i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được công bố ở bất kỳ hình thức nào dưới tư cách là hoạt động khoa học Tôi cam đoan mọi s[.]
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về việc làm cho lao động nông thôn 5
1.1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm, đặc trưng của nông thôn
Khái niệm về nông thôn vẫn chưa có định nghĩa thống nhất và phổ biến Nếu chỉ dựa vào mật độ dân số thấp hơn thành phố để xác định nông thôn, thì điều này không hoàn toàn chính xác, vì tiêu chí này có sự khác biệt giữa các quốc gia và ngay cả trong nước, một số vùng nông thôn có mật độ dân số không thấp hơn nhiều so với các thị xã.
Nông thôn thường được hiểu là khu vực mà cư dân chủ yếu sống bằng nông nghiệp, tuy nhiên, quan điểm này chưa hoàn toàn đầy đủ Nhiều vùng nông thôn hiện nay có dân cư chủ yếu hoạt động trong tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, khiến thu nhập từ nông nghiệp trở nên thứ yếu Theo Thông tư số: 54/2009/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nông thôn được định nghĩa là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị của các thành phố, thị xã, thị trấn, và được quản lý bởi ủy ban nhân dân xã.
- Những đặc trưng chủ yếu của vùng nông thôn với thành thị:
Nông thôn là khu vực sinh sống và làm việc chủ yếu của nông dân, với nông nghiệp là ngành sản xuất chính Các hoạt động kinh tế tại đây chủ yếu phục vụ cho nông nghiệp và cộng đồng cư dân Đặc trưng này cho thấy nông nghiệp, bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp, luôn giữ vai trò quan trọng trong mọi vùng nông thôn, ngay cả khi tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh mẽ.
Nông thôn thường có cơ sở hạ tầng kém phát triển hơn so với thành phố, dẫn đến khả năng tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa hạn chế Điều này là một chỉ tiêu rõ ràng cho mọi quốc gia, khi mà vùng nông thôn có địa bàn rộng lớn và địa hình phức tạp, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế.
XH thấp hơn, nên hệ thống cơ sở hạ tầng và trình độ phát triển sản xuất hàng hoá cũng thấp hơn
Nông thôn thường có thu nhập và đời sống thấp hơn so với thành thị, nơi được xem là trung tâm văn hóa và kinh tế Sự phát triển kinh tế mạnh mẽ và mức độ đầu tư cao ở thành phố thu hút nguồn lao động có trình độ cao từ nông thôn, góp phần hình thành các trung tâm văn hóa, khoa học và công nghệ tại thành phố.
Nông thôn có sự đa dạng về tự nhiên, kinh tế và xã hội, với sự khác biệt về quy mô và trình độ phát triển giữa các vùng Tính đa dạng này thể hiện rõ nét ở từng khu vực khác nhau.
Tính cộng đồng trong các làng, xã, thôn, bản ở nông thôn Việt Nam rất chặt chẽ và vững chắc, nhờ vào lịch sử phát triển lâu dài hơn so với thành phố Mỗi khu vực nông thôn đều mang trong mình những phong tục tập quán và bản sắc văn hóa riêng biệt, tạo nên sự đa dạng và phong phú trong đời sống cộng đồng.
- Với những đặc trưng như vậy, nông thôn có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Bởi vì:
Nông thôn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm thiết yếu cho cuộc sống con người, từ đó đảm bảo sự ổn định và phát triển xã hội Ngoài ra, nông thôn còn là nguồn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Hệ thống kinh tế nông thôn bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, tạo ra nguồn hàng hóa phong phú phục vụ đời sống nhân dân và xuất khẩu Tiềm năng chưa được khai thác trong nông thôn Việt Nam vẫn còn rất lớn.
Nông thôn Việt Nam đóng vai trò quan trọng khi chiếm 70% lực lượng lao động, góp phần lớn vào tổng lao động xã hội Do đó, nông thôn là nguồn cung cấp lao động chủ yếu cho sự phát triển của ngành công nghiệp và các lĩnh vực khác.
Với 70% dân số sinh sống tại nông thôn, đây không chỉ là một thị trường tiềm năng cho sự phát triển công nghiệp mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố an ninh.
Trong chiến lược quốc phòng toàn dân, mỗi công dân đều đóng vai trò như một người lính, góp phần vào việc giữ gìn trật tự và an toàn xã hội Hơn nữa, khả năng cung cấp hậu cần tại chỗ là yếu tố quan trọng trong việc củng cố an ninh và quốc phòng.
