1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm về con người trong một số trào lưu triết học ngoài mác xít đương đại từ đó rút ra ý nghĩa là liên hệ thực tế

35 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan niệm về con người trong một số trào lưu triết học ngoài Mác – xít đương đại
Trường học Trường Đại Học Cao Học
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Luận văn hoặc luận án
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 80,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. TỔNG QUAN (3)
    • 1. Tính cấp thiết của đề tài (3)
    • 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài (3)
    • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài (4)
    • 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu (4)
    • 5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài (4)
    • 6. Kết cấu của bài tiểu luận (5)
  • B. NỘI DUNG (6)
  • CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG MỘT SỐ TRÀO LƯU TRIẾT HỌC NGOÀI MÁC – XÍT ĐƯƠNG ĐẠI (6)

Nội dung

Nguyễn kim trường – cao học 22v MỤC LỤC MỤC LỤC 1 LỜI MỞ ĐẦU 1 A TỔNG QUAN 2 1 Tính cấp thiết của đề tài 2 2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3[.]

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

LỜI MỞ ĐẦU 1

A TỔNG QUAN 2

1 Tính cấp thiết của đề tài 2

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 4

6 Kết cấu của bài tiểu luận 4

B NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG MỘT SỐ TRÀO LƯU TRIẾT HỌC NGOÀI MÁC – XÍT ĐƯƠNG ĐẠI 4

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Con người chính là trung tâm trong xã hội, là nhân tố tạo nên các quan hệ sảnxuất cũng như phát triển chúng trải qua các giai đoạn Con người được coi là sảnphẩm tuyệt vời của tự nhiên, là kết quả của cả một quá trình tiến hoá lâu dài trong lịch

sử Chính vì thế mà con người luôn luôn là một đề tài hấp dẫn trong mọi lĩnh vựcnghiên cứu của đời sống Trong thời điểm hiện tại, khi mà nước ta đang trong quátrình đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời hệ tư tưởng triết học Mác – Lennin và tư tưởng

Hồ Chí Minh đã thấm nhuần trong mỗi con người Việt Nam thì chúng ta cũng cần nênbiết các hệ tư tưởng triết học hiện nay nghiên cứu về con người như thế nào Nếu nhưtrước đây rất nhiều trào lưu triết học nghiên cứu về con người nhưng sau Heeghen thìphải đến thời ký những trào lưu triết học ngoài mác xít đương đại mới phát triển vàbước đầu tạo nên cơ sở, tiền đề lý luận về quan niệm con người cho hệ tư tưởn triếthọc khoa học Mác – Lennin Thấy được tầm quan trọng trong việc tìm hiểu các hệ tưtưởng ngoài mác xít đương đại, cùng với mong muốn hiểu rõ hơn được phần nào vềcon người trong lịch sử triết học xã hội hiện nay, tôi quyết định lựa chọn đề tài tiểu

luận: “ Quan niệm về con người trong một số trào lưu triết học ngoài Mác – xít đương đại Từ đó rút ra ý nghĩa là liên hệ thực tế”.

Trang 3

A TỔNG QUAN

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ xa xưa đến nay, trong suốt quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người,con người bao giờ cũng là vấn đề trung tâm của triết học và là đối tượng của nhiềungành khoa học khác nhau Chính vì thế, việc nghiên cứu lý luận về con người cũng córất nhiều những quan niệm khác nhau Các quan niệm, nghiên cứu này đã khôngngừng đấu tranh với nhau cả về lý luận và tư tưởng, và càng trở nên gay gắt hơn khichủ nghĩa triết học khoa học Mác – Lênnin ra đời, khi khoa học – kỹ thuật ngày càngtiến bộ và đời sống của con người càng được nâng cao Tuy cuộc đấu tranh về cơ sở lýluận là không ngừng và gay gắt, tuy nhiên chỉ đến triết học Mác, vấn đề con người mớiđược xem xét một cách nhất quán, đầy đủ và sâu sắc hơn hết, trên cơ sở lập trường duyvật triệt để Có được các quan điểm khoa học như vậy, cả Mác và Ăngghen đều đúc rútkinh nghiệm từ rất nhiều tư tưởng trước đó mà ảnh hưởng nhiều nhất đó là các tưtưởng triết học ngoài Mác – xít đương đại như triết học nhân bản, chủ nghĩa hiện sinh,triết học thực chứng mới,… Chính vì vậy trong phạm vi bài tiểu luận này tôi lựa chọn

đề tài nghiên cứu về “quan niệm về con người trong một số trào lưu triết học ngoàimác – xít đương đại” để có được một cách nhìn khách quan, cũng như tìm hiểu đượccác hệ tư tưởng triết học này ảnh hưởng như thế nào đến triết học Mác và ảnh hưởngnhư thế nào đến đời sống xã hội

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu

Đem đến cho mọi người cái nhìn khách quan và toàn diện hơn về các quanđiểm con người trong các trào lưu triết học ngoài Mác – xít đương đại thông qua quanđiểm con người qua một số nhà triết học tiêu biểu đại diện cho các trào lưu này Trên

cơ sở đó, nhìn nhận được các ảnh hưởng của những tư tưởng này với hệ thống quanđiểm Mác –xít và rút ra được ảnh hưởng cũng như ý nghĩa thực tiễn của các quan điểmnày đến đời sống và xã hội hiện tại

Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 4

Trình bày một cách khái quát, dễ hiểu, rõ ràng nhưng xúc tích sự ra đời và nộidung các quan điểm về con người của các nhà triết gia trong các trào lưu triết họcđương đại ngoài Mác – xít Từ đó đúc rút ra được những mặt tích cực và hạn chế trongmỗi hệ tư tưởng, đánh giá được các mặt tích cực cũng như tiêu cực đồng thời rút raảnh hưởng của nó đối với đời sống xã hội, trong đó có cả đời sống nhân dân Việt Nam.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Các quan điểm về con người trong các trào lưu triết học đương đại ngoài Mác –xít bao gồm:

+ Triết học nhân bản

+ Triết học hiện sinh

+ Triết học thực chứng mới

+ Chủ nghĩa nhân bản trong tôn giáo hiện đại

+ Triết học Phơrớt và Phơrớt mới

Trên cơ sở đó phân tích ý nghĩa thực tiễn của các quan điểm này với đời sống

và xã hội trước đây và hiện đại

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận: Dựa trên thế giới quan, chủ nghĩa duy vật biện chứng

và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê Nin

Phương pháp nghiên cứu: phương pháp logic và lịch sử, phương pháp khái quáthóa, hệ thống hóa, phương pháp phân tích – tổng hợp, quy nạp – diễn dịch, logic – lịchsử…

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Với vai trò là một bài tiểu luận nhỏ trong chương trình học triết học hệ cao họcnên bài tiểu luận của tôi chỉ khái quát được những quan niệm cơ bản về các tư tưởngtriết học ngoài Mác xít đương đại dựa trên các kiến thức đã được học và nghiên cứuthêm Bài tiểu luận sẽ giúp có một cách nhìn khách quan, một cách hiểu sâu sắc hơn vềquan niệm con người trong các triết học ngoài Mác xít và có thể là một tài liệu thamkhảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này

Trang 5

6 Kết cấu của bài tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, bài tiểu luận được kết cấu làm 3chương

Trang 6

B NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG MỘT SỐ TRÀO

LƯU TRIẾT HỌC NGOÀI MÁC – XÍT ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Quan niệm về con người trong Triết học nhân bản

1.1.1 Khái quát về Triết học nhân bản

Quan điểm triết học nhân bản cho rằng con người là một bộ phận và là sản phẩm caonhất của tự nhiên và giải thích những đặc điểm và tính chất của con người bằng nguồngốc tự nhiên của nó Đại biểu của hệ tư tưởng triết học này là tư tưởng triết học của L.Feuerbach Triết học của ông được gọi là chủ nghĩa duy vật nhân bản, vì ở đó có sựkết hợp giữa chủ nghĩa duy vật và thuyết nhân bản, là học thuyết lấy con người làmnền tảng, đối tượng nghiên cứu chủ yếu Trong Cương lĩnh cải cách của mìnhFeuerbach nhấn mạnh: Thông qua con người đưa tất cả những gì siêu nhiên về với tựnhiên, và thông qua tự nhiên đưa tất cả những gì siêu nhân về với con người Đó làmột bước tiến lớn trong cách đặt vấn đề và nghiên cứu về con người

Feuerbach gọi triết học của mính là thuyết nhân bản, và lập luận như sau: nếu chúng taxem vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề quan hệ giữa tồn tại và tư duy, thì cần phảibắt đầu từ con người, vì chỉ con người mới biết tư duy Trong khi tư duy về thế giới,con người cũng đồng thời tư duy về chính bản thân mình Nhờ có con người mà những

gì kỳ vĩ nhất của tự nhiên được bộc lộ ra Triết học mới Feuerbach viết: “Biến conngười, kể cả giới tự nhiên với tư cách là nền tảng của con người, thành đối tượng duynhất, phổ biến, cao nhất của triết học, do đó cũng biến nhân bản học, kể cả sinh lý họcthành khoa học phổ quát"

1.1.2 Nội dung quan niệm con người trong triết học nhân bản

Vốn là người có tư tưởng cách tân, Feuerbach đã viết 2 tác phẩm để cải cáchtriết học: Những luận điểm dự thảo cho cuộc cải cách triết học (1842), Những luận đề

cơ bản của triết học tương lai (1843) Trong các tác phẩm đó ông đã khai mở mộthướng đi mới cho các nhà triết học hậu thế, đó là truy tìm bí mật của triết học ngaytrong giới tự nhiên và con người: “Hãy quan sát giới tự nhiên và con người, bạn sẽthấy trong đó những bí mật của triết học" “Quan điểm của tôi chỉ có thể biểu đạt trong

Trang 7

hai từ: Giới tự nhiên và con người".Quan điểm con người trong triết học Feuerbachđược thể hiện qua hai từ: “Giới tự nhiên và con người” Ông đi sâu vào nghiên cứu bảnchất con người qua:

- Mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiện

- Mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại

- Mối quan hệ giữa con người với con người

- Mối quan hệ giữa con người và thần

Trên cơ sở nghiên cứu các mối quan hệ này Feuerbach khái quát quan điểm vềcon người trong tư tưởng của mình thông qua các luận điểm sau:

Thứ nhất xét trong mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên thì con người cũng như xã hội loài người là sản phẩm của tự nhiên

Tiếp thu những thành tựu của khoa học tự nhiên trên nền tảng của chủ nghĩaduy vật nhân bản Feuerbach cho rằng con người không phải là sản phẩm của Thượng

