1 MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Trong bất kì nền kinh tế nào, đấu thầu luôn là phương thức hữu hiệu nhất để chủ đầu tư có thể chọn được những nhà thầu có khả năng tốt nhất và đưa ra mức giá hợp l[.]
Trang 1M Ở ĐẦU
1 Tớnh c ấp thiết của đề tài
Trong bất kỡ nền kinh tế nào, đấu thầu luụn là phương thức hữu hiệu nhất để chủ đầu tư cú thể chọn được những nhà thầu cú khả năng tốt nhất và đưa ra mức giỏ hợp lý nhất Đặc biệt trong lĩnh vực mua sắm cụng, khi nguồn tiền khụng thuộc sở hữu của bất cứ cỏ nhõn cụ thể nào, thỡ việc sử dụng hiệu quả nguồn tiền đú chỉ cú thể thực hiện được thụng qua hoạt động đấu thầu
Thực tế chỉ ra rằng, đấu thầu thụng thường ngày càng bộc lộ những hạn chế khú khắc phục Chi phớ thực hiện cao, sự vất vả của chủ đầu tư và nhà thầu đang
là những điều cản trở mục tiờu của hoạt động đấu thầu Trong bối cảnh đú, đấu thầu qua mạng là phương phỏp tốt nhất để hạn chế những nhược điểm trờn Rỳt kinh nghiệm từ những nước đi trước và nhận được sự trợ giỳp nhiệt tỡnh từ phớa Hàn Quốc, Việt Nam đang từng bước triển khai đấu thầu qua mạng để nõng cao hiệu quả của hoạt động đấu thầu Đõy là một bước đi lớn trong cụng tỏc đấu thầu ở nước ta Với mong muốn gúp phần rất nhỏ vào việc tỡm ra những giải phỏp nhằm nõng cao khả năng đấu thầu bằng đấu thầu điện tử qua mạng của chủ đầu tư Cụng ty TNHH MTV KTCT Thủy lợi Bắc Hưng Hải trong thời gian tới tỏc giả xin lựa chọn
đề tài: : “Đề xuất cỏc giải phỏp nõng cao năng lực đấu thầu điện tử qua mạng của
chủ đầu tư Cụng ty TNHH MTV KTCT thủy lợi Bắc Hưng Hải”
2 M ục đớch của đề tài
Căn cứ Luật đấu thầu số: 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013 của Quốc Hội và Nghị định số: 63/2014/NĐ-CP ngày 26/06/2014 của Chính phủ ban hành quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu trong đú cũng hướng dẫn đấu thầu điện tử qua mạng cho cỏc chủ đầu tư Với mong muốn của chủ đầu tư Cụng ty TNHH MTV KTCT thủy lợi Bắc Hưng Hải muốn tỡm cỏc nhà thầu
cú đủ kinh nghiệm, năng lực, mức giỏ hợp lý, hoàn thành tốt cỏc dự ỏn, nờn mục tiờu của đề tài là nghiờn cứu tỡnh hỡnh và đưa ra đề xuất cỏc giải phỏp nõng cao năng
lục đấu thầu điện tử qua mạng của chủ đầu tư
Trang 23 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: KÌ gia cè m¸i kªnh cèng Xu©n Quan
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu khả năng, năng lực đấu thầu điện tử qua mạng của chủ đầu tư Công ty TNHH MTV KTCT Thủy Lợi Bắc Hưng Hải
4 Cách ti ếp cận và phương pháp nghiên cứu
- Cách tiếp cận:
+ Tiếp cận qua các nghiên cứu, tài liệu đã công bố
+ Tiếp cận qua thực tế công trình đã đấu thầu điện tử qua mạng
+ Tiếp cận qua các nguồn thông tin khác như sách báo, loa đài, internet
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu
+ Phương pháp lý thuyết
+ Phương pháp tổng hợp, phân tích đánh giá, phương pháp chuyên gia
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÔNG TÁC ĐẤU THẦU
ĐIỆN TỬ QUA MẠNG 1.1 Vai trò của đấu thầu trong nền kinh tế thị trường
1.1.1 Sự ra đời và định nghĩa của hoạt động đấu thầu
Đấu thầu là một trong những phương thức mua sắm hàng hoá, dịch vụ trong đời sống xã hội loài người Nó ra đời và phát triển cùng với phương thức sản xuất phát triển dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Cùng với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, sự cạnh tranh gay gắt và các cuộc khủng hoảng đã dẫn đến sự
ra đời của chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản Nhà nước vào cuối thế
kỷ 19, đầu thế kỷ 20 Độc quyền ra đời từ tự do cạnh tranh, sau đó đối lập với tự do cạnh tranh, nhưng không thủ tiêu tự do cạnh tranh mà làm cho cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn Nhà nước tư bản vừa là người đại diện, người bảo vệ cho giai cấp tư sản và vừa là người điều tiết quá trình sản xuất, vừa là người cung cấp vốn để nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu Khoa học – kỹ thuật Nhà nước điều tiết các chương trình, các mục tiêu phát triển kinh tế thông qua hệ thống luật pháp, các chính sách kinh tế… Ngoài ra, Nhà nước còn bỏ vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình công cộng, phát triển các ngành kinh tế cần thiết cho xã hội, nhưng lại có hiệu quả kinh tế thấp, lâu hoàn vốn…, những mua sắm chi tiêu của Chính phủ đã trở thành mục tiêu cạnh tranh gay gắt giữa các tổ chứ kinh tế tài chính Do vậy, để điều chỉnh hoạt động nói trên ở hầu hết các nước tư bản đều có những luật mua sắm công dưới nhiều hình thức khác nhau Hoạt động đấu thầu đã xuất hiện rất sớm nhưng luật lệ liên quan đến đấu thầu ra đời muộn hơn và đã xuất hiện đầu tiên ở Anh Khi Hiệp hội kỹ sư tư vấn quốc tế (FIDIC) thành lập thì quy trình đấu thầu ngày càng được hoàn thiện dần Ngày nay chúng ta có thể tìm thấy các quy định về đấu thầu ở các tổ chức quốc tế và ở các quốc gia khắp trên thế giới