Nông thôn chiếm phần lớn tài nguyên của đất nước, bao gồm rừng, núi, sông, biển, cùng với các loại thủy - hải sản, động - thực vật và khoáng sản Do đó, nông thôn đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên để phát triển đất nước Hơn nữa, nông thôn còn có trách nhiệm đặc biệt trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững.
1.1.1.2 Khái niệm về lao động nông thôn và đặc điểm chủ yếu lao động nông thôn
- Khái niệm về lao động nông thôn
Lao động nông thôn bao gồm những người trong độ tuổi lao động theo quy định pháp luật, có khả năng lao động và hoạt động trong nền kinh tế nông thôn Nhóm này là bộ phận dân số có khả năng tham gia lao động, đang làm việc trong khu vực nông thôn hoặc có nhu cầu tìm kiếm việc làm nhưng chưa có công việc ổn định.
- Đặc điểm chủ yếu của lao động nông thôn:
Lao động nông thôn đang gia tăng nhanh chóng, với tỷ lệ tăng dân số khu vực này cao hơn mức bình quân cả nước Theo báo cáo của Ban chỉ đạo điều tra lao động - việc làm Trung ương, trong giai đoạn 2011 - 2016, số lượng lao động nông thôn đã tăng thêm hơn 6,4 triệu người Hiện tại, lực lượng lao động nông thôn chiếm khoảng 70% tổng số lao động của cả nước.
Lao động ở nông thôn Việt Nam chủ yếu làm nông nghiệp, với hàng năm có thêm lực lượng lao động trẻ Số lao động này không chỉ có sức khỏe tốt mà còn có trình độ học vấn ngày càng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu và ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất và kinh doanh, từ đó góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế nông thôn.
Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý nhà nước về việc làm cho lao động nông thôn
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã chú trọng đến việc tạo ra việc làm cho lao động nông thôn thông qua nhiều chính sách quan trọng Các chính sách này bao gồm chính sách đất đai, chính sách tín dụng nông thôn và chính sách phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất.
14 hàng hoá và đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp, chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn
Chính sách đất đai đóng vai trò quan trọng trong việc gắn kết người nông dân với tư liệu sản xuất của họ Từ các chính sách như khoán 100, khoán 10 đến Luật Đất đai năm 2003, Đảng và Nhà nước đã giao đất cho nông dân, giúp họ có quyền tự chủ và khai thác nguồn lợi từ đất đai Điều này đã giải phóng nguồn vốn, kỹ thuật và lao động ở nông thôn, tạo ra nhiều việc làm và nâng cao thu nhập cho nông dân Để phát triển nông nghiệp bền vững hơn, cần thực hiện dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất, nhằm thúc đẩy kinh tế trang trại, xu hướng này đang được khuyến khích trên toàn quốc.
Chính sách tín dụng nông thôn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp vốn cho phát triển sản xuất, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp Với tình hình kinh tế khó khăn, nhu cầu về vốn của nông dân ngày càng tăng Nhà nước đã thiết lập mạng lưới tín dụng rộng khắp để hỗ trợ nông dân, cho phép các cơ sở kinh doanh vay trên 500 triệu đồng và hộ gia đình vay tới 50 triệu đồng với lãi suất ưu đãi Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển sản xuất kinh doanh, mở rộng ngành nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn, góp phần giải quyết vấn đề việc làm trong cộng đồng.
Phát triển nông nghiệp hàng hóa và đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp là chính sách quan trọng nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thúc đẩy phát triển kinh tế và trang trại Nhờ sự hỗ trợ của nhà nước, kinh tế hộ và trang trại đã phát triển mạnh mẽ, với nhiều loại cây trồng và con gia súc mới mang lại hiệu quả kinh tế cao Việc áp dụng khoa học - công nghệ đã nâng cao năng suất cây trồng và vật nuôi, trong khi các ngành phi nông nghiệp cũng phát triển mạnh, góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho nông dân.
Chương trình đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã giúp hàng chục vạn lao động tìm kiếm việc làm và tăng thu nhập trong những năm qua Chương trình này không chỉ góp phần xoá đói giảm nghèo mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới trong nước Hơn nữa, nó còn giúp hình thành một đội ngũ công nhân lành nghề, nhờ vào việc học hỏi kỹ thuật và kinh nghiệm từ các quốc gia khác.
Chương trình quốc gia giải quyết việc làm cho lao động nông thôn đã được Đảng và Nhà nước triển khai thông qua nhiều chính sách cụ thể, trong đó có Nghị quyết 120/HĐBT ngày 11/4/1992 Nghị quyết này đề ra các chủ trương và biện pháp nhằm giải quyết việc làm trong những năm tới Từ chương trình này, Quỹ 120 được hình thành với nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, lao động làm việc ở nước ngoài và hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế Quỹ 120 cung cấp vay vốn với lãi suất thấp để tạo ra việc làm mới và hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động.
