NHÓM 3 NHÓM 3 Trần Thị Duyên Trần Thị Hạnh Cao Thị Tuyết Trinh Phạm Thị Lệ Dương Thế Linh ĐỀ TÀI 3 “Nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc ,tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì Ngườ[.]
Trang 1NHÓM 3
Trần Thị Duyên Trần Thị Hạnh Cao Thị Tuyết Trinh
ĐỀ TÀI 3:
“Nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc ,tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì Người dân chỉ có thể hiểu được giá trị của độc lập khi họ được ăn no mặc đủ”.
1 Đặt vấn đề
Hồ Chí Minh – người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc là người tìm kiếm, lựa chọn, vạch ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam.Tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn đèn soi sáng, xuyên suốt trong quá trình giải phóng dân tộc và phát triển, xây dựng đất nước hiện nay
Nét đặc sắc trong tư duy của Hồ Chí Minh là Người luôn luôn chú ý tìm ra, khơi dậy các nguồn động lực chủ yếu để thúc đẩy sự phát triển của sự nghiệp cách
mạng Với Người, nhân dân chính là một trong những động lực chủ yếu để thực hiện cách mạng thành công, xây dựng và phát triển đất nước giàu mạnh, bền
vững Thương yêu nhân dân, thương yêu con người, tin tưởng ở sức mạnh đoàn kết của nhân dân, hết lòng phục vụ nhân dân là quan điểm bao trùm trong toàn
bộ Tư tưởng Hồ Chí Minh, cơ sở để hình thành tư tưởng về công tác dân vận
của Người Quan trọng nhất, độc lập dân tộc phải đi đôi với hạnh phúc của nhân dân Độc lập bao giờ cũng gắn liền với tự do dân chủ và ấm no hạnh phúc của
Trang 2nhân dân, nhất là đối với một nước thuộc địa, nửa phong kiến có trên 90% là
nông dân Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước được độc lập mà dân không
được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lí gì Người dân chỉ hiểu được giá trị của độc lập khi họ được ăn no mặc đủ.”
1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về độc lập dân tộc
C.Mác(1818-1883) và Ph.Ăngghen(1820-1895) đã xây dựng nên học thuyết cách mạng và khoa học nhân đạo C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa có phê phán những thành tựu khoa học và những giá trị tư tưởng của nhân loại đạt được trước
đó, bằng lao động khoa học và sáng tạo hai ông đã phân tích xã hội tư bản, tổng kết thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động C.Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng nên học thuyết cách mạng, khoa học và nhân đạo để giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người Trong học thuyết của mình, hai ông đã chứng minh sự sụp đổ tất yếu của chủ nghĩa tư bản và
sự quá độ sang một xã hội mới không còn chế độ người bóc lột người Đó là chủ nghĩa xã hội giai, đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản
1.1.Quan điểm của Mác về vấn đề độc lập dân tộc
Theo Mac, mục tiêu cao nhất là giải phóng dân tộc , giải phóng giai cấp, tiến tới giải phóng con người một cách triệt để nhất Chủ nghĩa xã hội không chỉ dừng lại ở ý thức, ở khẩu hiệu giải phóng con người mà phải từng bước thực hiện hóa qua thực tiễn sự nghiệp giải phóng con người khỏi chế độ áp bức, bóc lột giữu
người với người và tiến tới mục tiêu cao nhất: “ Biến con người từ vương quốc của
tất yếu sang vương quốc của tự do” tạo nên một thể liên hiệp:”trong đó sự phát triển tự do của mỗi con người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” Để có thể giải phóng con người một cách triệt để nhất, cần phải giải phóng
từ sự áp bức về kinh tế Những cuộc cách mạng trước đây vốn chỉ mang tính chính trị, nó được kết thúc bằng việc lật đổ ách thống trị của giai cấp này, thay thế bằng ách thống trị của giai cấp khác Như vậy phải người lao động mãi mãi bị thống trị, không có chút nào gọi là độc lập, tự do cả Bởi vậy, việc trước hết cần làm để giải phóng con người chính là thay đổi vị trí, vai trò của người lao động đối với tư liệu sản xuất chủ yếu Như vậy, Mác muốn xây dựng công cộng với tư liệu sản xuất, hướng xã hội tới sự bình đẳng, con người được giải phóng
Trang 31.2 Quan điểm của Lenin:
Nếu như xét quan điểm của Mác, dễ nhận thấy người tiếp cận vấn đề này ở góc độ lý luận thì sang quan điểm của Lênin, người lại tiếp cận từ thực
tiễn. Điều này được thể hiện rõ ràng qua cuộc cách mạng Tháng Mười cùng
những chính sách kinh tế mà Lênin đưa ra, từ chính sách cộng sản thời chiến
cho đến chính sách kinh tế mới – NEP.
