ

tư lợi trong công ty Cổ phần do Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị thôngqua Cụ thể, Hội đồng quản trị sẽ quyết định các giao dịch có trị nhỏ hơn 35% tổnggiá trị tài sản của công ty căn cứ theo Báo cáo Tài chính gần nhất Khi giá trị giaodịch là từ 35% tài sản của của công ty trở lên, Đại hội đồng cổ đông sẽ là cơ quan cóthẩm quyền ra quyết định

Như vậy, giao dịch có nguy cơ tư lợi phải được công khai và phê chuẩn bởicác cơ quan có thẩm quyền trong công ty Các cơ quan này sẽ xem xét các điều khoảncủa giao dịch, ví dụ như giá cả, phạm vi dịch vụ, bảo hành, đã phù hợp với tiêuchuẩn thị trường hay chưa cũng như đã đảm bảo được quyền lợi của công ty haychưa Cũng cần lưu ý rằng trong mọi trường hợp, NQLCT có lợi ích liên quan sẽ bịloại trừ, không được phép tham gia vào quá trình ra quyết định phê duyệt giao dịch

Cơ chế này đảm bảo tính khách quan, công bằng và minh bạch của quá trình ra quyếtđịnh trong công ty

Trong trường hợp một giao dịch có nguy cơ tư lợi được giao kết mà khôngtuân thủ quy trình phê chuẩn kể trên Giao dịch này có thể bị tuyên vô hiệu theo yêucầu của các bên Bên cạnh đó, NQLCT trực tiếp giao kết giao dịch cùng với NQLCT

có lợi ích liên quan phải cùng liên đới bồi thường thiệt hại phát sinh, hoàn trả chocông ty khoản lợi thu được từ việc thực hiện giao dịch đó23

Về nguyên tắc ứng xử của NQLCT có xung đột lợi ích, hiện pháp luật ViệtNam chưa có quy định nghĩa vụ phải công khai lợi ích của chính mình Tuy nhiên, đểtránh việc giao dịch bị tuyên vô hiệu cũng như phải chịu các chế tài hoàn trả khoản

23 Chế tài này được quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020: (i) Công ty TNHH hai thành viên trở lên: Điều 67, khoản 3; (ii) Công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu: Điều 86, khoản 5; (iii) Công ty Cổ phần: Điều 167, khoản 5.

Trang 33

lợi và bồi thường thiệt hại, NQLCT bị buộc phải tự giác công khai lợi ích của chínhmình cho các cơ quan có thẩm quyền trước khi ký kết giao dịch.

b) Nghĩa vụ không chiếm đoạt tài sản, thông tin của công ty

Theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015, Điều 105, khoản 1: Tài sản là vật,

tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Áp dụng quy định này vào bối cảnh của một

công ty, có thể phân tài sản của công ty thành ba nhóm sau:

Thứ nhất là Tiền, bao gồm vốn góp, tiền vay và doanh thu mà công ty tạo ra

trong quá trình kinh doanh;

Thứ hai là Vật, bao gồm các máy móc, thiết bị, nhà xưởng của công ty; Thứ ba là Quyền tài sản, bao gồm các quyền sở hữu trí tuệ (nhãn hiệu, phát

minh, quyền tác giả, …) và các quyền khác phát sinh từ các hợp đồng, giao dịch dân

sự của công ty (quyền được thanh toán, quyền được nhận hàng)

Trong một công ty, NQLCT đóng vai trò đại diện, thay mặt công ty thực hiệncác quyền lợi của mình, trong đó bao gồm cả quyền sở hữu tài sản Như vậy, việcNQLCT đưa ra các quyết định về việc quản lý, sử dụng, định đoạt các tài sản cũngchính là đang thực hiện thẩm quyền đại diện của mình Với vai trò người được ủythác khối lượng tài sản của công ty, NQLCT cũng có nghĩa vụ sử dụng nguồn tài sảnnày đúng mục đích, không được chiếm đoạt tài sản của công ty nhằm mục đích tư lợihay vì lợi ích của chủ thể khác