Vào ngày 27/11/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1956/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020" Đề án này khẳng định rằng việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp Nhà nước cam kết đầu tư phát triển đào tạo nghề, đảm bảo công bằng xã hội trong cơ hội học nghề cho mọi lao động nông thôn Mục tiêu của Đề án 1956 là đào tạo khoảng 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm, trong đó có 100.000 cán bộ, công chức xã, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và kinh tế.
1.2.2 Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho lao động nông thôn
Tập trung vào việc giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho người lao động nông thôn là rất quan trọng để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của họ Cung cấp cơ hội việc làm cho những người có khả năng lao động không chỉ giúp họ có thu nhập mà còn đảm bảo cuộc sống ổn định Điều này tạo điều kiện cho lao động nông thôn sống có ích, cống hiến và hoàn thiện kỹ năng nghề nghiệp Nâng cao đời sống vật chất bao gồm việc đảm bảo mức lương xứng đáng, đáp ứng nhu cầu thiết yếu và nuôi sống gia đình Đồng thời, nâng cao đời sống tinh thần cũng quan trọng, bao gồm việc bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa tốt đẹp, giúp lao động nông thôn tiếp cận và hưởng thụ những giá trị văn hóa này.
Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là nhiệm vụ ưu tiên trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và giữa nông thôn với thành thị Cần có kế hoạch cụ thể về đào tạo nghề và chính sách đảm bảo việc làm cho lao động nông thôn, đặc biệt ở các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất Đồng thời, cần đẩy mạnh xuất khẩu lao động từ nông thôn và triển khai hợp tác sản xuất nông nghiệp với các quốc gia có nhu cầu.
1.2.3 Thực hiện công bằng xã hội
Việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động nông thôn, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển xã hội Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn không chỉ tạo cơ hội cho họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, mà còn đảm bảo quyền cơ bản được làm việc để nuôi sống bản thân và gia đình Qua việc làm, con người có thể thực hiện quyền sống, mưu cầu hạnh phúc, và được đảm bảo các quyền tự nhiên chính đáng, cũng như có điều kiện sống tốt hơn và cơ hội phát triển năng lực nghề nghiệp, năng lực sáng tạo.
Giải quyết việc làm cho lao động nữ thực sự là một công cụ quan trọng của Đảng và Nhà nước nhằm điều chỉnh các vấn đề xã hội, khuyến khích sự sáng tạo của người lao động và cải thiện chất lượng cuộc sống, đồng thời đảm bảo công bằng xã hội.
Một xã hội công bằng chỉ có thể đạt được khi mọi người đều có việc làm và thu nhập hợp pháp Việc làm và thu nhập giúp mọi người có điều kiện chăm sóc sức khỏe, phát triển giáo dục và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần Với tri thức xã hội, người lao động có khả năng khắc phục hạn chế và phát huy năng lực, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hơn nữa, trình độ tri thức cũng gia tăng cơ hội việc làm cho người lao động.
Việc làm đầy đủ không chỉ đảm bảo quyền tự do và bình đẳng cho người dân mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh lợi ích xã hội Giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động nữ, trong nền kinh tế thị trường hiện nay giúp thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của họ Điều này góp phần tạo ra một cơ cấu xã hội năng động, thúc đẩy công bằng xã hội, giảm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, và xây dựng môi trường thuận lợi cho sự phát triển toàn diện của con người.
Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn không chỉ giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp mà còn mang lại nhiều lợi ích xã hội quan trọng Thất nghiệp gây ra những hậu quả nặng nề, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế và mọi khía cạnh của gia đình Nó cũng tạo ra những khó khăn trong công tác quản lý xã hội và tác động tiêu cực đến tâm lý của người lao động, khiến họ luôn lo lắng và mất niềm tin vào tương lai Do đó, việc giải quyết việc làm không chỉ nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn mà còn góp phần giảm tệ nạn xã hội, thúc đẩy sự phát triển và văn minh của xã hội.
Nội dung quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động nông thôn
1.3.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch, quy hoạch việc làm cho lao động nông thôn
Xây dựng các hình thức giải quyết việc làm phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội hiện nay như:
- Phát triển kinh tế hộ gia đình;
- Phát triển các hiệp hội, hội nghề nghiệp;
- Phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khu vực kinh tế không chính thức;
- Phát triển doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;
- Tạo việc làm thông qua di dân, phân bố lại dân cư và nguồn nhân lực;
- Tạo việc làm thông qua khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống;
- Tạo việc làm thông qua các chương trình dự án kinh tế-xã hội của nhà nước;
- Các hình thức khác: phát triển gia công, lực lượng vũ trang tham gia phát triển kinh tế - xã hội;
Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế đối ngoại quan trọng và chiến lược, giúp mở rộng thị trường lao động Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách nhằm tạo điều kiện phát triển cho ngành này, khuyến khích quyền chủ động kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Nhờ đó, xuất khẩu lao động đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn tại nhiều địa phương.