1.2.1 Về độc lập dân tộc:
Sau cách mạng Tháng Hai, nước Nga xuất hiện tình trạng hai chính quyền song song cùng tồn tại: Chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản và xô viết đại biểu nhân và binh lính Sau khi nắm được chính quyền, chính phủ lâm thời đã không giải quyết những vấn đề đã hứa trước đó như vấn đề ruộng đất của nông dân, việc làm cho công nhân, tính trạng thiếu lương thực
và nhất là quyết theo đuổi chiến tranh đế quốc đến cùng Trước tình hình đó, Lenin quyết định lật đổ chính quyền lâm thời, xây dựng chính quyền Xô viết Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Xô viết đã đứng lên khởi nghĩa, cách mạng tháng Mười đã giành được thắng lợi Đây là cuộc cách mạng XHCN, do giai cấp vô sản tiến hành Thắng lợi của cuộc cách magnj đã hình thành nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới, đưaa nước nga đi theo con đường XHCN
1.2.2 Về Chủ Nghĩa xã hội
Sau khi cách mạng tháng Mười Nga thành công, chính quyền Xô viết tranh thủ giải quyết vấn đề cấp bách, củng cố chính quyền của giai cấp vô sản, đặt nền móng cho việc xây dựng nền kinh tế XHCN Tuy nhiên, đến
1918, nước Nga có nội chiến Từ bên ngoài có sự can thiệp vũ trang của 14 nước đế quốc do Anh, Pháp cầm đầu hòng bóp chết nhà nước xô viết còn non trẻ Cuộc nội chiến và can thiệp nước ngoài làm nước nga cang thêm
khó khăn chồng chất Để đối phó với tình hình đó, Lenin nêu ra khẩu hiệu: “
Tất cả tiêu diệt kẻ thù” và thi hành chính sách “kinh tế cộng sản thời chiến”
1.3 Chủ nghĩa xã hội ở các nước phương Đông
1.3.1 Kinh nghiệm các nước
Trang 4Sau chiến tranh thế giới thứ 2 hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ra đời bao gồm nhiều nước trên thế giới Liên Xô và các nước Đông Âu đã có một thời kỳ phát triển rực rỡ và đạt được nhiều thành tựu to lớn đóng góp chung vào sự nghiệp phát triển của nhân loại trong thế kỷ XX: chế độ xã hội chủ nghĩa từng bước đưa nhân dân lao động lên làm chủ xã hội phát triển mạnh mẽ làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ Thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội xây dựng và phát triển về tiềm lực kinh tế chính trị Sức mạnh của chủ nghĩa xã hội đóng vai trò quan trọng đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hủy diệt bảo
vệ hòa bình thế giới, tác động mạnh mẽ đến phong trào đòi dân sinh, dân chủ của nhân dân trong các nước tư bản chủ nghĩa
Theo HCM, những mầm mống tư tưởng XHCN ở phương Đông đã xuất
hiện rất sớm, còn thích ứng dễ hơn ở phương Tây(1921) đó là: “ Lấy dân làm
gốc”, “ công bằng, bình đẳng tài sản giữa người lao động với nhau, tư tưởng về tình yêu thương hữu ái giữa người và người” Văn hóa như dòng chảy liên tục và
CNXH có thể ra đời ở châu Á