Hành vi chiếm đoạt tài sản của công ty được hiểu là việc chuyển giao hoặc sửdụng tài sản của công ty không vì mục đích phục vụ cho lợi ích công ty Ở đây, từ

"chiếm đoạt" được sử dụng theo nghĩa rộng Chiếm đoạt không chỉ bao gồm việcNQLCT chuyển quyền sở hữu tài sản của công ty một cách trái phép Việc sử dụngcác tài sản của công ty cho mục đích riêng, không phục vụ cho hoạt động kinh doanhcũng nên được xem là một hình thức chiếm đoạt tài sản Nguyên nhân là vì các hành

vi này cũng khiến cho tài sản bị hao mòn, giảm đi giá trị Dù việc chiếm đoạt tài sảncông ty được thực hiện bằng hình thức nào, các hành vi này đều có điểm chung làtrực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công ty Nếu NQLCT vi phạm quyđịnh nói trên, họ phải chịu các chế tài sau: (i) Phải hoàn trả lại tài sản bị chiếm đoạt;

Trang 34

(ii) Phải bồi thường thiệt hại phát sinh, ví dụ như việc tài sản bị mất giá trị; (iii) VìNQLCT đã chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật và không ngaytình, họ cũng có nghĩa vụ hoàn trả lại các hoa lợi, lợi tức mà tài sản đó tạo ra kể từthời điểm chiếm đoạt.

Trong bản án số 35/2020/HS-PT, B là giám đốc của Công ty BK Theo dựtoán được công ty phê duyệt, công ty sẽ thuê 27 chuyến xe ô tô để thực hiện dự án.Biết được điều này, B đã câu kết với một chủ nhà xe là bà P, yêu cầu bà lập cácchứng từ khống để giả mạo việc thuê 23/27 chuyến xe Bà P đã chuẩn bị 23 bản hợpđồng, 23 hóa đơn đỏ, 23 biên bản thanh lý và giao lại cho B B đưa cho bà P 1 triệuđồng tiền công và 2.300.000 đồng tiền thuế giá trị gia tăng Sau đó, B đã đưa cácchứng từ trên cho kế toán công ty để được quyết toán lại số tiền 23 triệu đồng Bằngthủ đoạn này, B đã tham ô của công ty số tiền 23 triệu đồng Tại Phiên tòa, bên cạnhtrách nhiệm hình sự, Tòa cũng tuyên B phải bồi hoàn lại số tiền 23 triệu đồng kể trêncho Công ty24

Bên cạnh việc chiếm đoạt, sử dụng trái phép tài sản công ty, một vi phạm kháccũng xảy ra khá phổ biến đó là việc NQLCT có hành vi lạm dụng các thông tin bảomật của công ty Trong quá trình kinh doanh, mỗi công ty đều sở hữu cho mình mộtkhối lượng thông tin đặc biệt mà không phải ai cũng biết được Các thông tin này cókhả năng mang lại cho công ty một lợi thế thương mại nào đó Một vài ví dụ thườngthấy của các thông tin này là kế hoạch, chiến lược kinh doanh; bí quyết, công thứcsản phẩm; thông tin khách hàng; quy trình, thiết kế công nghệ, … Với vai trò tạo nênlợi thế trên thương trường, có thể thấy các thông tin này có tầm quan trọng như mộtnguồn tài sản của doanh nghiệp và cần được giữ bảo mật để duy trì lợi thế25 Tương

tự như vấn đề quản lý tài sản, NQLCT cũng là chủ thể được ủy thác, giao phó cácthông tin quan trọng của công ty Do đó, trên cơ sở nghĩa vụ trung thành, họ có bổnphận phải đảm bảo tính bảo mật của thông tin, tuyệt đối không chiếm đoạt thông tinbảo mật của công ty