1.3.2 Xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách về việc làm cho LĐNT
Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về việc làm là bước đầu tiên trong chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực này Tại Việt Nam, các văn bản pháp luật được ban hành nhằm thể chế hóa và cụ thể hóa các đường lối, chủ trương của Đảng, đưa quan điểm của Đảng vào thực tiễn Hệ thống văn bản pháp luật bao gồm nhiều loại như Luật, Nghị định, và Thông tư.
Hệ thống văn bản pháp luật được ban hành tạo ra hành lang pháp lý cho các bên tham gia giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tại Việt Nam Quy định này nêu rõ những hành vi được phép, những hành vi bị cấm, và những hành vi được khuyến khích trong quá trình thực hiện giải quyết việc làm.
Nội dung này được thực hiện từ Trung ương đến địa phương, bao gồm việc Chính phủ ban hành các Nghị định và Quyết định, các Bộ, Ngành ở Trung ương phát hành Thông tư và Thông tư liên tịch, cùng với các Quyết định của UBND tỉnh.
Sau khi ban hành hệ thống văn bản pháp luật, Nhà nước tạo điều kiện cho các chủ thể nắm rõ và thực hiện đúng các quy định Việc tuân thủ các quy định này có thể dẫn đến khen thưởng, trong khi vi phạm sẽ bị xử lý theo chế tài của Nhà nước.
Để nâng cao chất lượng lao động nông thôn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế toàn cầu, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách cụ thể về dạy nghề và phát triển nguồn nhân lực nông thôn Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị lần thứ bảy khóa X đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực nông thôn, đặc biệt là việc đào tạo kiến thức khoa học kỹ thuật sản xuất nông nghiệp hiện đại cho nông dân và đào tạo nghề cho con em nông dân Nghị quyết cũng yêu cầu nâng cao trình độ cho cán bộ quản lý và cán bộ cơ sở, đồng thời đề xuất hình thành Chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề, với mục tiêu hàng năm đào tạo 01 triệu lao động nông thôn và thực hiện xã hội hóa công tác đào tạo nghề.
Các quy định pháp luật và chính sách hiện hành đã tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho việc phát triển dạy nghề, nâng cao khả năng tạo việc làm và thúc đẩy chuyển dịch lao động nông nghiệp, nông thôn Hệ thống chính sách đào tạo nghề, đặc biệt cho lao động nông thôn, đã được hoàn thiện, hỗ trợ hiệu quả cho việc hình thành và phát triển cơ sở đào tạo nghề trên toàn quốc, đạt nhiều kết quả tích cực Hàng năm, hàng trăm ngàn lao động nông thôn được đào tạo nghề với sự hỗ trợ hàng trăm tỷ đồng từ ngân sách Nhà nước, chủ yếu là thanh niên và các đối tượng chính sách, lao động bị thu hồi đất nông nghiệp do chuyển đổi mục đích sử dụng.
1.3.3 Tổ chức bộ máy và đào tạo nguồn nhân lực quản lý việc làm cho lao động nông thôn Để có nguồn nhân lực và thực hiện GQVL tốt trước hết phải có chiến lược phát triển con người trên cơ sở một hệ thống chính sách đồng bộ hướng tới con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển
Quy định rõ trách nhiệm và thẩm quyền của các cơ quan chủ trì và phối hợp trong công tác giải quyết việc làm Đồng thời, cần có sự hợp tác giữa các cơ quan, ban, ngành và các tổ chức chính trị - xã hội với doanh nghiệp trong việc giáo dục, định hướng nghề nghiệp, đào tạo nghề, cũng như hỗ trợ và tạo việc làm cho lao động nông thôn.
Trong đó, cơ quan thực hiện công tác QLNN về việc làm cho lao động nông thôn có các nhiệm vụ sau:
Dự báo nhu cầu đào tạo nghề và định hướng nghề là yếu tố quan trọng giúp các cơ sở đào tạo, trung tâm dạy nghề, trường dạy nghề và trường công nhân kỹ thuật xác định mục tiêu và xây dựng chương trình đào tạo phù hợp.