Tiền đề kinh tế xã hội ở châu Á làm xuất hiện tư tưởng CNXH từ sớm Do sản xuất nông nghiệp lúa nước, từ sớm đòi hỏi nhu cầu liên kết, hợp tác sản xuất
giữa người và người. Phương Đông xuất hiện chế độ công điền, công thổ (20% ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước), cơ sở công hữu XHCN sau này Dựa vào sự tàn bạo của CNTB ở các nước thuộc địa châu Á Vào những năm 20 của thế kỷ
20 hầu hết các nước châu á trở thành thuộc địa của các nước tư bản phương Tây, CNTB đã để lại những hệ quả sau: những tư tưởng cách mạng tiến bộ ban đầu, CNTB tạo ra quá trình công nghiệp hoá cưỡng bức, hình thành cơ cấu giai cấp
xã hội mới, trong đó có giai cấp công nhân thuộc địa - lực lượng vật chất của cách mạng vô sản; giai cấp Tư Sản thiết lập ở các nước thuộc địa sự thống trị dã man tàn bạo nhất, đẩy đa số quần chúng, nhất là nông dân vào con đường
1.3.2 Truyền thống yêu nước
Trang 5Khi nhà nước bị bọn xâm lược dày xéo thì dân tộc không có khát vọng nào cao hơn là giành độc lập dân tộc Nhưng chúng ta vẫn biết là không phải bất cứ lúc nào những người con của dân tộc cũng tìm thây cho mình con đường cứu dân, cứu nước đúng đắn Khi thực dân pháp xâm lược nước ta đến năm đầu thế kỉ XX cho thấy nhân dân ta, các thế hệ nối tiếp nhau đứng lên, mong đánh đuổi thực dân pháp, giành lại non sông đất nước Song chưa có đường lối đúng đắn như con đường “ Tây Du” và “Đông Du” của các cụ Phan khởi xướng, do ngọn cờ tư tưởng phong liến đã lỗi thời, nên các phong trào, các cuộc khởi nghĩa yêu nước
lần lượt thất bại, quần chúng cách mạng bị dìm trong biển máu
Sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, người thanh niên Nguyễn Tất Thành sau nhiều năm trăn trở Người đã ra đi tìm đường cứu nước vào năm 1911 Thấm đượm tinh thần yêu nước truyền thống Việt Nam, trong tư tưởng Hồ Chí Minh cái quý nhất trên đời là độc lập của Tổ quốc, tự do của nhân dân Hồ Chí Minh
nói:“Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được
độc lập ” Trên đường tiếp cận chân lý cứu nước, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1791 của
cách mạng Pháp, Người hiểu rõ chân lý bất di bất dịch về quyền cơ bản của các
dân tộc: ”Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng
có quyền sống quyền sung sướng và quyền tự do.”
Năm 1919, vận dụng nguyên tắc dân tộc tự quyết thiêng liêng đã được các đồng minh thắng trận trong chiến tranh thế giới thứ nhất thừa nhận, thay mặt cho những người Việt Nam yêu nước, Người gửi đến Hội nghị hòa bình Vécxây một bản yêu sách 8 điểm đòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam Bản
yêu sách đã không được dư luận chú ý đến Người rút ra bài học: “Muốn được giải
phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”.