Ở Việt Nam khái niệm về đấu thầu như sau: đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu, ở đây bên mua còn gọi là bên mời thầu, bên bán còn gọi là các nhà thầu Bên mua sẽ cung cấp cho bên bán những yêu cầu (trong hồ sơ mời thầu) Sau một thời gian cụ thể, bên bán phải trả lời người
Trang 4mua, bên bán phải nộp cho người mua bản chào hàng Tất cả những điều đó được thể hiện trong hồ sơ dự thầu hay là đề xuất dự thầu
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động đấu thầu
Mỗi phương thức giao dịch trên thị trường đều có các đặc điểm riêng khác nhau Những đặc điểm riêng đó sẽ tạo nên những nét đặc trưng của chúng, quyết định đến quy trình tổ chức ký kết, thực hiện các hợp đồng có liên quan Vì vậy, việc nghiên cứu phát triển các đặc điểm riêng này một cách thấu đáo là một công việc không thể thiếu được của những người tham gia đấu thầu Hoạt động đấu thầu có một số đặc điểm sau đây:
-Trên thị trường chỉ một người mua và nhiều người bán:
Người mua trên thị trường phần lớn thường là những tổ chức, cơ quan, các chủ đầu tư được Chính phủ cấp tài chính mua sắm hàng hoá, dịch vụ, xây dựng công trình thường Nhưng cũng có những trường hợp người mua thiếu vốn phải đi vay mà điều kiện đòi hỏi phải mở thầu, do có khó khăn về mặt nghiệp vụ, kinh nghiệm kinh doanh cho nên họ phải lợi dụng sự cạnh tranh giữa các nhà thầu để từ
đó lựa chon được người bán thích hợp nhất và có các điều kiện giao dịch tối ưu nhất Ngược lại, các nhà thầu cung cấp hàng hoá, dịch vụ… được tự do cạnh tranh với nhau để giành quyền cung cấp và kết quả của sự cạnh tranh đó đã làm cho giá
cả tiến gần lại với giá thực trên thị trường, điều mà bất cứ người mua nào cũng mong đợi
- Đấu thầu tiến hành theo những điều kiện quy định trước:
Mặc dù được tự do cạnh tranh giành quyền cung cấp nhưng các nhà thầu phải thực hiện theo những điều kiện mà bên mời thầu đã quy định trước Hay nói một cách khác, người mua chỉ có một nhưng họ đã nêu ra những điều kiện ràng buộc rất chặt chẽ, buộc các nhà thầu phải tuân theo Trong đấu thầu, các điều kiện tài chính, các điều kiện kỹ thuật… thường được thể hiện trong hồ sơ mời thầu Các nhà thầu một khi thoả mãn tốt nhất các điều kiện mà bên mời thầu đưa ra mới mong
có hy vọng trúng thầu, cá biệt có những trường hợp các nhà thầu đã thoả mãn đầy
đủ các điều kiện kỹ thuật, tài chính và uy tín, nhưng vì không tìm được đối tác liên
Trang 5doanh, liên kết nên đã không giành được hợp đồng Và cũng có những nhà thầu không tìm được nhà thầu theo quy định nên cũng không trúng thầu Chính vì những
lý do nói trên trong đấu thầu thì thị trường thuộc về phía mời thầu, họ “vừa là người bị động, vừa là người chủ động” là như vậy
- Tính đặc biệt của đấu thầu còn thể hiện trong việc xác định thời gian và địa điểm mở thầu và những vấn đề khác có liên quan
Thời gian mở thầu phải được quy định trước,thông thường nó được thực hiện sau khi thông báo mời thầu một số ngày nhất định Khoảng thời gian này tuy ước tính nhưng người ta phải tính toán sao cho hợp lý, ngày giờ, địa điểm sẽ được xác định cụ thể trong hồ sơ mời thầu Khi mở thầu các nhà thầu thường phải có mặt nghe công bố tính hợp lệ của đơn chào và ký vào một biên bản đã được chuẩn bị trước Bên mời thầu sẽ công bố công khai một số chỉ tiêu cơ bản của hồ sơ dự thầu
1.1.3 Các nguyên tắc đấu thầu và hình thức, phương thức lựa chọn nhà thầu 1.1.3.1 Các nguyên tắc đấu thầu:
- Đấu thầu trực tiếp: là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp
đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa
chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế
- Đấu thầu qua mạng: là việc ứng dụng công nghệ thông tin (đặc biệt là mạng Internet) vào quá trình đấu thầu bởi Chính phủ, nhằm kiểm soát những mối quan hệ
về đấu thầu với các nhà cung cấp và nhà thầu trong việc đấu thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp và dịch vụ tư vấn Đấu thầu qua mạng sẽ dỡ bỏ khoảng cách vật lý về không gian và thời gian, cho phép cung cấp một luồng thông tin minh bạch và hiệu