Chuẩn hóa chương trình đào tạo là yếu tố quan trọng trong quản lý quá trình đào tạo Việc này giúp xác định rõ đặc trưng của từng nghề và chức năng nhiệm vụ của từng loại lao động, từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng chương trình đào tạo hiệu quả.
Đầu tư vào hệ thống cơ sở đào tạo nghề là cần thiết để phát triển nguồn nhân lực Việc xây dựng các cơ sở này nên dựa trên tiềm năng của từng vùng Nhà nước cần thiết lập chính sách hỗ trợ cho hệ thống đào tạo địa phương, đồng thời phối hợp với các trung tâm dạy nghề và tổ chức hội, đoàn thể để nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Theo tinh thần xã hội hóa giáo dục, cần có cơ chế khuyến khích các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào việc xây dựng trường và trung tâm đào tạo nghề Những ưu đãi về thủ tục, mặt bằng xây dựng và nghĩa vụ tài chính với Nhà nước sẽ tạo thêm nhiều cơ hội học nghề cho lao động nông thôn.
Có biện pháp hỗ trợ thiết thực cho các doanh nghiệp đầu tư mở trường, lớp dạy nghề cho lao động nông thôn
Về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý công tác giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
Trong quản lý nhà nước về việc làm cho lao động nông thôn, việc xây dựng đội ngũ chuyên trách là rất quan trọng Đội ngũ này đóng vai trò then chốt trong việc cụ thể hóa chính sách của Nhà nước, hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách giải quyết việc làm.
Đội ngũ giải quyết lao động và việc làm bao gồm cán bộ từ cơ quan quản lý nhà nước về lao động, việc làm ở cấp Trung ương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng với các Sở và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội tại các tỉnh và huyện.
- Đội ngũ làm việc trong bộ máy quản lý của các cơ sở đào tạo nghề
Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác QLNN về việc làm cho lao động nông thôn
Chủ trương và đường lối của Đảng, cùng với chính sách pháp luật của Nhà nước, đóng vai trò quan trọng trong việc định hình và thực hiện các chiến lược phát triển xã hội Đảng xây dựng các chủ trương, trong khi Nhà nước thể chế hóa và đảm bảo thực hiện chúng, từ đó tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực đời sống Khi các chính sách này phù hợp với điều kiện và tốc độ phát triển việc làm, chúng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết hiệu quả vấn đề việc làm Ngược lại, nếu không phù hợp, chúng sẽ trở thành rào cản đối với sự phát triển việc làm, đặc biệt là trong khu vực nông thôn và nền kinh tế - xã hội của đất nước.
+ Công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực
Công tác giáo dục và đào tạo tại Việt Nam trong thời gian qua đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức Mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể nhờ chủ trương “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, nhưng vẫn tồn tại những bất cập trong đào tạo nghề Hầu hết học sinh phổ thông tốt nghiệp đều có xu hướng chọn học Đại học, trong khi rất ít người lựa chọn con đường học nghề, chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực kinh tế như tài chính và ngân hàng Điều này dẫn đến tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, gây mất cân đối trong thị trường lao động và khiến nhiều lao động đã qua đào tạo làm việc không đúng chuyên ngành.
+ Dân số, trình độ dân trí
Việt Nam có dân số đông, với tỷ lệ sinh tự nhiên hàng năm đạt gần 1,3 triệu trẻ em, tạo ra áp lực lớn cho việc tạo việc làm mới Mặc dù Đảng và Nhà nước đã xác định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhưng trình độ dân trí vẫn chưa cao Khi Nhà nước mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài để đáp ứng nhu cầu công việc đòi hỏi kỹ thuật cao, nguồn nhân lực của Việt Nam lại không đáp ứng được yêu cầu.
Các điều kiện xã hội như y tế, chăm sóc sức khỏe và cơ sở hạ tầng hiện chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người dân Tình trạng quá tải bệnh nhân tại các bệnh viện, đặc biệt là các bệnh viện lớn và tuyến Trung ương, cùng với sự thiếu hụt bác sĩ và cơ sở vật chất, đã làm giảm chất lượng điều trị Điều này đặt ra những thách thức lớn cho Nhà nước và toàn xã hội, ảnh hưởng đến việc đảm bảo sức khỏe và duy trì sức lao động của người lao động, từ đó tạo điều kiện cho tình trạng mất việc làm gia tăng.
Lịch sử và truyền thống dân tộc Việt Nam đã hình thành tư tưởng yêu nước và tự tôn dân tộc, đặc biệt sau những cuộc chiến tranh khốc liệt Mặc dù đất nước bắt đầu từ xuất phát điểm thấp với nền nông nghiệp lạc hậu và công cụ sản xuất chưa phát triển, người dân Việt Nam vẫn thể hiện sự cần cù và chịu khó trong lao động Những yếu tố này vừa tạo ra thuận lợi, vừa đặt ra thách thức cho Nhà nước trong việc quản lý lao động nông thôn.