2 Thực tiễn Việt Nam
2.1 Phong trào yêu nước giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX
Độc lập dân tộc và canh tân đất nước luôn là khát vọng của người Việt Nam Mục đích, lý tưởng ấy đã thôi thúc các thế hệ Việt Nam chiến đấu quên mình, vượt qua mọi thử thách để vươn lên tìm con đường cứu nước đúng đắn Sự chuyển biến của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trong những năm đầu của thế kỷ 20
Trang 6phản ánh nhịp độ phát triển nhanh chóng về chính trị của các tổ chức cách mạng, cũng như của các hình thái biểu hiện
2.1.1 Con đường cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam (1914 - 1925)
Tuy cùng trong một điều kiện lịch sử, nhưng trong việc giải quyết vấn đề độc lập dân tộc đầu thế kỷ 20 lại xuất hiện hai xu hướng tiêu biểu khác nhau: Xu hướng cải lương của Phan Chu Trinh và xu hướng vũ trang bạo động của Phan Bội Châu Bất chấp các thất bại liên tiếp, Phan Bội Châu và các sĩ phu vẫn tin vào tưởng lai của dân tộc Việt nam, vào thắng lợi cuối cùng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Do vậy, việc làm đầu tiên là phải rèn đúc ý chí Phan Bội Châu và các cộng sự
đã cùng thống nhất vạch ra kế hoạch lớn với mục tiêu là: Đánh giặc phục thù, cốt sao khôi phục được nước Việt Nam, lập ra một Chính phủ độc lập, ngoài ra chưa
có chủ nghĩa gì khác
Cùng thời gian với phong trào Đông Du còn có cuộc vận động “Văn minh Tân học" mà Đông Kinh nghĩa thục và phong trào chống thuế ở Trung Kỳ là tiêu biểu Cả hai phong trào này có quan hệ gần gũi với Duy Tân hội Đông Kinh nghĩa thục hoạt động như một tổ chức cách mạng thực sự Trường không chỉ dạy chữ, truyền thụ kiến thức thông thường mà còn tuyên truyền, phổ biến chủ nghĩa yêu nước Tuy nhiên, mọi cố gắng của Phan Bội Châu cùng các cộng sự đều không đem lại kết quả như mong muốn vì thiếu một giai cấp tư sản dân tộc lãnh đạo
Do không lường hết được những thủ đoạn đen tối của bọn thực dân và
phong kiến tay sai, cùng với những nỗi đau trước nhiều thất bại liên tiếp của phong trào nên Phan Bội Châu đã phạm một sai lầm đáng tiếc đó là việc cụ bày tỏ quan điểm hợp tác Pháp - Việt với toàn quyền Đông Dương trong "Pháp - Việt đề huề chính kiến thư" Ngày 11/5/1925, chúng đã mai phục ở sân ga Thượng Hải để bắt cóc cụ Phan đưa về nước với âm mưu bí mật thủ tiêu và nếu không có người phát hiện sớm thì chúng đã thủ tiêu cụ
Trước sự bế tắc của các cuộc đấu tranh vũ trang chống Pháp, Phan Chu Trinh
- người bạn thân của Phan Bội Châu muốn mở một lối thoát cho phong trào dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản Ông không theo con đường mà Phan Bội Châu
và Hoàng Hoa Thám đã đi lúc bấy giờ mà chủ trương thông qua con đường cải cách - canh tân đất nước Việt Nam bằng việc sử dụng giá trị tinh thần tư tưởng tiến
bộ của cuộc Đại Cách mạng Pháp năm 1789 Tháng 7/1904, Phan Chu Trinh gặp
Trang 7Phan Bội Châu, nhưng khác với số đông sĩ phu đương thời, ông cho rằng: trước mắt chưa nên đặt vấn đề khôi phục chủ quyền quốc gia; đặc biệt càng không nên chủ trương bạo động (bạo động tắc tử) mà nên tập trung vào 3 nhiệm vụ đó là: Chấn dân khí; Khai dân trí; Hậu dân sinh Chủ trương đó trước hết được các sĩ phu hưởng ứng như Huỳnh thúc Kháng, Trần Quý Cáp
Đầu thế kỷ 20, Pháp đã tăng cường đầu tư vào Đông Dương Phan Chu Trinh không hiểu được rằng những kết quả đầu tiên ấy (như báo cáo của P.Đume gửi về Pháp ngày 22/2/1902) đang "làm rạng rỡ văn minh nước Pháp, lại còn tán dương những việc làm của bọn thực dân Phan Chu Trinh đã chân thành dốc hết tâm sức vào con đường cải lương cứu nước và đã góp phần quan trọng vào phong trào Duy Tân đầu thế kỷ 20 ở nước ta Nhưng ông không hiểu được rằng những tư tưởng tiến bộ trong cuộc Đại Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ 18 đã bị chính con cháu của cuộc Đại Cách mạng đó bỏ rơi Tư tưởng nhân quyền và dân quyền, khẩu hiệu
tự do bình đẳng và bác ái chỉ còn là một thứ bánh vẽ đã và đang bị lợi dụng để phục vụ cho giai cấp tư sản Pháp đi nô dịch các dân tộc nhỏ, yếu và gây chiến tranh nhằm tìm kiếm các nguồn lợi nhuận trên thế giới
Dẫu bị hạn chế về tư tưởng, nhưng tấm lòng yêu nước của Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu đã thúc giục nhiều thanh niên một thời ngưỡng mộ những chính sách, bài giảng và những tác phẩm đầy nhiệt huyết của hai cụ để xích lại gần nhau hơn trên con đường chống chế độ thực dân Chính các ông đã phối thêm sinh khí của luồng
tư tưởng dân chủ tư sản, ít nhiều làm rõ thêm yêu cầu chống chế độ phong kiến thối nát - một vấn đề lịch sử có tính thời đại mới được đặt ra trong xã hội Việt Nam
2.1.2 Sự chuyển hoá của các tổ chức yêu nước theo khuynh hướng cộng sản và hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam thành một chính đảng duy nhất.