đế như các nhà thần học quan niệm, nó cũng không phải là sự tha hóa của ý niệm tuyệtđối như Heghen nói mà là sản phẩm của tự nhiên Ông viết: “Giới tự nhiên là ánhsáng, điện từ, từ tính, không khí, nước, lửa, đất, động vật, thực vật và là con người, bởicon người là một thực thể hoạt động thiếu tự chủ và vô thức” Như vậy sự tồn tại vàphát sinh của con người cũng giống như sự phát sinh và tồn tại của giới tự nhiên khác,chỉ có điều con người là sản phẩm tiến hóa cao nhất của giới tự nhiên, là một sinh vậtbậc cao, có tính vượt trội so với các loài động vật khác ở đời sông tinh thần của nó

“Sự khác biệt căn bản giữa loài người và loài vật là gì? Câu trả lời chung rất đơn giảnlà: đó là sự khác nhau trong ý thức đúng với nghĩa chân chính của từ này Bởi ý thứctheo nghĩa chính xác chỉ có ở chỗ, khi chủ thể có khả năng nhận thức được loài củamình, bản chất của mình Động vật nhận thức mình như một cá thể, nó chỉ làm chủđược quá trình tự cảm giác mà thôi, chứ không phải như một loài Bởi vậy, động vậtsống đơn giản một mình, còn con người sống có bạn Đời sống nội tâm của con vậthoà đồng với thế giới bên ngoài, còn con người sống với cả hai chiều: nội tâm và thếgiới bên ngoài Đời sống nội tâm của con người liên quan mật thiết với loài và bảnchất của nó Con người suy nghĩ, bàn luận và nói với chính mình”

Toàn bộ mối quan hệ giữa giới tự nhiên và con người phản ánh mối quan hệgiữa thế giới vô cơ và thế giới hữu cơ, phản ánh quá trình tiến hóa của sự sống theo

Trang 8

nghĩa thế giới vô cơ là tiền đề, là cơ sở nền tảng của mọi sự sống nói chung, của đờisống con người Con người chỉ có thể tồn tại trong giới tự nhiên, trong sự tiếp xúc vớithế giới khách quan bên ngoài nó và cũng chính thế giới này quy định sự tồn tại vàphát triển của các giác quan của con người chứ không phải ngược lại như chủ nghĩaduy tâm khẳng định Đó là mối quan hệ tất yếu giữa thế giới vô cơ và thế giới hữu cơ,đây là cơ sở và bản chất của sự sống Bởi vậy, chúng ta không có căn cứ nào để giảđịnh rằng nếu như con người có nhiều cảm giác, cơ quan thì nó sẽ hiểu biết được nhiềuthuộc tính hay nhiều sự vật của tự nhiên hơn con người có vừa đủ những giác quancần thiết để cảm nhận thế giới trong tính toàn vẹn và tổng thể của nó.

Thứ hai xét trong mối quan hệ giữa tồn tại( thể xác) và tư duy(tinh thần) feuerbach cho rằng tại là chủ thể và tư duy là thuộc tính.

Từ việc quan sát hình thể bên ngoài của con người, cho đến mọi hoạt động laođộng sản xuất cũng như hoạt động tinh thần của nó, Feuerbach cho rằng con người làmột sinh vật có hình thể vật lý – sinh lý ở trong không gian và thời gian, nhờ vậy nó cónăng lực quan sát và suy nghĩ vượt trội so với các sinh vật khác Bản chất con người làmột cái gì đó thống nhất toàn vẹn giữa hai phương diện thể xác (tồn tại) và tinh thần(tư duy) Sự thống nhất này đảm bảo cho con người có thể tồn tại và phát triển nhưmột sinh vật cao nhất trong mọi sinh vật hiện có Phê phán những quan điểm sai lầmcủa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa nhị nguyên trong việc tách đôi thể xác và tinhthần, tồn tại và tư duy Feuerbach đã thừa nhận một cách dứt khoát rằng quan hệ thực

sự của tồn tại đối với tư duy là tồn tại – chủ thể, tư duy – thuộc tính

Sau khi thừa nhận tồn tại là chủ thể, tư duy là thuộc tính, ý thức là sản phẩmcủa bộ óc con người, Feuerbach đi đến việc tìm hiểu sâu hơn bản chất tự nhiên – sinhhọc của con người "Bản chất chung của con người là gì? Những nhân tính cơ bảntrong con người là gì? Đó là lý tính, ý chí và trái tim Con người hoàn thiện có nănglực tư duy, sức mạnh ý chí và nguồn lực tình cảm Qua những lời lẽ đó, nhà triết học

cổ điển Đức muốn chứng minh rằng, bản chất chung của con người là tổng hoà mọikhát vọng chính trị, mọi năng lực nhận thức và nhu cầu tự nhiên - sinh học đã trầm tíchtrong quá trình phát triển lịch sử lâu dài của nó Mọi mong muốn, khát vọng tự nhiêncủa con người theo quan điểm của Feuerbach không phải xuất phát từ tư tưởng thuầntuý mà chúng phản ánh đời sống hiện thực của con người và do đời sống đó quy định

Trang 9

Nói cách khác, trong con người, cái sinh lý quy định cái tâm lý, cái tự nhiên - sinh họcquy định cái xã hội, nhu cầu vật chất quy định hành động xã hội" Quan điểm này củaFeuerbach đã làm cho Ăngghen rất chú ý Trong tác phẩm Lútvich phơbách và sự cáochung của triết học cổ điển Đức, Ăngghen đánh giá cao luận điểm của Feuerbach:

"Trong một cung điện, người ta suy nghĩ khác trong một túp lều tranh", "Nếu như vìđói, vì nghèo, mà trong cơ thể không có chất dinh dưỡng, thì trong đầu óc anh, trongtình cảm và trong trái tim anh cũng không có chất nuôi đạo đức" Đây là luận điểmhoàn toàn mới so với đương thời, vì theo quan điểm này thì điều kiện sinh hoạt vậtchất của con người quy định suy nghĩ và tư tưởng của nó

• Thứ hai là luận điểm đề cao tính cá thể của con người

Tuy nhiên, Feuerbach chưa có khả năng nhìn nhận con người với tư cách là một

cá thể của loài, với tư cách là một thành viên xã hội, mà ông chỉ mới dừng lại ở conngười cụ thể "Tôi chỉ đưa ra một luận điểm, nhưng đây là luận điểm cốt yếu mà mọiluận điểm khác phải xoay quanh nó Đó là khái niệm cá thể Sự khác biệt cơ bản giữaquan điểm của tôi với quan điểm của người phê phán tôi (mà cụ thể là giáo sư triết họcngười Đức- Schalier (1810 -1868) - LCS) là trong con người tồn tại cả tính cá thể vàtính loài, trong khi đó, theo ý kiến tôi thì tính cá thể đã bao quát toàn bộ bản chất conngười, bản chất con người chỉ có một - đó là bản chất cá thể"

Tuy nhấn mạnh tính cá thể của con người, song Feuerbach cũng hé mở một ýtưởng cho rằng, trong quá trình sống, con người có thể giao tiếp với những ngườikhác, với cộng đồng xã hội Do tiếp xúc với xã hội mà "từ một tồn tại thuần tuý vật lý,con người trở thành một tồn tại chính trị, nói chung trở thành một cái gì đó khác với tựnhiên, tồn tại đó chỉ quan tâm đến bản thân mình" Quan niệm cho rằng, con người làmột tồn tại xã hội đã có trong triết học của Aristote, nhưng Feuerbach đã vượt lên trênquan niệm này khi đưa vào đời sống của con người những phạm trù xã hội phản ánhđời sống đa dạng sinh động của con người như: tự do, nhân cách, luật pháp Feuerbachviết: "Con người là một tồn tại của tự do, tồn tại có nhân cách, tồn tại của luật pháp.Chỉ có trong con người thì "cái tôi" của Phichte, "cái đơn tử" của Leibniz, "cái tuyệtđối" của Hêgen mới được bén rễ" Ở đây, nhà triết học duy vật cổ điển Đức đã nhìnthấy rằng,"cái tôi", "cái đơn tử", "cái tuyệt đối" được miêu tả trong triết học của cácbậc tiền bối mới chỉ là xuất phát điểm, là nền tảng vật lý - sinh lý của con người Vấn

Trang 10

đề quan trọng hơn là bản chất đích thực của con người, tức là những yếu tố quy định

sự tồn tại của nó với tư cách là một sinh thể có tính loài hay nói theo cách của Mác làtính xã hội của con người Bởi vì" khi con người sinh ra từ giới tự nhiên, nó mới chỉ làmột sinh vật tự nhiên đơn thuần chứ không phải là người con người là sản phẩm củavăn hoá và của lịch sử" Như vậy, theo Feuerbach, khi nói về con người, nhất thiếtphải giả định rằng, có những người khác và chỉ có trong mối quan hệ đó thì con ngườimới là con người với ý nghĩa đầy đủ của từ này Từ việc công nhận con người như làsản phẩm của văn hoá, của lịch sử, Feuerbach đi đến quan điểm cho rằng, tính ích kỷkhông chỉ mang tính cá nhân như các nhà tư tưởng, các nhà đạo đức học trước ông(đặc biệt là những người theo eudaimonism - chủ nghĩa duy hạnh) tuyên bố, mà nó cònmang tính xã hội "Không chỉ có một tính ích kỷ đơn độc hay là tính ích kỷ cá nhân -Feuerbach viết - mà còn có một tính ích kỷ xã hội, một tính ích kỷ của gia đình, củatập thể, của cộng đồng, một tính ích kỷ yêu nước Tất nhiên, tính ích kỷ là nguyênnhân của mọi điều ác, nhưng cũng là nguyên nhân của mọi điều thiện… " Đây là mộtquan điểm hoàn toàn mới so với lịch sử đương thời, khi đọc những lời này củaFeuerbach, Lênin cho rằng, đây là "phôi thai của chủ nghĩa duy vật lịch sử" Tiến xahơn bước nữa, nhà triết học mang nặng tinh thần nhân đạo coi tính ích kỷ của conngười như là một động lực thúc đẩy sự phát triển của lịch sử xã hội "Trong lịch sử,một thời đại mới bắt đầu từ đâu? Bắt đầu từ chỗ, đông đảo quần chúng bị áp bức đưa

ra tính ích kỷ chính đáng của mình chống lại tính ích kỷ cực đoan của thiểu số ngườikhác tính ích kỷ của đa số nhân loại đang bị áp bức phải và sẽ thực hiện quyền củamình và mở ra một thời đại lịch sử mới không thể để cho thiểu số người là caothượng, có tài sản, còn số khác là thấp hèn, là chẳng có gì Tài sản phải có ở tất cả mọingười" Những lời lẽ có tính tuyên chiến với xã hội tư bản này được Feuerbach nói ravào thời điểm lịch sử khi Tuyên ngôn Đảng cộng sản của Mác và Ăngghen mới ra đời

đã phần nào phản ánh tư tưởng chủ nghĩa xã hội của Feuerbach và được Lênin đánhgiá cao trong Bút ký triết học”

Nhìn nhận con người vừa như là một cá thể chứa đầy tham vọng cá nhân, vừanhư là sản phẩm của con người, sản phẩm của văn hoá và lịch sử chính là cơ sở lý luận

để Feuerbach xem xét mối quan hệ giữa người và thần Feuerbach cho rằng, viện

Trang 11

nghiên cứu nguồn gốc và bản chất của tôn giáo phải xuất phát từ việc nghiên cứu bảnchất của con người và đời sống hiện thực của nó.