+ Vị trí địa lý, đất đai tài nguyên
Việt Nam sở hữu nhiều khu vực có khí hậu thuận lợi và đất đai màu mỡ, tạo điều kiện lý tưởng cho sự phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Tuy nhiên, vẫn tồn tại những yếu tố khó khăn cần được xem xét.
Thời tiết khắc nghiệt như mưa nhiều, độ ẩm lớn, nắng gắt, lũ lụt, hạn hán và động đất đã gây khó khăn cho sản xuất và tạo việc làm cho lao động nông thôn Đất đai và tài nguyên là yếu tố quyết định cho sản xuất công nghiệp, nhưng việc khai thác tài nguyên ở nước ta vẫn chưa đạt yêu cầu do trình độ khoa học kỹ thuật còn hạn chế Hơn nữa, tình trạng khai thác khoáng sản thiếu quy hoạch đã đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần có những chính sách đúng đắn để phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, đảm bảo sự phát triển bền vững.
Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nguồn lực tài chính của Nhà nước được đầu tư cho nhiều ngành và lĩnh vực Tuy nhiên, do nguồn vốn có hạn, việc phân chia và chia nhỏ nguồn vốn giữa các ngành và địa phương là điều không thể tránh khỏi trong quá trình đầu tư.
Vì vậy, nguồn đầu tư của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý nhà nước về việc làm cho lao động nông thôn bị hạn chế rất nhiều
+ Tác động của khoa học công nghệ
Sự phát triển của khoa học công nghệ đang làm biến đổi cơ cấu lao động theo hướng chuyên môn hoá, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều ngành nghề mới có giá trị gia tăng cao Xu hướng tri thức hoá và chuyên môn hoá lao động đang giảm bớt lao động chân tay nặng nhọc, tạo áp lực cho lao động nông thôn trong việc tìm kiếm việc làm mới Để giải quyết vấn đề này, cần chú trọng đến các hoạt động đào tạo nâng cao trình độ học vấn và tay nghề cho lao động nông thôn, phù hợp với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và công nghệ 4.0.
+ Tác động của toàn cầu hoá
Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tạo ra thách thức lớn cho việc làm của lao động nông thôn, đặc biệt ở các nước đang phát triển Mặc dù số lượng việc làm có thể tăng lên ở một số khu vực, nhưng lại giảm ở những khu vực khác, dẫn đến việc mất đi một số loại việc làm trong khi những loại việc làm mới xuất hiện Tình trạng này khiến lao động nông thôn ở các nước như Việt Nam gặp khó khăn trong việc thích ứng và tìm kiếm cơ hội việc làm mới.
Biến đổi về quy mô và cơ cấu việc làm đang tạo ra nhiều thách thức và chi phí lớn cho cá nhân, gia đình và xã hội trong việc giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Khi mất việc, lao động nông thôn phải thích ứng với công việc mới, học hỏi kiến thức và kỹ năng mới, cũng như di chuyển để tìm kiếm cơ hội việc làm Sự thay đổi này đặt ra gánh nặng về đào tạo, đào tạo lại, và các khoản trợ cấp xã hội mà Chính phủ phải đảm nhận.
+ Tác động của nền kinh tế thị trường, tác động của tình hình kinh tế - xã hội của khu vực và thế giới
Trong bối cảnh hiện nay, xu hướng quốc tế hóa và toàn cầu hóa yêu cầu các quốc gia, dân tộc phải hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, và Việt Nam cũng không ngoại lệ Dưới những điều kiện thuận lợi, Việt Nam đã thu hút nhiều nguồn đầu tư và tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật, văn minh nhân loại Tuy nhiên, khi thế giới đối mặt với khó khăn và khủng hoảng, đặc biệt là các cuộc khủng hoảng tài chính, Việt Nam cũng phải đối diện với nhiều thách thức và khó khăn không nhỏ.
1.5 Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý nhà nước về việc làm cho lao động nông thôn
Xây dựng tiêu chí đánh giá công tác quản lý nhà nước về việc làm cho lao động nông thôn cần xem xét từ nhiều khía cạnh khác nhau.
28 ra tiêu chí cơ bản bao gồm việc xây dựng và thực hiện thể chế, cùng với hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về việc làm, nhằm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn.