quả cùng quá trình thực hiện rộng rãi hơn
Trang 6- Chào hàng cạnh tranh trong mua sắm hàng hóa: hình thức này cũng là một
dạng của đấu thầu rộng rãi tuy nhiên hoạt động đấu thầu được tiến hành đơn giản hơn
- Đấu thầu hạn chế: bên mời thầu tiến hành lập danh sách ngắn chỉ gồm tên
những nhà thầu nhất định có đủ điều kiện tham gia dự thầu sau đó mới tiến hành đấu thầu
- Chỉ định thầu: bên mời thầu lựa chọn một nhà thầu cụ thể có đủ điều kiện về năng lực và kinh nghiệm đáp ứng các yêu cầu của gói thầu để thực hiện gói thầu
- Mua sắm trực tiếp: hình thức này được sử dụng khi bên mời thầu muốn thực
hiện một công việc có nội dung giống gói thầu đã được tiến hành đấu thầu và hợp đồng thực hiện trước đó không quá 6 tháng
- Tự thực hiện: khi bên mời thầu hoặc chủ đầu tư có khả năng sử dụng lao động và máy móc thiết bị sẵn có để thực hiện công việc
1.1.3.1 Ph ương thức lựa chọn nhà thầu:
- Phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ: Áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi, chào hàng cạnh tranh, chỉ định thầu cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp Theo đó, nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất kỹ thuật và đề xuất về tài chính trong một túi hồ sơ
- Phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ: Áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi, chào hàng cạnh tranh, chỉ định thầu cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp Phương thức này nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính trong từng túi hồ sơ riêng vào cùng một thời điểm Túi hồ sơ đề xuất kỹ thuật sẽ được xem xét trước để đánh giá Các nhà thầu đạt số điểm kỹ thuật đạt yêu cầu sẽ được
mở tiếp túi hồ sơ đề xuất về tài chính để đánh giá
- Phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ: Phương thức hai giai đoạn một túi
hồ sơ được áp dụng trong trường hợp đấu thầu rộng rãi đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô lớn, phức tạp Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu nhưng chưa có giá dự thầu Trên cơ sở trao đổi với từng nhà thầu tham gia giai đoạn
Trang 7này sẽ xác định hồ sơ mời thầu giai đoạn hai Trong giai đoạn hai, nhà thầu đã tham gia giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu Hồ sơ dự thầu bao gồm đề xuất về
kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, trong
đó có giá dự thầu và bảo đảm dự thầu
- Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ: Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ
sơ được áp dụng trong trường hợp đấu thầu rộng rãi đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, có tính đặc thù Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đồng thời hồ sơ đề xuất về kỹ thuật và hồ sơ đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu Hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở ngay sau thời điểm đóng thầu Trên cơ sở đánh giá đề xuất về kỹ thuật của các nhà thầu trong giai đoạn này sẽ xác định các nội dung hiệu chỉnh về kỹ thuật so với hồ sơ mời thầu và danh sách nhà thầu đáp ứng yêu cầu được mời tham dự thầu giai đoạn hai Hồ sơ đề xuất về tài chính sẽ được mở ở giai đoạn hai.Trong giai đoạn hai, các nhà thầu đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu Hồ sơ dự thầu bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu giai đoạn hai tương ứng với nội dung hiệu chỉnh về kỹ thuật Trong giai đoạn này, hồ sơ đề xuất về tài chính đã nộp trong giai đoạn một sẽ được
mở đồng thời với hồ sơ dự thầu giai đoạn hai để đánh giá
1.2 Sự cần thiết phải ứng dụng đấu thầu qua mạng trong hoạt động đấu thầu
Đấu thầu là phạm trù kinh tế tồn tại trong nền kinh tế thị trường, trong đó người mua đóng vai trò tổ chức để các nhà thầu (những người bán) cạnh tranh nhau Mục tiêu của người mua là có được hàng hoá và dịch vụ thoả mãn các yêu cầu của mình về kỹ thuật, chất lượng và chi phí thấp nhất Mục tiêu của nhà thầu là giành được quyền cung cấp hàng hoá dịch vụ đó với giá đủ bù đắp các chi phí đầu vào đồng thời đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể
Công tác quản lý đấu thầu trực tiếp hiện nay nổi lên những vấn đề sau:
- Các chủ đầu tư, bên mời thầu thực hiện đấu thầu “nội bộ” mặc dù chọn hình