24 Bản án số 35/2020/HS-PT ngày 26/05/2020 của Tòa án Nhân dân Tỉnh Đắk Nông.

25 Căn cứ Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, Điều 84.

Trang 35

Trên thực tế, hành vi vi phạm phổ biến nhất của nghĩa vụ này là việc NQLCTtiết lộ các thông tin bảo mật của công ty cho người khác (phổ biến nhất là các đối thủcạnh tranh) nhằm nhận được một lợi ích nào đó Ngoài ra, NQLCT cũng có thể khaithác, sử dụng các thông tin bảo mật của công ty nhằm phục vụ hoạt động kinh doanhcủa bản thân hoặc chủ thể khác mà chưa có sự đồng ý của công ty Đây đều là cáchành vi nguy hiểm vì nó khiến cho ưu thế cạnh tranh của công ty bị tổn hại nghiêmtrọng, gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh doanh của công ty Tính nguy hiểm củahành vi còn đến từ việc hậu quả của hành vi là không thể đảo ngược, một khi đã bịtiết lộ, các ưu thế cạnh tranh của công ty có được từ các thông tin bảo mật có nguy

cơ mất đi mãi mãi

Căn cứ theo các quy định của pháp luật dân sự về trách nhiệm dân sự, các chếtài của NQLCT khi có hành vi chiếm đoạt, lạm dụng thông tin công ty sẽ bao gồm:(i) Chấm dứt ngay lập tức hành vi vi phạm (tiết lộ hoặc sử dụng thông tin); (ii) Hoàntrả các khoản lợi đã nhận được từ hành vi vi phạm; (iii) Bồi thường thiệt hại và (iv)Thực hiện các biện pháp cần thiết để giải quyết hậu quả của hành vi vi phạm theo yêucầu của công ty (ví dụ như tiêu hủy các bản sao của các thông tin bảo mật)

Hiện Luật Doanh nghiệp 2020 vẫn chưa có nhiều quy định hướng dẫn, làm rõ

về nghĩa vụ bảo mật thông tin của NQLCT, trong đó bao gồm vấn đề xác địnhphương thức khắc phục vi phạm cũng như nguyên tắc xác định mức độ thiệt hại củacông ty Nguyên nhân là vì thông tin có tính trừu tượng và rất khó để định giá Mặckhác, đôi khi việc bồi thường thiệt hại không phải là biện pháp đầy đủ và tương xứng

để bù đắp đầy đủ cho các thiệt hại mà công ty phải gánh chịu Để đáp ứng nhu cầucủa thực tiễn, nhiều công ty đã ký kết các Thỏa thuận Bảo mật thông tin (tiếng Anh là

"Non- Disclosure Agreement" hay "NDA") với NQLCT nhằm bảo vệ các thông tinbảo mật26 Các thỏa thuận này thường có nội dung chính bao gồm: (i) Định nghĩathông tin mà NQLCT có nghĩa vụ bảo mật; (ii) Trách nhiệm bảo mật thông tin củaNQLCT,

26 Lạc Duy, Nguyễn Hữu Phước, Nhìn lại hiệu quả của NDA trong bảo vệ bí mật kinh doanh, Tạp chí Kinh

tế Sài Gòn Online Truy cập ngày 13/06/2021 tại website Báo Kinh tế Sài Gòn Online.

Đường dẫn: https:// www.thesaigontimes.vn/297434/nhin-lai-hieu-qua-cua-nda-trong-bao-ve-bi-mat-kinh- doanh-.html?fbclid=IwAR3Ea2jqC3UorngXGVafi5_Y6jj2VMZBDOz9sqG9BXpCkQIcnogS9JjK17M