1.5.1 Tiêu chí đánh giá việc xây dựng và thực hiện thể chế, chính sách:
Việc xây dựng tiêu chí này nhằm cụ thể hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn địa phương Tiêu chí đánh giá tập trung vào tính hợp pháp và hợp lý của các văn bản quy phạm do chính quyền địa phương ban hành, cũng như hiệu quả thực hiện thể chế thông qua chi phí và thời gian thực hiện thủ tục hành chính.
+ Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về lao động, việc làm, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
+Việc cụ thể hóa các văn bản của Trung ương bằng các văn bản chính sách phù hợp tại địa phương
Kinh nghiệm quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
Đài Loan đã thành công trong việc phát triển công nghiệp không chỉ ở đô thị mà còn ở nông thôn, nhờ vào việc kết hợp chặt chẽ giữa công nghiệp và nông nghiệp Họ đã thúc đẩy các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động tại khu vực nông thôn, tạo ra nhiều việc làm phi nông nghiệp cho cả đô thị và nông thôn Sự phát triển này diễn ra theo những hình thức và nội dung phù hợp, giúp tăng cường sự liên kết giữa hai khu vực.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, từ những năm 50 của thế kỷ XX, kinh tế trang trại đã được hình thành và phát triển mạnh mẽ nhờ sự khuyến khích của nhà nước Mô hình kinh tế trang trại đã thúc đẩy công nghệ sinh học, tạo ra nhiều giống cây trồng và vật nuôi có năng suất cao Đài Loan đã hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp thông qua điện khí hóa, thủy lợi hóa, sinh học hóa và cơ giới hóa, dẫn đến tăng năng suất lao động Để đáp ứng nhu cầu việc làm cho lao động nông thôn, Đài Loan đã xây dựng nhiều xí nghiệp nhỏ và vừa, với hơn 700.000 xí nghiệp vào năm 1993, chiếm 98% tổng số xí nghiệp và 60% tổng số lao động trong ngành công nghiệp Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và xí nghiệp gia đình cũng phát triển mạnh mẽ ở các làng xã, cùng với sự phát triển của kinh tế dịch vụ hàng tiêu dùng và vật tư kỹ thuật cho nông nghiệp.
Do đó LĐNT được chuyển sang làm việc ở các lĩnh vực phi nông nghiệp và các khu, cụm công nghiệp, dịch vụ ngày càng tăng
Ngành chế biến nông sản và thực phẩm tại Đài Loan đã phát triển mạnh mẽ, không chỉ phục vụ nhu cầu nông nghiệp địa phương mà còn thu hút lao động chuyển sang các lĩnh vực mới Từ năm 1951 đến 1990, cơ cấu ngành của Đài Loan đã có sự thay đổi sâu sắc, với tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm từ 35,5% xuống còn 4,2% Điều này cho thấy sự chuyển biến mạnh mẽ trong cơ cấu lao động nông nghiệp và nông thôn Đài Loan đã tạo ra nhiều việc làm phi nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân, với thu nhập bình quân đầu người trong lĩnh vực này tăng từ 122 USD năm 1952 lên 5.648 USD năm 1990, tương đương với mức tăng 42,29 lần Sự gia tăng thu nhập chủ yếu đến từ nguồn thu nhập ngoài nông nghiệp, từ 13% năm 1952 lên 69% năm 1979 Công nghiệp hóa nông nghiệp đã thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội, với tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ 56% năm 1952 xuống còn 12,8% năm 1992, trong khi lao động công nghiệp và dịch vụ tăng lên lần lượt 40,2% và 46,9%.
- Kinh nghiệm của Nhật Bản
Sau năm 1945, nền kinh tế Nhật Bản chịu ảnh hưởng nặng nề từ chiến tranh, dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng số hộ nông thôn khi người thất nghiệp từ thành phố trở về Số hộ nông thôn tăng từ khoảng 5,5 triệu trước năm 1945 lên 6,18 triệu vào năm 1960 Nhật Bản đã triển khai các chính sách và biện pháp nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa nông nghiệp, chuyển đổi nền nông nghiệp truyền thống thành nền nông nghiệp hiện đại và phát triển công nghiệp nông thôn đa dạng để giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Đến những năm 1990, nông dân Nhật Bản đã có đủ máy móc thiết bị để cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, giúp giảm chi phí sản xuất một tạ thóc.
60 giờ công xuống còn 8 giờ công Giá trị sản phẩm nông nghiệp của Nhật Bản năm
Từ năm 1960 đến 1990, năng suất lao động tại Nhật Bản tăng 30 lần, nhờ vào việc giảm chi phí lao động và giải phóng hàng chục triệu lao động khỏi sản xuất nông nghiệp Nhật Bản đã tập trung phát triển công nghiệp và dịch vụ, chuyển đổi lao động nông nghiệp sang các lĩnh vực phi nông nghiệp sau khi được đào tạo nghề Kết quả là tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm nhanh từ 45% vào năm 1950 xuống chỉ còn 6,3% vào năm 1990, trong khi tỷ lệ thất nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn rất thấp.