thức lựa chọn nhà thầu rộng rãi, nhưng thực tế là chỉ định thầu (thực hiện đấu thầu một cách hình thức, giả vờ), đấu thầu thiếu công khai, minh bạch và sự giám sát của
Trang 8cộng đồng Các gói thầu bị xé nhỏ để phù hợp với Luật nhằm thực hiện hình thức chỉ định thầu Chủ đầu tư thường đưa ra rất nhiều lý do, những nguyên nhân nghe thực sự hợp lý để lách luật và tránh đấu thầu rộng rãi Đây là một trong những vấn
đề nổi cộm mà các cơ quan kiểm tra vẫn chưa tìm ra được giải pháp nào xử lý triệt
để
- Các nhà thầu liên kết với nhau, ép phe “quân xanh quân đỏ”, đẩy giá thầu lên cao Việc “đi đêm” của các nhà thầu bây giờ đã trở nên quá phổ biến, nhưng Chính phủ vẫn chưa có một cơ chế giám sát và kiểm tra hiệu quả để ngăn chặn tình trạng này
- Ý thức thực hiện của chủ đầu tư trong nhiều dự án không thật sự nghiêm túc Việc đăng thông tin mời thầu chỉ là lấy lệ, gây khó khăn cho những nhà thầu muốn tiếp cận thông tin của HSDT: nếu không phải các dự án bị bắt buộc đăng thông tin trên báo Đấu thầu, các thông tin đấu thầu thường được đăng trên các tờ báo địa phương ít được chú ý và thời hạn ngắn; HSMT thường bị các chủ đầu tư gây khó dễ khi các nhà thầu muốn mua (ngừng bán không lý do, yêu cầu nộp thêm tiền…)
- Vấn đề quản lý lưu trữ tra cứu, báo cáo trong công tác đấu thầu cồng kềnh, khó khăn Hàng năm, chúng ta phải bỏ rất nhiều tiền của để giải quyết những khiếu nại, vướng mắc của các nhà thầu và thành lập các đơn vị thanh tra nhằm đảm bảo tính minh bạch trong công tác đấu thầu Nhưng hiệu quả vẫn không đáng kể, thậm
chí gây bất bình đối với các nhà thầu chân chính Công tác lưu trữ hồ sơ dự án, các HSMT, HSDT và bảo quản chúng phục vụ công tác kiểm tra, giám sát mỗi năm cũng tiêu tốn rất nhiều công sức và tiền bạc, khiến chi phí thực hiện đấu thầu cao hơn thực tế rất nhiều
Bên cạnh đó, thời gian thực hiện một hoạt động đấu thầu kéo rất dài, hiện nhà thầu phải mất đến gần 10 ngày để nhận, chuyển tài liệu thầu qua đường bưu điện Theo Luật Đấu thầu hiện hành, thời gian tính từ khi sơ tuyển thầu đến khi đánh giá
hồ sơ, thẩm định kế hoạch thầu có thể lên đến hơn 100 ngày Các đối tượng tham gia trong hoạt động đấu thầu cũng chưa tuân thủ các quy định về cung cấp thông tin đấu thầu Lý do của hiện trạng này chính là do việc nộp hồ sơ trực tiếp bằng văn
Trang 9bản Mỗi bộ hồ sơ có một bản chính nhưng phải có từ năm đến sáu bản sao Mỗi nhà thầu làm một kiểu, việc cung cấp thông tin không nhất quán cũng là điều dễ hiểu
Lướt qua website của Cục Quản lý Đấu thầu, dễ dàng tìm thấy khá nhiều thông báo đang trong thời hạn mời thầu Trong đó, giá bán HSMT biến thiên trong khoảng 1.000.000 đồng/bộ đến 2.000.000 đồng/bộ Trung bình mỗi gói thầu có đến
20 nhà thầu tham dự, cộng dồn với chi phí đi lại của nhà thầu khi mua HSMT, nộp HSDT, in ấn tài liệu có thể thấy, khoản tiền bỏ ra cho hoạt động này là không nhỏ Lập kế hoạch đấu thầu, thông báo mời thầu, nhận hồ sơ đấu thầu, mở thầu, đánh giá
hồ sơ, thẩm định và phê duyệt, hoàn thiện hợp đồng, ký hợp đồng Phải trải qua ít nhất 8 giai đoạn và khá nhiều thủ tục, một dự án mới được chuyển đến tay nhà thầu thông qua giấy tờ, con dấu, văn bản
- Lãng phí thất thoát trong xây dựng cơ bản và mua sắm hàng hóa công Thái
độ thờ ơ, vô trách nhiệm của các cơ quan chủ quản và chủ đầu tư đã dẫn đến hàng loạt những sai phạm trong đấu thầu Hàng hóa kém chất lượng, công trình không đảm bảo yêu cầu khiến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của Việt Nam vào hàng thấp nhất trong các quốc gia đang phát triển
- Sức ép hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu khách quan nền kinh tế thị trường Rất nhiều các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF, JBIC hoặc các đối tác của Việt Nam đang đòi hỏi những chế tài xử phạt và cơ chế quản lý nghiêm minh hoạt động đấu thầu Những vụ tiêu cực như PMU 18, PCI, buộc chúng ta phải có phương thức kiểm soát hiệu quả hơn quá trình mua sắm công
Trong bối cảnh đó, đấu thầu điện tử ngày càng được phát triển và ứng dụng rộng rãi và sẽ trở thành hình thức giao dịch cơ bản trong thế kỷ 21 Việc áp dụng đấu thầu điện tử giúp cho doanh nghiệp nâng cao năng lực canh tranh, tiết kiệm chi phí và nhanh chóng hội nhập với kinh tế toàn cầu Tham gia đấu thầu điện tử không chỉ là các doanh nghiệp và người dân, mà Chính phủ là một chủ thể tích cực tham gia ứng dụng đấu thầu điện tử Ngoài việc tạo lập ra môi trường cho đấu thầu điện