Trang 36

bao gồm nghĩa vụ không tiết lộ; quy trình, cách thức bảo quản thông tin; thời hạn bảomật; (iii) Các chế tài nếu NQLCT vi phạm nghĩa vụ cũng như nguyên tắc xác địnhmức bồi thường thiệt hại; (iv) Các trường hợp mà NQLCT được miễn trách (ví dụnhư tiết lộ theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước) Các thỏa thuận này là những giaodịch dân sự hợp pháp và được pháp luật thừa nhận Như vậy, khi NQLCT có hành vi

vi phạm, công ty có thể vận dụng các nguyên tắc đã được thỏa thuận để yêu cầuNQLCT phải chịu trách nhiệm tương xứng

c) Nghĩa vụ không chiếm đoạt cơ hội kinh doanh của công ty

Cơ hội có nghĩa là một thời điểm mà vào lúc đấy hoàn cảnh cho phép conngười ta làm được một việc gì đó hoặc đạt được mục tiêu nào đó27 Áp dụng địnhnghĩa này vào môi trường kinh doanh, có thể hiểu cơ hội kinh doanh là một sự kiện,hoàn cảnh mà nếu nó xảy ra, thay đổi hoặc chấm dứt thì công ty đạt được hoặc có khảnăng đạt được những lợi ích nhất định28 Ví dụ như một lời mời dự thầu, một đề xuấthợp tác kinh doanh hay một đề nghị chào hàng đều có thể được xem là một cơ hộikinh doanh

Trong quá trình quản lý, điều hành công ty, NQLCT là chủ thể thay mặt công

ty tiếp nhận các cơ hội kinh doanh của công ty Quan trọng hơn, họ cũng là ngườixem xét và đưa ra quyết định liên quan tới các cơ hội kinh doanh đó Như đã nói ởtrên, một cơ hội kinh doanh chưa chắc sẽ mang lại lợi ích cho công ty Để một cơ hộikinh doanh thực sự sinh lợi, bên cạnh khả năng phân tích và xử lý tình huống thì lòngtrung thành của NQLCT cũng là một yếu tố rất quan trọng Điều này là vì NQLCT làngười nắm tường tận thông tin về cơ hội kinh doanh cũng như có thẩm quyền quyếtđịnh cách thức xử lý với cơ hội kinh doanh đó, nếu NQLCT không trung thành, họhoàn toàn có khả năng chiếm đoạt các cơ hội kinh doanh của công ty Như vậy, cóthể kết luận rằng nghĩa vụ trung thành đòi hỏi NQLCT phải tận dụng tốt mọi cơ hộikinh doanh để tối đa hóa lợi ích cho công ty Mặt khác, pháp luật nghiêm cấmNQLCT

27 Từ điển Anh–Anh Oxford Learner Dictionary truy cập ngày 14/06/2021.

Đường dẫn: https:// www.oxfordlearnersdictionaries.com/definition/english/opportunity_1?q=opportunity

28 Đỗ Minh Tuấn (2018) Một số vấn đề pháp lý về nghĩa vụ của Người quản lý công ty Hà Nội, Việt

Nam: Nxb Tư pháp, trang 142.

Trang 37

có hành vi chiếm đoạt, lạm dụng cơ hội kinh doanh vì mục đích của bản thân hoặccủa chủ thể khác.

Pháp luật Việt Nam đặt ra quy định nghiêm cấm NQLCT lạm dụng địa vị,chức vụ và sử dụng cơ hội kinh doanh, tài sản khác của công ty để tư lợi hoặc phục

vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác Tuy nhiên, pháp luật chưa có sự giải thích rõràng khái niệm "cơ hội kinh doanh của công ty" Trong khi đó, đây lại là khái niệmquan trọng giúp xác định quy tắc hành xử của NQLCT Nếu một cơ hội kinh doanh

bị xem là của công ty, NQLCT có nghĩa vụ tận dụng tối đa cơ hội đó nhằm phục vụlợi ích công ty Ngược lại, nếu cơ hội đó không phải là cơ hội kinh doanh của Công