1.2 Quan niệm về con người trong triết học hiện sinh

1.2.1 Khái quát về triết học hiện sinh

Chủ nghĩa hiện sinh là một phong trào triết học nở rộ sau đại chiến thế giới lầnhai Chủ nghĩa hiện sinh ra đời do hai nguồn gốc chính đó là nguồn gốc xã hội vànguồn gốc nhận thức Về nguồn gốc xã hội, thì sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh là sựphản ánh bức tranh hiện thực bức tranh về cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản khibước vào giai đoạn chủ nghĩa đế quốc Đó chính là phản ứng tiêu cực của giới trí thức

tư sản và tiểu tư sản đối với sự tha hoá xã hội, tha hoá lao động và đối với mặt trái củacác thành tựu khoa học kx thuật trong xã hội tư bản đùa thế kỷ XX Về nguồn gốcnhận thức chủ nghĩa hiện sinh là sự khủng hoảng củ nền khoa học, sự bất lực của nóđối với các vấn đề thế giới quan, các vấn đề về ý nghĩa sự tồn tại của con người Ở thế

kỷ XIX đã ngự trị một xu hướng tuyệt đối hoá vai trò tuyệt đối hoá vai trò vạn năngcủa nhận thức lý tính của khoa học và tin rằng lý tính với khoa học có thể giả đáp tất

cả các vấn đề nhân sinh Quan niệm thời kỳ này cho rằngvới sự phát triển của thànhtựu khoa học kỹ thuật nhất định con nguời sẽ được thoả mãn về mọi phương diện chất

và tinh thần Nhưng cuối thế kỷ XIX lịch sử lại chứng minh ngược lại, sự phát triểncủa khoa học kỹ thuật lại không đồng nhịp, không đồng bộ với sự phát triển xã hội, lýtrí khoa học không cẩi thiện được nhân sinh, khoa học tỏ ra bất lực trứơc các vấn đềtồn tại con người

Sự xuất hiện chủ nghĩa hiên sinh đã có sức hấp dẫn kỳ lạ đối với tầng líp nhữngngười tuổi trẻ, nhất là thanh niên Vì họ đã đánh tróng tâm tư nguyện vọng của nhữngngười này đó là muốn ký giả cũng như là muốn thay đổi số phận của mình, khôngmuốn tiếp tục sống tha hoá khỏi bản chất của mình Và đó là hoạt động của cá nhânmuốn vượt lên chính bản thân mình trong thế giớ buồn chán đầy phi lý Họ muốn phá

bỏ mọi quy tắc của xã hội, của xã hội tư bản đẻ dẫn tới tự do cá nhân, muốn đạt đượcbản sắc độc đáo cá nhân của mình Các nhà hiện sinh đã mạnh dạn đưa ra những vấn

đề cơ bản của con người, tôn vinh các giá trị con người, nêu tự do cá nhân, chống lại

Trang 12

sự cai trị của kỹ thuật, thức tỉnh con người trước những điều phi lý của cuộc sỗngtrong xã hội tư bản.

Các đại biểu nổi tiếng của chủ nghĩa hiên sinh là Kiarkegaard, Sartre, Haiđơgơ,Jasper, Marcel… Các triết gia này có thể nói đã chịu nhiều ảnh huởng của triết học tôngiáo của thánh Auguytxtanh khi bàn đến con người Chính Jasper trong cuốn “Triếthọc nhập môn” đã nói rằng: các nhà tư tuởng ngày nay muốn mạo hiểm vào nhữngniềm sâu xa của con người thì hãy đi vào khai thác triết học của thánh Auguytxtanh đó

là những nguồn suối phong phú chưa bị tát cạn

1.2.2 Nội dung quan niệm con người trong Triết học hiện sinh

Trong thế kỷ XX, Hiện Sinh là triết học chủ yếu, đã đưa con người trở lại vớicon người, con người của thế kỷ XX, từ chối vai trò Thượng đế Nhưng khi nói về triếthọc hiện sinh thì phải xác định được là thứ triết học hiện sinh nào? Vì thuyết này cónhiều trường phái, nếu ngược về nguồn gốc thì phải kể đến Socrate, thánh Augustin,thánh Bernado rồi Pascal, Maine de Biran… Còn người được tôn làm ông tổ của triếthọc hiện sinh hiện đại là Kierkeggard, rồi phong trào hiện tượng học của E Husserl,Nietzche, Heidegger, Sartre, K Jaspers, G Marcel, chủ nghĩa nhân vị của Mounier…

và có thể nói rằng có bao nhiêu triết gia hiện sinh thì có bấy nhiêu thứ triết học hiệnsinh, nhưng tất cả đều có chung một điểm là vạch ra những cái “ điên” của con ngườithời đại là: “ bỏ quên thân phận của chính mình và tha nhân”