Trước khi xuất hiện phong trào cộng sản, các hoạt động mang màu sắc Duy Tân của phong trào do Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và các sĩ phu yêu nước đã
có sức lôi cuốn mạnh mẽ đông đảo các tầng lớp nhân dân Đặc biệt, phong trào đó
đã không ngừng vươn tới những giá trị đích thực của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Các tổ chức có cội nguồn từ Duy Tân hội, Phục Việt, Tâm Tâm xã đã thừa nhận vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc Họ hăng hái chuyển hoá theo khuynh hướng cộng sản
Bằng con đường lao động cực nhọc, làm phương tiện và biện pháp để đi tìm chân lý, Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện một cuộc hành trình dài ngày qua nhiều nước trên thế giới như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, An giêri… từ Địa Trung Hải
Trang 8qua kênh đào Xuye, Biển Đỏ, đến Ấn Độ Dương rồi Đại Tây Dương, đặt chân trên nước Mỹ, sang Anh rồi trở lại Pháp… Người đã chứng kiến tội ác chồng chất của chủ nghĩa thực dân, Người cũng đã nếm trải chia sẻ và những khổ đau của nhân loại trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất
Trong suốt 10 năm ôm khát vọng "Độc lập cho Tổ quốc tôi, hạnh phúc cho đồng bào tôi", đã đưa Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin - một học thuyết khoa học và cách mạng của thời đại Người nói: "Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin" Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và những kinh nghệm của cách mạng thế giới vào thực tiễn cách mạng Việt Nam để hình thành Con đường Cách mệnh Con đường này đã được Tân Việt cách mạng đảng sớm thừa nhận
Đánh giá vai trò quan trọng của chính đảng kiểu mới được Nguyễn Ái Quốc thành lập ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20, nhà sử học Pháp P.R.Feray đã viết trong tác phẩm "Nước Việt nam" ở thế kỷ 20 như sau: Với sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất vào ngày 3 - 2 - 1930, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc
đó là một bước ngoặt lịch sử của giai cấp công nhân, trong lịch sử phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam từ nay đã có một đảng lãnh đạo, được trang bị bởi một học thuyết khoa học bởi những nguyên tắc hành động và tổ chức chặt chẽ, có liên quan mật thiết với phong trào cách mạng quốc tế, có khả năng lôi cuốn các tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Như vậy, sự thành lập chính đảng công nhân đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng lãnh đạo trong phong trào yêu nước và cách mạng cảu dân tộc Việt Nam Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đi vào một cuộc chiến đấu phức tạp và gay go, cuộc chiến đấu này 15 năm sau sẽ dẫn tới việc giành chính quyền
3 Con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc
Nghiên cứu những bài học lịch sử của các bậc cha, anh và khảo nghiệm trong thực tiễn, anh Nguyễn Tất Thành thấy rằng mọi cách thức tiến hành ở trong nước, hay đi ra nước ngoài, sang Trung Quốc, hay Nhật Bản đều không thể thành công Những con đường mà các bậc sĩ phu đã đi đều bị kết thúc bằng những thất bại đau đớn Phải tìm con đường khác, con đường mới; phải đi ra nước ngoài nhưng theo một hướng khác Đó là kết luận rất quan trọng của anh thanh niên Nguyễn Tất Thành với lòng yêu nước mãnh liệt và một cách suy nghĩ táo bạo, một
Trang 9trí tuệ hết sức minh mẫn quyết khám phá bằng được con đường đi đến giải phóng cho đồng bào Ngày 5 tháng 6 năm 1911, Nguyễn Tất Thành từ cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) rời Tổ quốc Người thanh niên
21 tuổi ấy ra đi với mục đích thỏa mãn một ước mơ của tuổi trẻ Điều đó, hơn mười năm sau chính anh đã trả lời nhà báo, nhà thơ Nga ÔXip Mandenstan rằng: Vào trạc tuổi mười ba, lần đầu tiên tôi được nghe những từ “TỰ DO - BÌNH
ĐẲNG - BÁC ÁI” Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp Người Pháp đã nói thế và từ thuở ấy, tôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy
Sau hơn 10 năm lăn lộn qua nhiều nước để tìm tòi thử nghiệm, Người đã đến với Chủ nghĩa Mác-Lenin, đến với tư tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.