tử, Chính phủ còn là chủ đầu tư lớn của thị trường đấu thầu điện tử
Trang 10Theo các nghiên cứu khảo sát gần đây, chi tiêu Chính phủ của các nước hàng năm chiếm khoảng từ 10% - 20% GDP của mỗi nước Chi phí mua sắm Chính phủ của EU chiếm khoảng 16% GDP, Ý khoảng 11,9%, trong khi Hà Lan khoảng 21,5% Trung Quốc chi tiêu Chính phủ khoảng $600 tỷ năm 2015
Do giá trị mua sắm công là rất lớn đối với mỗi quốc gia, hàng hoá và dịch vụ mua sắm công cũng hết sức đa dạng nên hàng năm các quốc gia phải dành rất nhiều thời gian và nguồn lực để tiến hành đấu thầu mua sắm công Việc ứng dụng đấu thầu điện tử vào mua sắm công là một nội dung quan trọng trong đấu thầu điện tử
Nó giúp cho việc chi tiêu Chính phủ đạt được nhiều lợi ích: tiết kiệm chi phí, thời gian, nâng cao tính minh bạch trong mua sắm công và thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, mở rộng không gian đấu thầu Đấu thầu qua mạng (Luật Đấu thầu) là một dịch vụ công quan trọng trong hệ thống Chính phủ điện tử
Nó đã được rất nhiều nước quan tâm và triển khai, thực tế đã đem lại rất nhiều hiệu quả trong chi tiêu Chính phủ
Ứng dụng đấu thầu điện tử trong mua sắm công là một định hướng đã được xác định trong kế hoạch tổng thể ứng dụng và phát triển đấu thầu điện tử đến 2020 Việc ứng dụng đấu thầu điện tử vào mua sắm công sẽ làm cho công tác mua sắm công trở nên công khai, minh bạch và hiệu quả Sự tốn kém của đấu thầu theo phương pháp cũ khiến các nhà quản lý thế giới tiếp xúc với mô hình đấu thầu trực tuyến với thái độ nồng nhiệt Chỉ với một hệ thống bao gồm trang web để có môi trường giao dịch, liên kết với ngân hàng để có phương tiện thanh toán, chứng thực số; chữ ký điện tử đấu thầu trực tuyến đã có thể vận hành Phương thức đấu thầu mới sẽ tăng tính cạnh tranh trong đấu thầu, giúp Chính phủ giám sát việc mua sắm chuyên nghiệp hơn, hạn chế những chi phí “lót tay” nên sẽ nâng chất lượng các gói thầu Không thể phủ nhận, với cách làm này, Cục Quản lý đấu thầu cũng như các nhà thầu sẽ loại bỏ được các công việc lặp đi lặp lại, rút ngắn được quy trình mua sắm
Trang 111.3 Vai trò của đấu thầu qua mạng
Đấu thầu qua mạng là một giải pháp mới cho Chính phủ điện tử trong lĩnh vực đấu thầu tại Việt Nam Hệ thống đấu thầu qua mạng có vai trò quan trọng như sau:
- Tăng cường tính công bằng, công khai, minh bạch và hiệu quả trong công tác đấu thầu Đưa quy trình đấu thầu dần theo đúng quy trình đấu thầu chuẩn trong môi trường hiện đại hội nhập kinh tế quốc tế
- Đảm bảo thực hiện nghiêm túc và tuân thủ chặt chẽ hơn nữa các qui định của Nhà nước và pháp luật Việt Nam về đấu thầu Với giao diện thân thiện, đơn giản, dễ
sử dụng sẽ tạo thuận lợi cho quá trình đấu thầu diễn ra nhanh chóng, kịp thời và tiết kiệm
- Tăng cường bảo mật và an toàn thông tin đấu thầu, đảm bảo quy trình thực hiện đấu thầu luôn được kiểm tra, giám sát chặt chẽ, tránh thất thoát, lãng phí
Những ưu điểm nổi trội của đấu thầu qua mạng so với đấu thầu thông thường: Đấu thầu thông thường có những nhược điểm sau: Thời gian thực hiện một hoạt động đấu thầu kéo dài, trung bình là 45 ngày (tùy vào từng loại gói thầu) Chưa nhất quán trong quá trình thực hiện các quy trình, thủ tục theo các quy định về đấu thầu Các đối tượng tham gia trong hoạt động đấu thầu chưa tuân thủ các qui định
về cung cấp thông tin đấu thầu Thông tin chưa được tập trung đầy đủ vào một đầu mối duy nhất Nhà thầu gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin đấu thầu, HSMT, Chi phí đi lại của nhà thầu khi mua HSMT, nộp HSDT, in ấn tài liệu cao Trong khi đó, đấu thầu qua mạng hoàn toàn khắc phục hoàn toàn những nhược điểm trên của đấu thầu thông thường, và còn có những ưu điểm nổi trội hơn rất nhiều:
Trang 12Bảng 1.1: Những ưu điểm của đấu thầu qua mạng
- Giám sát việc mua sắm
chuyên nghiệp hơn
- Nâng cao chất lượng về
các quyết định mua sắm
và thống kê
- Công khai thông tin
- Nâng cao tính công bằng và cạnh tranh
- Cải thiện việc tiếp cận vào thị trường của Chính phủ
- Mở rộng thị trường Chính phủ cho các nhà cung cấp mới
- Khuyến khích/kích thích khối doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia
- Cải thiện việc tiếp cận các thông tin mua sắm công khai
- Chính phủ thông tin cho doanh nghiệp
- Dễ dàng tiếp cận các thông tin mua sắm Chính phủ
- Có thể theo dõi, giám sát việc thực hiện dấu thầu
Hiệu
quả
Chi
phí
- Có được giá tốt hơn
- Giảm thiểu chi phí giao
Trang 13Thời
gian