Bằng các tên gọi khác nhau - chủ nghĩa hiện sinh (Sartre), triết học hiện hữu (K.Jaspers), triết học về hiện sinh - triết học này có điểm chung cho tất cả các đại diện là

triết học về tồntại của con người, bản thể luận về con người, là tất cả những suy tư về thân phận con người, trước hết là con người cá nhân, cụ thể trong thời đại khủng hoảng về giá trị, những nỗi đau, những lầm lạc và những khát vọng của con người Ra

đời và phát triển tại các nước phương Tây, nhất là tai Đức và Pháp, sau hai cuộc đạichiến thế giới (1914 - 1918, 1939 - 1945), triết học hiện sinh biểu thị thái độ của conngười trước những diễn biến không đồng nhịp của xã hội

Chủ nghĩa hiện sinh có 2 hình thái chủ yếu: hiện sinh vô thần và hiện sinh hữuthần Hiện sinh vô thần với các đại biểu là Haidogo, Sartre, Camus nêu quan điểmcuộc đời con người là vô nghĩa, buồn nôn và các ông tin vào các thế lực siêu nhiên nào

Trang 13

đó để con người thoát ra khỏi tình trạng này Hiện sinh hữu thần với các đại biểuJasper, Marcel lại nêu luận điểm là trông cậy vào thượng đế và sự siêu việt để conngười có thể đạt được các giá trị siêu việt của thượng đế nhờ đó giải quyết được cuộcsống vô nghĩa này.

Nếu triết học cổ điển thể hiện tính tích cực tinh thần của con người, thì triết họchiện sinh đặt ra vấn đề sự chịu đựng tinh thần của mỗi cá nhân trước những biến độngcủa đời sống, từ đó gợi ra một lối thoát cho họ

Quan điểm con người trong triết học hiện sinh thể hiện qua các luận điểm sau:

Vấn đề hiện sinh (tồn tại) của con người và tự do cá nhân

Về mặt bản thể luận, chủ nghĩa hiện sinh phản đối chủ nghĩa thực chứng địnhthủ tiêu bản thể luận, coi triết học chỉ còn là nhận thức luận và phương pháp luậnthuần tuý Theo họ hiện sinh có trước bản chất Xáctơrơ giải thích điều này như sau:Thế nào là hiện sinh có trước bản chất? Điều đó có nghĩa là con người hiện hữu trước,

tự nổi lên trong thế giới, và sau đó nó mới được định nghĩa Con người, nếu nó khôngđịnh nghĩa được, đó là vì nó không là cái gì cả Con người không phải là cái gì khácngoài cái mà nó thể hiện ra

Các nhà hiện sinh phân biệt hai khái niệm hữu thể và hiện hữu (hiện sinh) Hữuthể là khái niệm chỉ một cái gì đó (một vật, một người) đang tồn tại, đang có mặt,nhưng chưa là một cái gì đó cụ thể cả, chưa có diện mạo, chưa có cá tính Đó là mộttồn tại chưa sống đích thực, vô hồn, tức là chưa hiện hữu Còn hiện hữu là một kháiniệm chỉ một cái gì đó không những là đang có mặt (tồn tại) mà còn là đang được sốngđích thực với diện mạo riêng

Do đó hiện sinh không phải là giới tự nhiên hoặc sự vật, mà là con người vì:

Thứ nhất, hiện sinh là phương thức tồn tại đặc trưng của con người Chỉ có con

người mới hiện sinh, chứ không phải Thượng đế, hòn đá, con bò Thượng đế đơn giản

là tồn tại, chứ không hiện sinh Hòn đá cũng không “hiện sinh”, cho dù nó thể hiện ra

hình hài, nó có tồn tại Thế giới là hiện thực, chứ không “hiện sinh” Chỉ có tồn tại người mới là thứ tồn tại nếm trải, âu lo, xao xuyến, buồn chán, khổ đau, suy tư Con người ý thức được nổi khổ đau của mình, luôn dằn vặt về thân phận mình Càng né

tránh đau khổ bao nhiêu, con người càng xa rời ý nghĩa hiện sinh bấy nhiêu Heideggercho rằng“hiện sinh”, xét như tồn tại đặc trưng của con người, là hiện hữu - ý thức, là

Trang 14

“Dasein”, phân biệt với “Sein” (tồn tại)

Thứ hai, hiện sinh là tồn tại - với, là sống - với Phương thức tồn tại của con

người là hiện hữu giữa trời và đất Theo quan điểm của hiên sinh tôn giáo con người làkhâu trung gian giữa thế giới mà nó gia nhập, và cái siêu việt vượt lên trên(Kierkegaard) Nhưng theo quan điểm của hiện sinh vô thần thì chỉ có chủ quan tínhcon người mới là cái duy nhất (Sartre); “sống - với” ở đây là sống với “tha nhân”.Chính vì thấu hiểu được điều đó mà con người chủ trương “dấn thân”, song quá trìnhnày lại tạo nên những xáo trộn mang tính chất phân đôi của tồn tại Sự trốn chạy vào

cô đơn là hệ quả của của những tác động bất lợi từ môi trường “tha nhân” - đó là hành

vi có sau, mang tính phản kháng

Thứ ba, hiện sinh là phương thức phi duy lý của tồn tại Hiện hữu của con

người trong thế giới về nguyên tắc không thể nhận thức được thông qua các khái niệm(lý trí), không bị vật hóa Nếu Hegel sùng bái tư duy, thì Kierkegaard, ông tổ của chủnghĩa hiện sinh, sùng bái xúc cảm Nếu Hegel thiên về phép biện chứng của các kháiniệm, thì biện chứng hiện sinh của Kierkegaard là biện chứng của những xung độngtâm linh - một cách xác định lại những giá trị nhân bản ở thời đại lãng mạn và bi kịch