ty, NQLCT được quyền khai thác cơ hội đó cho bản thân

Về mặt lý luận, một cơ hội kinh doanh có thể được xem là của công ty nếucông ty mong muốn và theo đuổi cơ hội kinh doanh ấy Thông thường, mỗi công tyđều có một hoặc một số phạm vi, lĩnh vực hoạt động nhất định Tương ứng với lĩnhvực của mình, công ty sẽ đặt ra những mục tiêu, chiến lược kinh doanh phù hợp, cũngnhư đầu tư cơ sở vật chất, nhân vật lực để phục vụ việc theo đuổi các mục tiêu, chiếnlược này Một lẽ hiển nhiên là công ty sẽ mong muốn, theo đuổi các cơ hội kinh doanhtrong các lĩnh vực mà mình hoạt động Những cơ hội này chính là tiền đề để công tyxác lập các giao dịch tạo ra lợi nhuận và vị thế kinh doanh trong ngành Như vậy, cầnphải giải quyết câu hỏi "thế nào là ngành nghề, lĩnh vực mà công ty đang hoạt động?"

Kể từ khi đăng ký thành lập, công ty có nghĩa vụ kê khai với Cơ quan đăng kýkinh doanh các ngành nghề kinh doanh của mình Các ngành nghề này sẽ được công

bố trên Cổng Thông tin Quốc gia về Đăng ký doanh nghiệp29 Tuy vậy, sẽ là khônghợp lý nếu như sử dụng các các thông tin này làm cơ sở xác định ngành nghề, lĩnhvực mà công ty đang hoạt động Nguyên nhân là vì trên thực tế, có rất nhiều công tyđăng ký rất nhiều ngành nghề, nhưng chỉ hoạt động trong một phạm vi rất nhỏ Mặtkhác, việc một công ty đầu tư, mở rộng phạm vi sản xuất kinh doanh sang các ngànhnghề mới để nắm bắt cơ hội kinh doanh mới cũng rất phổ biến

29 Nghị định 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp ban hành ngày 04/01/2021, Điều 7, khoản 1.

Trang 38

Các lập luận trên cho thấy rằng không thể đánh đồng danh mục ngành nghềkinh doanh mà công ty kê khai với các ngành nghề, lĩnh vực mà công ty đang hoạtđộng Thay vào đó, cần phải dựa vào hoạt động kinh doanh trên thực tế của công ty.

Cụ thể, ngành nghề kinh doanh thực tế của công ty chính là ngành nghề mà công tyđang đầu tư nguồn tài chính, nhân, vật lực và các nguồn lực khác để tìm kiếm lợinhuận và xây dựng vị thế trên thị trường Nếu một cơ hội kinh doanh thuộc về mộtlĩnh vực mà công ty đang tiến hành việc đầu tư các nguồn lực của mình thì đó là cơhội kinh doanh của công ty Điều này đồng nghĩa là NQLCT không được phép chiếmđoạt, khai thác các cơ hội kinh doanh đó nhằm làm lợi cho bản thân hoặc chủ thểkhác

Ngoài ra, vì NQLCT là người đại diện cho công ty, họ có nhiệm vụ tìm kiếmcác cơ hội kinh doanh cho công ty Do đó, mọi cơ hội kinh doanh mà một cá nhântiếp nhận với cương vị là NQLCT cũng cần được xem là cơ hội kinh doanh của công

ty Để xác định xem liệu một cơ hội kinh doanh được một cá nhân tiếp nhận dưới tưcách NQLCT hay không, cần phải xem xét tình huống liên quan để xác định tư cáchcủa NQLCT khi tiếp nhận cơ hội đó