- Đơn giản hoá/Loại bỏ đi
được các công việc lặp đi
- Đơn giản hoá/Loại bỏ
đi được các công việc lặp
đi lặp lại
- Có thể giao dịch bất cứ nơi đâu, bất cứ thời gian nào
- Rút ngắn được chu trình mua sắm
- Có được các dịch
vụ tốt hơn, nhanh hơn
1.4 Các văn bản luật định có liên quan
Bảng 1.2: Các văn bản luật định có liên quan
Quy định về đấu thầu điện tử qua mạng Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày
26/11/2013; Nghi định 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu
Thừa nhận các thông điệp dữ liệu là hợp
pháp trong các giao dịch trên mạng
Luật Giao dịch điện tử 2005; Nghị định 27/2007/NĐ-CP ngày 23/2/2007 của Chính phủ về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính (căn cứ vào Luật giao dịch điện tử); Nghị định 35/2007/NĐ-CP ngày 8/3/2007 của Chính phủ về giao dịch điện tử trong hoạt động Ngân hàng; Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 9/6/2006 của Chính phủ về thương mại điện tử (căn
cứ vào Luật thương mại và Luật giao
Trang 14dịch điện tử); Luật Dân sự 2005
Quy định kỹ thuật về chữ ký số nhằm
đảm bảo tính tin cậy, toàn vẹn của thông
tin được trao đổi trong thương mại điện
tử
Nghị định 26/2007/NĐ-CP ngày 15/2/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký
số Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong thương
mại điện tử
Luật Sở hữu trí tuệ 2005 chưa có quy định chi tiết về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử
Bảo vệ người tiêu dùng trong thương
mại điện tử
Pháp lệnh bảo về quyền lợi người tiêu dùng chưa có quy định chi tiết về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử
Từ lý luận trên ở chương 2 sẽ chỉ ra rõ mục đích, đặc điểm và các bước thực hiện của đấu thầu điện tử qua mạng
Trang 15CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẤU THẦU ĐIỆN TỬ QUA MẠNG 2.1 Mục đích và đặc điểm của đấu thầu qua mạng
2.1.1 Mục địch của đấu thầu qua mạng
Quản lý: Cùng với sự trợ giúp của quy trình đấu thầu qua mạng, toàn bộ quá trình đấu thầu có thể được giám sát bởi bất kỳ ai quan tâm Nói cách khác, những quy trình, quyết định và kết quả của hoạt động đấu thầu có thể được quan sát một cách trực tuyến bởi những nhà cung cấp tiềm năng, cộng đồng và bản thân Chính phủ Chính sự minh bạch và dễ dàng trong quản lý của đấu thầu qua mạng làm gia tăng tính trách nhiệm và hiệu quả của những bộ phận tham gia vào quá trình đấu thầu Nó cũng khuyến khích những nhà cung cấp mới tham gia vào hoạt động đấu thầu và gia tăng niềm tin của cả cộng đồng nhằm thúc đẩy sự cạnh tranh
Hiệu quả: Đấu thầu qua mạng bao hàm những quy chuẩn, sự tổ chức hợp lý và
sự thống nhất của cả một quá trình Chính điều này làm giảm bớt chi phí quản lý và thời gian thực hiện nên đã tiết kiệm được một khoản không nhỏ trong suốt quá trình đấu thầu Hơn thế nữa, bằng việc gia tăng hiệu quả của hoạt động đầu tư công, hệ thống đấu thầu qua mạng mang lại giá trị lớn hơn của những khoản đầu tư này so với việc không thực hiện đấu thầu qua mạng Việc này đã giảm bớt gánh nặng về thuế mà người dân một quốc gia phải gánh chịu
Phát triển cân bằng: Một giải pháp điện tử hóa quá trình đấu thầu khiến nó trở nên thương mại hóa hơn, và do vậy thúc đẩy sức sản xuất và cạnh tranh, chống lại
cơ chế độc quyền, giảm thiểu những rào cản của thị trường Chính phủ, làm cho toàn
bộ nền kinh tế nói chung và nền kinh tế từng khu vực nói riêng phát triển Điều đó thiết lập nền tảng cho đầu tư công trở nên công bằng, cân bằng và hiệu quả hơn Do vậy, nó giúp những quốc gia đang phát triển tiến lên một nấc mới trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu
2.1.2 Đặc điểm của đấu thầu qua mạng
Hệ thống đấu thầu qua mạng với các chức năng quản lý hệ thống thông tin đấu thầu, dữ liệu thông tin nhà thầu, tổ chức thẩm định phê duyệt kế hoạch đấu thầu, hồ
Trang 16sơ mời thầu, kết quả đấu thầu trực tuyến; quản lý việc thông báo mời thầu cùng hệ thống báo cáo thống kê tự động trên mạng giúp cho quá trình đấu thầu diễn ra công khai, đúng thủ tục qui trình trong luật đấu thầu, bảo mật an toàn thông tin, tiến từng bước đến áp dụng tác nghiệp đấu thầu qua mạng, góp phần giảm gánh nặng quản lý
và chi phí trong công tác đấu thầu
Hệ thống đấu thầu qua mạng được phát triển trên nền web thiết kế với giao diện thân thiện, hỗ trợ tính năng đa ngữ Với tiêu chí mang đến cho người dùng cuối (các tổ chức, cá nhân có nhu cầu tổ chức đấu thầu và tham gia thầu) sử dụng phần lớn các tiện ích của mạng máy tính, mạng Internet với một cách tiếp cận tự nhiên nhất, giúp họ có một phong cách làm việc hiện đại, hiệu quả, chuyên nghiệp