Cơ cấu kinh tế của các trang trại gia đình ở Nhật Bản đang chuyển dịch mạnh mẽ từ nền nông nghiệp thuần túy sang mô hình sản xuất kinh doanh tổng hợp, bao gồm nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Sự chuyển đổi này không chỉ tạo ra nhiều việc làm cho lực lượng lao động nông thôn mà còn góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp trong khu vực.
Nhật Bản chú trọng phát triển các xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ tại nông thôn, đóng vai trò quan trọng trong giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Các xí nghiệp gia đình thường thực hiện gia công chi tiết máy đơn giản, yêu cầu lao động không cần trình độ kỹ thuật cao, chỉ cần đào tạo ngắn hạn Điều này đã giúp một bộ phận lớn lao động nông thôn chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp Vào những năm 1970, tỉnh OITA khởi xướng phong trào “mỗi thôn, làng một sản phẩm” nhằm khai thác ngành nghề truyền thống, tạo ra 143 loại sản phẩm và thu về 250 triệu USD trong năm đầu tiên, con số này đã tăng lên 1,2 tỷ USD vào năm 1992 Phong trào phục hồi ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp truyền thống đã lan rộng, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao mức sống cho hàng triệu lao động nông thôn Nhật Bản.
Do nhu cầu sản xuất và đời sống tại nông thôn, các ngành dịch vụ thương mại, tín dụng, hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật, cùng với các ngành chế biến nông - lâm - thủy sản đã phát triển mạnh mẽ, dẫn đến sự biến đổi nhanh chóng trong cơ cấu ngành nghề và lao động ở khu vực này.
1.6.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước cho lao động nông thôn ở địa phương
- Kinh nghiệm của tỉnh Nam Định
Nam Định dân số 1.934 triệu người, diện tích tự nhiên 163,7ha, mật độ dân số bình quân 1.184 người/km 2
Trong thời kỳ bao cấp, ngành công nghiệp nhẹ tại Nam Định, đặc biệt là lĩnh vực dệt may và gia dày, đã phát triển mạnh mẽ, tạo ra hàng chục nghìn việc làm và đảm bảo cuộc sống cho hơn 20.000 lao động.
Trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, nhiều doanh nghiệp và xí nghiệp công nghiệp tại Nam Định đã phải đối mặt với tình trạng phá sản, dẫn đến sự suy thoái nghiêm trọng trong ngành công nghiệp Hệ quả là nhiều công nhân ở nông thôn đã mất việc làm.
Sản xuất nông nghiệp tại Nam Định đang đối mặt với nhiều thách thức, khiến cho kinh tế nông nghiệp phát triển chậm hơn so với các tỉnh lân cận Điều này đã dẫn đến cuộc sống của người lao động gặp nhiều khó khăn, với áp lực về lao động và việc làm ngày càng gia tăng.
Trong 30 năm đổi mới, đặc biệt là trong những năm gần đây, Nam Định đã triển khai nhiều chính sách đúng đắn nhằm phát triển kinh tế - xã hội, tạo thêm việc làm cho lao động nông thôn và đạt được những kết quả quan trọng Kinh nghiệm của Nam Định trong giải quyết việc làm cho lao động nông thôn có thể được tóm gọn như sau:
UBND tỉnh Nam Định chú trọng đầu tư vào phát triển công nghiệp nhỏ và vừa trong các thành phần kinh tế Tỉnh đã xây dựng chương trình sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2001 - 2005, với các mục tiêu và giải pháp khả thi, phù hợp với thực tế địa phương.
Khôi phục và phát triển làng nghề, khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ rộng khắp trên các địa bàn nông thôn của tỉnh
Tập trung phát triển cụm công nghiệp và điểm công nghiệp nông thôn sẽ thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển đổi lao động trong nông nghiệp và nông thôn, hướng tới công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa toàn diện, bền vững theo hướng CNH, HĐH và phát triển nền nông nghiệp sinh thái
Nam Định đang tập trung vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp và tăng cường lao động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Việc áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị cây trồng, vật nuôi là rất quan trọng Đặc biệt, tỉnh đã phát triển nuôi trồng thủy, hải sản với nhiều hình thức tổ chức sản xuất phù hợp, tạo ra nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn, đồng thời mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách tỉnh.
- Kinh nghiệm của tỉnh Thanh Hóa