Ví dụ: Công ty A hiện đang kinh doanh trong ngành sản xuất vải dệt Tronggiai đoạn dịch bệnh COVID-19, Giám đốc công ty A nhận được nhiều đặt hàng mặthàng khẩu trang y tế của các đối tác Mặt dù công ty A không hoạt động trong lĩnhvực sản xuất thiết bị y tế Tuy nhiên nếu công ty có đầy đủ khả năng để đầu tư trangthiết bị, nhân công, công ty A hoàn toàn có thể nắm bắt cơ hội kinh doanh này Ởđây, giám đốc công ty A nhận được các đơn đặt hàng từ các đối tác của công ty A vớicương vị là NQLCT, nội dung của các đơn hàng là gửi cho công ty A Do đó, cơ hội

mà ông A nhận được cần phải được xem là cơ hội của công ty

Trang 39

Doanh nghiệp 2020, Điều 83, khoản 1 và 2; (iii) Công ty cổ phần: Luật Doanh nghiệp

2020, Điều 165, khoản 1, điểm a và b; (iv) Công ty hợp danh: Luật Doanh nghiệp

2020, Điều 181, khoản 2, điểm a và b Cơ sở lý luận của các quy định này là: NQLCT

là những người có thẩm quyền quyết định các vấn đề quan trọng, có thể gây ảnhhưởng đáng kể tới tình trạng tài chính cũng như quyền và lợi ích của công ty Tínhquan trọng của các quyết định này đòi hỏi NQLCT phải coi trọng nhiệm vụ được giao

và có ý thức phòng tránh sơ suất, đề phòng những bất lợi cho công ty trong quá trìnhthực hiện nhiệm vụ Nói cách khác, Người quản lý công ty phải tận tâm, thực hiệnđầy đủ trách nhiệm của mình, cẩn thận trong mọi quyết định, hành vi vì lợi ích tốtnhất của công ty Nghĩa vụ này bao gồm các nội dung sau:

Thứ nhất NQLCT phải tận tâm với nhiệm vụ được giao.

NQLCT thực hiện thẩm quyền của mình thông qua nhiều công việc khácnhau: ví dụ như tham gia và đóng góp ý kiến tại các buổi họp; cân nhắc và xét duyệtcác hợp đồng, giao dịch của công ty; lập báo cáo đánh giá; lên kế hoạch kinh doanh,

… Nghĩa vụ cẩn trọng, mẫn cán đòi hỏi NQLCT có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy

đủ các công việc quản lý, điều hành với tinh thần thiện chí, trung thực và vì lợi ích tốtnhất của công ty Việc không thực hiện hoặc thực hiện một cách qua loa, chiếu lệ cáccông việc quản lý sẽ bị xem là hành vi vi phạm nghĩa vụ

Mỗi khi đưa ra quyết định, đặt biệt là các quyết định liên quan tới các hợpđồng, giao dịch của công ty, NQLCT có nghĩa vụ cân nhắc kỹ lưỡng Quyết định củaNQLCT phải được đưa ra trên cơ sở các nguồn thông tin rõ ràng, đáng tin cậy.Nguyên nhân là vì một vấn đề chỉ có thể được giải quyết đúng đắn nếu có thông tinđầy đủ và chính xác Do đó trước khi đưa ra quyết định, NQLCT cần phải thu thậpmọi thông tin, nếu điều kiện cho phép Nếu thông tin chưa đủ để quyết định vấn đềmột cách chắc chắn, NQLCT phải có biện pháp bổ sung thông tin30

Thông thường, một cá nhân chỉ có kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn trongmột hoặc một số lĩnh vực nhất định Trong khi đó, các vấn đề phát sinh trong quá

30 Đỗ Thị Hải Hà (2012) Chuyên đề Tâm lý học Lãnh đạo và Quản lý Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư - Cục Phát

Triển Doanh Nghiệp, trang 41.