Người cho rằng phải học tập cách mạng Nga, khi được tiếp xúc: “Bản luận
cương về vấn đề dân tộc, thuộc địa” của Lenin, Người đã sung sướng nói to lên:
“Hới đồng bào bị đày đọa đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con
đường giải phóng chúng ta!” Và từ lòng yêu nước, thương dân, Người ra đi tìm
đường cứu nước, cứu dân dân và giải phóng lao động và quả quyết: “ Muốn cứu
nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản giành độc lập dân tộc” Sau khi giành được thắng lợi trong cuộc
cách mạng tháng 8 -1945, chính quyền non trẻ của ta gặp phải tình thế vô cùng khó khăn, ngàn cân treo sợi tóc, phải đối đầu với thù trong- tình hình kinh tế tài chính kiệt quệ, dân chúng lầm than với hai thứ giặc đói và giặc dốt, và giặc ngoài- quân thù năm nay xâm lược trở lại nước ta Người đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với CNXH Năm 1930, đảng cộng sản Việt Nam ra đời là mốc son đánh dấu sự kết hợp các nhân tố dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, độc lập dân tộc và CNXH trong bản chất của Đảng
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, chỉ có chủ nghĩa Xã hội, chủ nghĩa Cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới k hỏi ách nô lệ,chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người, không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc, có một xã hội tốt lành gắn liền với tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no; bảo đảm việc làm cho mọi người, tất cả vì niềm vui, hoà bình, hạnh phúc của con người
4 Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trang 104.1 Cơ sở lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc
Dân tộc Việt Nam đã trải qua hơn một nghìn năm bị đô hộ bởi nước phong kiến phương bắc là Trung Quốc và hơn một trăm năm bị xâm chiếm thuộc địa bởi các nước đế quốc Pháp, Nhật, Mỹ Chúng đã dùng mọi hình thức bóc lột, vơ vét của cải của nhân dân ta dưới lớp vỏ ngụy trang là khai sáng dân tộc Việt
Nam Vì thế, nỗi khát khao giành độc lập dân tộc vẫn luôn âm ỉ cháy trong lòng
mỗi người dân Việt Như Hồ Chí Minh đã đúc kết chân lý: “Dân ta có một lòng
nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi
khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng
vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn
chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” Và chính sức mạnh của chủ nghĩa
yêu nước đã thúc giục Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước Người đã tiếp
thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào quá trình đấu tranh và giải phóng dân tộc ởViệt Nam Từ đó cuộc cách mạng của dân tộc ta đã bước sang một giai đoạn mới, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng chính trị đúng đắn, là sợ chỉ đỏ xuyên suốt và bao trùm trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh Tư tưởng đặc sắc ấy thể hiện nhất quán mục tiêu của con đường cách mạng mà người đã lựa chọn, nó vừa đáp ứng được yêu cầu bức xúc của dân tộc và khát vọng của quần chúng nhân dân là giành lại độc lập, tự do, ấm no và hạnh phúc, giải phóng cuộc đời lầm than, đói khổ dưới ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân bè lũ, tay sai Sự gắn kết giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cũng chính là con đường tất yếu khách quan, hợp với quy luận phát triển của đất nước, hợp với lòng người
4.2 Độc lập dân tộc là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của đất nước