Thứ tư, hiện sinh là hiện hữu luôn đặt mình trong lựa chọn và giải pháp, bắt

đầu bằng việc kích thích chủ quan tính, cái Tôi Con người vùng vẫy, quẫy đạp, khaokhát hướng đến tự do bất chấp những lực lượng cưỡng chế bên ngoài, mặc dù đó là sựvùng vẫy vô vọng

Thứ năm, hiện sinh là khả năng đang thể hiện Hiện hữu của con người là khả

năng chủ quan của con người, bộc lộ ra qua hành vi Mâu thuẫn giữa khả năng dườngnhư vô tận của con người với tính hữu hạn của tồn tại cá nhân góp phần tạo nên tínhhai mặt của đời sống - mặt sáng tạo, tich cực và những biểu hiện tiêu cực khó kiểmsoát

Về mặt nhận thức luận, do đã coi vấn đề bản thể luận trung tâm của triết học là

sự cảm thụ chủ quan và thái độ ứng xử của cá nhân nên chủ nghĩa hiện sinh không chútrọng nghiên cứu nhận thức khoa học Trái lại chủ nghĩa hiện sinh cho rằng, những trithức thu được bằng khoa học dựa trên lý tính là hư ảo Người ta càng dựa vào lý tính

và khoa học thì càng khiến mình bị chi phối, từ đó bị tha hoá Theo họ để đạt đến hiệnsinh chân chính thì chỉ có thể dựa vào trực giác phi lý tính Chỉ có trong cuộc sống đau

Trang 15

khổ, cô đơn, tuyệt vọng, sợ hãi… con người mới có thể trực tiếp cảm nhận được sự tồntại của mình Như vậy, nhận thức luận của chủ nghĩa hiện sinh là nhận thức duy tâmchủ quan phi duy lý.

Về luân lý, chủ nghĩa hiện sinh phản đối mọi hình thức quyết định luận trongđạo đức, phủ nhận sự tồn tại phổ biến của những nguyên tắc đạo đức Chủ nghĩa hiệnsinh cho rằng, tự do là bản chất của sự hiện sinh của cá nhân con người, nó khôngphục tùng Thượng đế hoặc bất cứ quyền uy nào, cũng không chịu sự ràng buộc của bất

cứ tính tất yếu khách quan nào, nó là sự tuyệt đối Giá trị hiện sinh của cá nhân đượcthể hiện trong sự lựa chọn tự do của cá nhân Chủ nghĩa hiện sinh còn đặt tự do của cánhân đối chọi với tự do của cá nhân khác Tự do của cá nhân không bị gò bó bởi ngườikhác và bởi bất kỳ lực lượng xã hội nào Như vậy, quan điểm về tự do của chủ nghĩahiện sinh là quan điểm của chủ nghĩa cá nhân cực đoan

Về quan điểm lịch sử xã hội, chủ nghĩa hiện sinh xuất phát từ tự do cá nhântuyệt đối, cho rằng chỉ có cá nhân mới là hiện sinh chân thực, xã hội chỉ là một phươngthức hiện sinh của cá nhân, hơn nữa là phương thức hiện sinh không chân thực Bởi vìkhi giữa xã hội và cá nhân có liên hệ chặt chẽ thì sự tồn tại của cá nhân sẽ không còn

là cá nhân thực sự mà là cá nhân bị đối tượng hoá, bị mất cá tính do bị ràng buộc vớingười khác và với xã hội, là cá nhân bị tập thể, xã hội và người khác lấn át Do đó, tồntại xã hội đã bóp chết hiện sinh chân chính của mình, con người cần thoát khỏi sự ràngbuộc của những người khác và của xã hội Xã hội chính là sản vật tha hoá của conngười, bản thân nó không phải là cái tồn tại khách quan, tự thân phát triển theo quiluật, mà chỉ là một mớ ngẫu nhiên những con người bị tha hoá Động lực phát triểncủa lịch sử tất nhiên cũng không nằm trong bản thân xã hội mà do sự hiện sinh của cánhân quyết định Do đó, cần tìm tiến trình và đặc điểm của lịch sử ở thế giới bên trong

cá nhân con người

Chủ nghĩa hiện sinh còn cho rằng, lịch sử không thể nhận thức được Theo họ,lịch sử chẳng qua là sự biểu hiện ra bên ngoài của tồn tại của con người, mà sự tồn tạicủa con người là không thể biết được Vì chúng ta không hiểu biết quá khứ, cũngkhông hiểu biết tương lai, cho nên, chúng ta không thể thực sự hiểu được hiện tại Chonên, đối với con người thì lịch sử xã hội mãi mãi chỉ là một vùng đen tối Lịch sử xã

Trang 16

hội đã không thể biết thì đứng trước xã hội con người tất nhiên cảm thấy yếu đuối, bấtlực.