Trang 40

trình quản lý, điều hành công ty lại vô cùng đa dạng, phủ khắp các lĩnh vực khácnhau Đơn cử như việc ký duyệt một hợp đồng, để đảm bảo công ty ký kết được mộthợp đồng thể hiện đúng và đầy đủ thỏa thuận giữa các bên, đảm bảo các quyền lợicủa công ty cũng như hạn chế tối đa rủi ro pháp lý, cần phải có kỹ năng trong cả việcđàm phán, thuyết phục đối tác lẫn kiến thức pháp lý và những hiểu biết về tập quánthương mại của ngành nghề kinh doanh đó Pháp luật không buộc NQLCT phải tựmình nghiên cứu, thông thạo tất cả các kiến thức, kỹ năng kể trên Ngược lại, việctìm kiếm ý kiến chuyên môn từ các chủ thể khác (nhân viên cấp dưới hoặc đơn vị tưvấn) là hoàn toàn hợp pháp Tuy nhiên, NQLCT vẫn là chủ thể ra quyết định cuốicùng và chịu trách nhiệm cho quyết định đó, do đó họ có bổn phận sàng lọc, kiểmsoát nguồn thông tin Đảm bảo chỉ sử dụng những nguồn thông tin chính thống, đángtin cậy Một vài ví dụ về nguồn thông tin mà NQLCT có thể dựa vào bao gồm: ý kiếnchuyên môn của những cá nhân, tổ chức có uy tín; quy định pháp luật hoặc thông báochính thức của cơ quan chức năng.

Trong trường hợp một quyết định sai lầm của NQLCT có nguyên nhân doNQLCT bất cẩn trong việc chọn lọc thông tin, sử dụng những nguồn thông tin khôngxác thực, NQLCT phải chịu trách nhiệm trước công ty với các hậu quả của quyếtđịnh sai lầm đó

Thứ hai Nghĩa vụ thực hiện các biện pháp, quy trình giám sát nhằm phát hiện

và loại trừ rủi ro

Rủi ro được hiểu đơn giản là khả năng một sự kiện bất lợi sẽ xảy ra31 Trongbối cảnh một công ty, rủi ro là nguy cơ xảy ra những sự kiện gây thiệt hại tới quyền

và lợi ích của công ty Trong quá trình kinh doanh, công ty phải đối mặt với rất nhiềurủi ro khác nhau Có thể kể đến như: công ty bị cơ quan chức năng xử phạt do viphạm pháp luật; đối tác công ty vi phạm hợp đồng và từ chối thực hiện nghĩa vụ;công ty gặp khủng hoảng truyền thông và bị người tiêu dùng tẩy chay