Về mặt công nghệ, hệ thống đấu thầu qua mạng được xây dựng trên nền công nghệ Portal mã nguồn mở, kỹ thuật xây dựng portlet theo đúng chuẩn quốc tế JSR
168, có khả năng tương thích, mở rộng cao Về mặt kiến trúc hệ thống, toàn bộ phần mềm được thiết kế theo mô hình phân tầng (3-tiers) và triết lý MVC (Model View Controller) Về qui trình phát triển, hệ thống đấu thầu qua mạng là kết quả của việc
áp dụng linh hoạt qui trình eXtreme Programming (XP), đảm bảo chất lượng và độ tin cậy của sản phẩm Về tính ứng dụng, hệ thống đấu thầu qua mạng cơ bản số hóa được qui trình nghiệp vụ đấu thầu, bảo đảm tính tin cậy và an toàn trong suốt quá trình thực hiện đấu thầu
2.2 Thực trạng và giải pháp chung trong đấu thầu điện tử qua mạng
2.2.1 Kinh nghiệm của nước Hàn Quốc cho thấy hiệu quả tác động của đấu thầu qua mạng là rất lớn
Đấu thầu điện tử qua mạng hiện nay ở Hàn Quốc đã đạt được kỳ tích 95% các
cơ quan sử dụng đấu thầu điện tử qua mạng Theo thống kê, trong số 44 nghìn cơ quan Nhà nước sử dụng đấu thầu điện tử qua mạng có 13% là các cơ quan trung ương, 18% là các cơ quan địa phương; trong số 228 nghìn doanh nghiệp cung cấp thì 39% là cung cấp hàng hóa, 38% xây dựng, 21% dịch vụ và 2% mua sắm nước ngoài
Trang 17Đấu thầu tập trung của Hàn Quốc được thiết lập thành hệ thống từ trung ương
đến địa phương Ở trung ương có Trung tâm đấu thầu tập trung (Public Procurement Service - PPS) trực thuộc Bộ Kế hoạch và Tài chính và 11 Văn phòng khu vực PPS chịu trách nhiệm về việc đấu thầu đối với các cơ quan thuộc Chính phủ có giá trị trên 100 nghìn USD và công trình xây dựng có giá trị trên 3 triệu USD Đối với địa phương, việc đấu thầu và xây lắp công trình được phân cấp cho chính quyền các địa phương tự tiến hành thông qua hệ thống đấu thầu điện tử trực tuyến hoặc thông qua Trung tâm đấu thầu của Trung ương, hoặc qua Văn phòng trung tâm đấu thầu khu vực khi địa phương có nhu cầu
Đấu thầu điện tử qua mạng trực tuyến được tiến hành qua mạng theo 4 bước: nộp hồ sơ và tham gia đấu thầu, lựa chọn nhà thầu, giao nhận hàng hóa, dịch vụ và thanh toán hợp đồng Khi một cơ quan có nhu cầu đấu thầu, cơ quan này phải công
bố công khai các thông tin trên mạng Tương tự, danh sách các nhà cung cấp sản phẩm cũng được đăng tải công khai Các đơn vị dự thầu không phải cung cấp các tài liệu, văn bản chứng minh năng lực nhà thầu, tài chính, tín dụng do đã có Trung tâm mua sắm công tập trung đảm nhiệm việc quản lý, khai thác và thẩm định chúng
từ nguồn dữ liệu điện tử quốc gia Nhà thầu chỉ cần kê khai một vài thông tin cần thiết như số đăng ký kinh doanh, số hồ sơ thuế, số hồ sơ văn bằng chứng minh năng lực sau đó hệ thống đấu thầu điện tử sẽ tự động kết nối tới cơ sở dữ liệu chuyên ngành của Nhà nước để kiểm chứng (cơ quan Kế hoạch và Đầu tư, cơ quan Thuế ) Việc chấm thầu sẽ được tiến hành trên mạng qua hệ thống chấm điểm tự động và kết quả chấm thầu cũng được tự động chuyển công khai ngay lên mạng, theo đó, việc sửa chữa hoặc cố ý làm sai lệch kết quả chấm thầu vì mục đích cá nhân sẽ khó thực hiện được
Đấu thầu điện tử qua mạng hiện nay ở Hàn Quốc đã tăng cường được tính công khai, minh bạch trong mua sắm của Chính phủ, góp phần phòng ngừa tham nhũng, được đánh giá là lĩnh vực ít có nguy cơ tham nhũng so với bản thân nó thời gian trước đây Tuy nhiên, theo quan hệ biện chứng, tỷ lệ khiếu nại liên quan đến hoạt động đấu thầu điện tử trực tuyến gần đây có xu hướng tăng lên do người dân
Trang 18được tiếp cận đầy đủ các thông tin liên quan, họ sẵn sàng khiếu nại kể từ một sơ xuất nhỏ hoặc một thông tin đáng nghi ngờ, đó là điều tất yếu khi trước đây đấu thầu thiếu thông tin, thiếu công khai, kém minh bạch
Có được những thành tựu quan trọng này là do Hàn Quốc có nền tảng của chương trình xây dựng và phát triển nền điện tử Chính phủ Chính phủ điện tử Hàn Quốc năm 2010 và 2011 đã liên tiếp giữ vị trí hàng đầu thế giới Nền tảng quan trọng này đã giúp đấu thầu điện tử qua mạng của Hàn Quốc có thể trụ vững và phát triển Đấu thầu điện tử qua mạng trực tuyến của Hàn Quốc năm 2003 đã đoạt giải Nhất Dịch vụ công cộng của Liên hợp quốc, năm 2006 đoạt giải thưởng Công nghệ thông tin xuất sắc toàn cầu, năm 2007 đoạt giải thưởng Thương mại điện tử khu vực Châu Á… Hàn Quốc đã và đang hợp tác, giúp đỡ các nước như Costa Rica, Tuy-ni-