Theo chủ nghĩa hiện sinh, một mặt lịch sử xã hội là sự tha hóa của tồn tại cánhân, nên bản thân nó không có tính thực tại khách quan; mặt khác con người lại bị nôdịch bởi sức mạnh của những cái mà họ sáng tạo ra, đó là sức mạnh tha hóa Hơn nữa,mọi sự cố gắng của con người để thoát khỏi sự nô dịch đó đều tấn công vô ích, đều bịthất bại Do đó, lịch sử loài người chỉ là một bi kịch không có kết thúc Vậy con ngườilàm thế nào để giải thoát khỏi sức mạnh tha hoá và bi kịch của họ? Chủ nghĩa hiệnsinh nhận định rằng không thể dựa vào khoa học và lý tính hay bất cứ cái gì khác màchỉ có thể tự cứu mình bằng những hành động tự phát, mạo hiểm hoặc chờ mong sựgiải thoát ở các lực lượng tôn giáo thần bí Đó là con đường bế tắc mà chủ nghĩa hiệnsinh chỉ ra cho con người

Vấn đề trách nhiệm con người

Bên cạnh bức tranh không mấy sáng sủa về thân phận con người nhiều nhà hiệnsinh đề cao (hay đánh thúc) các giá trị người, hiện diện trong mỗi cá nhân Một là nhấnmạnh tính độc đáo, tính sáng tạo, không lặp lại của cá nhân trong sự so sánh với cánhân khác Mọi sự cào bằng, san phẳng những cái tôi đó đều bị phê phán Hai là đềcao sự tự chủ và tinh thần “dám liều” trong hoạt động sống Ba là đòi hỏi mỗi cá nhân

ý chí tiến thủ, khát vọng vươn lên, không bằng lòng với chính mình, không tự mãn vớinhững gì mình đã đạt được

Ba diện mạo con người

 Con người phân thân, tha hóa, cô đơn giữa thế giới dửng dưng, cảm nhận sựdòn, mỏng của hiện hữu cá nhân, tâm trạng “chán sống”

 Con người phản kháng, chống lại “tha nhân”, “người ta” để tìm lại chính mình,

dù đó là sự tìm kiếm không mấy thành công

 Con người khát vọng, có trách nhiệm với số phận chung của nhân loại (trong

“Dịch hạch” A Camus tuyên bố rằng “con người cần phải trở thành chính mình” theonghĩa chân chính nhất của từ đó) Hiểu thế nào về chủ nghĩa cá nhân hiện sinh? Chủnghĩa hiện sinh đề cập đến con người cá nhân với tất cả những tính cách mâu thuẫnnhau của nó, nhưng không đề cao tính vị kỷ, mà thực ra xem xét nó trong sự đối chiếuvới môi trường xã hội đôi khi “hoà tan”, “san phẳng” cá nhân dưới tác động của “trung

Trang 17

bình tính”, của những chuẩn mực đã được thừa nhận Do đó sự phản kháng hiện sinh

có thể triển khai theo hai hướng - tích cực và tiêu cực, văn hóa và phản văn hóa Tuyvậy nhiều nhà hiện sinh từ hình ảnh con người cá nhân đã suy tư về tình thế “tranhxhấp” của nhân loại Chủ nghĩa hiện sinh, như cách thể hiện của nó, không răn dạy conngười bằng những sáo ngữ và những mệnh lệnh xơ cứng, mà gợi mở suy nghĩ của conngười về trách nhiện cá nhân đối với bản thân và những người khác

Hình ảnh con người trong chủ nghĩa hiện sinh được cô đọng trong một công

trình nghiên cứu của E Mounier - Những chủ đề của triết học hiện sinh (Thụ Nhân

dịch, Sài Gòn, 1970) Tác giả nêu ra 12 luận đề cơ bản: Sự bất tất của cuộc sống conngười; Sự bất lực của lý trí; Sự nhảy vọt của con người; Sự dòn mỏng của con người,tình thế tranh chấp; Sự phóng thể, vong thân; Đời người có giới hạn, thần chết lại vộivã; Sự cô độc và bí hiểm; Sự hư vô; Sự cải hóa cá nhân; Vấn đề nhập thế, dấn thân;Quan hệ giữa tôi và tha nhân, người ta; Đời sống dám liều

Chủ nghĩa hiện sinh là sự phản ứng của con người trước tình trạng bất ổn về xãhội trong thời kỳ khủng hoảng toàn diện của chủ nghĩa tư bản như lo sợ chiến tranh,không tin vào khoa học, đau khổ, phiền não, tuyệt vọng vì thế nó có ảnh hưởng mạnh

mẽ, rộng rãi đối với thế giới phương Tây

1.3 Quan niệm về con người trong chủ nghĩa thực chứng mới

1.3.1 Khái quát về chủ nghĩa thực chứng mới

Các triết gia thuộc trào lưu chủ nghĩa duy khoa học chủ trương xây dựng triết học theo

mô hình "các khoa học thực chứng" Theo họ, triết học không nên nghiên cứu nhữngvấn đề như bản chất của sự vật, các quy luật chung của thế giới, v.v mà đi tìm phươngpháp khoa học có hiệu quả nhất, đáng tin cậy nhất mới là nội dung chủ yếu của việcnghiên cứu triết học Trong các trường phái theo chủ nghĩa duy khoa học, trường phái

có ảnh hưởng lớn và lâu nhất là chủ nghĩa thực chứng.Các nhà triết học thực chứngcho rằng, chỉ có các hiện tượng hoặc sự kiện, mới là "cái thực chứng", do đó họ khôngthừa nhận bất cứ cái gì ngoài hiện tượng, không thừa nhận bản chất của sự vật, họmuốn lẩn tránh vấn đề cơ bản của triết học, muốn loại trừ vấn đề thế giới quan ra khỏitriết học truyền thống Ôguýt Côngtơ cho rằng, triết học phải lấy các sự vật "thựcchứng", "xác thực" làm căn cứ

Ngày đăng: 25/05/2023, 13:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w