31 Bryan A Garner (2009) Từ điển pháp lý Black Law 9 th edition Hoa Kỳ: West Press, trang 1442

Ngày đăng: 25/05/2023, 14:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Minh Tuấn. (2018). Một số vấn đề pháp lý về nghĩa vụ của Người quản lý công ty. Hà Nội, Việt Nam: Nxb Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề pháp lý về nghĩa vụ của Người quảnlý công ty
Tác giả: Đỗ Minh Tuấn
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2018
2. Đại học Luật Hà Nội. (2017). Giáo trình luật so sánh. Hà Nội, Việt Nam:Nxb Công an Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật so sánh
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an Nhân dân
Năm: 2017
3. Đỗ Minh Tuấn. (2016). Nghĩa vụ trung thành của người quản lý công ty cổ phần. Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 5 (309), 48-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 5
Tác giả: Đỗ Minh Tuấn
Năm: 2016
4. Đỗ Thị Hải Hà. (2012). Chuyên đề Tâm lý học Lãnh đạo và Quản lý. Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư - Cục Phát Triển Doanh Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề Tâm lý học Lãnh đạo và Quản lý
Tác giả: Đỗ Thị Hải Hà
Năm: 2012
8. Nguyễn Thanh Huyền, Nguyễn Thanh Bình. (2017). Xung đột lợi ích và giao dịch các bên liên quan. Tạp chí Chứng khoán 11/2017, 10-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung đột lợi ích và giaodịch các bên liên quan
Tác giả: Nguyễn Thanh Huyền, Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2017
9. Như Hằng, Hải Đăng. (2007). Cổ đông FPT có ""há miệng mắc quai""?. Truy cập ngày 15/06/2021 tại website báo Tuổi trẻ.Đường dẫn: https://tuoitre.vn/co-dong-fpt-co-ha-mieng-mac-quai- 215376.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: há miệng mắc quai
Tác giả: Như Hằng, Hải Đăng
Năm: 2007
10. Phạm Hiếu - Anh Thư. (2006). Thua kiện, Vietnam Airlines mất 5,2 triệu euro. truy cập ngày 17/06/2021 tại website VNExpress.Đường dẫn: https://vnexpress.net/thua-kien-vietnam-airlines-mat-5-2-trieu- euro-2817544.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thua kiện, Vietnam Airlines mất 5,2 triệu euro
Tác giả: Phạm Hiếu - Anh Thư
Năm: 2006
12. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. (2017). Giáo trình pháp luật về chủ thể kinh doanh. Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam: Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình pháp luậtvề chủ thể kinh doanh
Tác giả: Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Hồng Đức– Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2017
1. Mark Byrne. (2006). The duties and liabilities of persons below board level.Canberra Law Review, 9 (2), 45-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Canberra Law Review, 9
Tác giả: Mark Byrne
Năm: 2006
2. George A. Akerlof. (1970). Asymmetric information. The Quarterly Journal of Economics, 84 (3), 488 – 500 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Quarterly Journalof Economics, 84
Tác giả: George A. Akerlof
Năm: 1970
3. Adolf A. Berle Jr, Gardiner C. Means. (1932). The Modern corporation and private property. New York, Hoa Kỳ: Macmillian Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Modern corporation andprivate property
Tác giả: Adolf A. Berle Jr, Gardiner C. Means
Năm: 1932
4. Brenda Hannigan. (2012). Company Law Third Edition. Oxford, Anh:Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Company Law Third Edition
Tác giả: Brenda Hannigan
Năm: 2012
5. Andreas Cahn, David C. Donald. (2010). Comparative Company Law: text and Cases on the Laws Governing Corporations in Germany, the UK and the USA. Cambridge, Anh: Cambridge University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparative Company Law: textand Cases on the Laws Governing Corporations in Germany, the UK and theUSA
Tác giả: Andreas Cahn, David C. Donald
Năm: 2010
6. James Chen. (2021). Agency Problem. Truy cập ngày 30/05/2021 tại website Investopedia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agency Problem
Tác giả: James Chen
Năm: 2021
8. Bryan A. Garner. (2009). Từ điển pháp lý Black Law 9th edition. Hoa Kỳ:West Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển pháp lý Black Law 9th edition
Tác giả: Bryan A. Garner
Năm: 2009
9. Brenda Hannigan. (2011). Reconfiguring the no conflict rule: judicial strictures, a statutory restatement and the opportunistic director. Singapore Academy of Law Journal, 23 (Special issue), 714–744 Sách, tạp chí
Tiêu đề: SingaporeAcademy of Law Journal, 23
Tác giả: Brenda Hannigan
Năm: 2011
11. Parker Hood. (2013). Directors' Duties Under the Companies Act 2006:Clarity or Confusion?, Journal of Corporate Law Studies, 13 (1), 1-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Corporate Law Studies, 13
Tác giả: Parker Hood
Năm: 2013
12. Michael C. Jensen. (2000). A theory of the firm: governance, residual claims and organizational forms. Journal of Financial Economics (JFE), 3 (4), 1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Financial Economics (JFE), 3
Tác giả: Michael C. Jensen
Năm: 2000
13. David Kershaw. (2005). Lost in Translation: Corporate Opportunities in Comparative Perspective. Oxford Journal of Legal Studies, 25 (4), 603-627 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oxford Journal of Legal Studies, 25
Tác giả: David Kershaw
Năm: 2005
14. Healy, Paul, M., Krishna G. Palepu. (2003). The Fall of Enron. Journal of Economic Perspectives, 17 (2), 3-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal ofEconomic Perspectives, 17
Tác giả: Healy, Paul, M., Krishna G. Palepu
Năm: 2003

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w