di và Mông Cổ trong phát triển hệ thống mua sắm công điện tử quốc gia
Theo ông Kang-il Seo, Phó Giám đốc Phòng Hợp tác quốc tế thuộc Tổng cục Mua sắm công Hàn Quốc, tiết kiệm chi phí giao dịch qua hệ thống đấu thầu qua mạng của Hàn Quốc năm 2012 là 8 tỷ USD, trong đó phía tư nhân là 6,6 tỷ USD, Nhà nước là 1,4 tỷ USD; giảm 7,8 triệu trang tài liệu giấy mỗi năm
2.2.2 Mua sắm công điện tử ở Việt Nam
Phòng, chống tham nhũng trong mua sắm công tại Việt Nam đã là một nội dung được Chính phủ sớm quan tâm Bộ Kế hoạch và Đầu tư có Thông tư số 17/2010/TT-BKH ngày 22/7/2010 Quy định chi tiết thí điểm đấu thầu qua mạng và bước đầu Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã được chọn làm thí điểm này
Từ năm 2010 đến nay, Bộ Kế hoạch và Tài chính Hàn Quốc đã và đang giúp
Bộ Kế hoạch và Đầu tư của Việt Nam về “Hệ thống thử nghiệm mua sắm chính phủ điện tử Việt Nam” Qua 2 năm triển khai hợp phần đầu tiên trong 4 hợp phần (Gồm: đấu thầu qua mạng, mua sắm qua mạng, ký hợp đồng qua mạng và thanh toán qua mạng), Cục Quản lý đấu thầu đã tổ chức đấu thầu thành công nhiều gói thầu qua mạng, tạo cơ sở quan trọng ban đầu để mở rộng thí điểm và triển khai các nội dung tiếp theo Tổng giá trị thực hiện đấu thầu mua sắm công của Việt Nam trong năm
Trang 192010 lên tới 14,78 tỷ USD, đã có trên 450 gói thầu với tổng trị giá trên 77 nghìn tỷ đồng đã áp dụng hình thức đấu thầu quốc tế
Bảng 2.1: Hệ thống đấu thầu điện tử của Việt Nam Các kết quả hiện nay mới chỉ là bước đầu Đối với Việt Nam, những khó khăn
và thách thức trong tiến trình đưa mua sắm công điện tử trở thành hiện thực còn
nhiều vấn đề phải đối mặt
2.3 C ác bước thực hiện công tác đấu thầu điện tử qua mạng
Áp dụng Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013 ; Nghi định 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu; Thông tu số 17/2010/TT-BKH ngày 22/7/20010 quy định chi tiết thí điểm đấu thầu qua mạng chỉ ra các bước thực hiện đấu thầu điện tử qua mạng
Trang 202.3.1 Điều kiện về hạ tầng công nghệ thông tin khi tham gia đấu thầu điện tử qua mạng
Khi tham gia đấu thầu điện tử qua mạng điều đầu tiên phải tham gia hệ thống
mạng đấu thầu quốc gia, điều kiện về hạ tầng công nghệ thông tin của bên mời thầu, nhà thầu phải đáp ứng yêu cầu như sau:
- Đường truyền internet:
- Đối với nhà thầu:
+ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, ngành nghề lĩnh vực kinh doanh, thông tin liên hệ của nhà thầu, của người phụ trách tham dự thầu và người đại diện pháp luật của nhà thầu;
+ Năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu
2.3.3 Quy trình đăng ký tham gia Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia
Bên mời thầu, nhà thầu thực hiện đăng ký tham gia Hệ thống mạng đấu thầu
quốc gia theo các bước sau:
- Bước 1: Khai báo thông tin trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và gửi
hồ sơ đăng ký trực tiếp hoặc theo đường công văn đến Cục Quản lý đấu thầu, Bộ Kế
hoạch và Đầu tư
Trang 21- Bước 2: Nhận mã phê duyệt chứng thư số và số tham chiếu từ Hệ thống
mạng đấu thầu quốc gia
- Bước 3: Nhận chứng thư số từ Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia
- Bước 4: Đăng ký thông tin người sử dụng chứng thư số trên Hệ thống mạng đấu quốc gia
2.3.4 Kế hoạch lựa chọn nhà thầu trong đấu thầu điện tử
Kế hoạch lựa chọn nhà thâu trong đấu thầu điện tử có những các bước thực hiện như đấu thầu trực tiếp
2.3.4.1 Nguyên tắc lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu
+ Kế hoạch lựa chọn nhà thầu được lập cho toàn bộ dự án, dự toán mua sắm Trường hợp chưa đủ điều kiện lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu cho toàn bộ dự án, dự toán mua sắm thì lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu cho một hoặc một số gói thầu để thực hiện trước
+ Trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu phải ghi rõ số lượng gói thầu và nội dung của từng gói thầu
+ Việc phân chia dự án, dự toán mua sắm thành các gói thầu phải căn cứ theo tính chất kỹ thuật, trình tự thực hiện; bảo đảm tính đồng bộ của dự án, dự toán mua
sắm và quy mô gói thầu hợp lý
2.3.4.2 Lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu
- Căn cứ lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối với dự án:
+ Quyết định phê duyệt dự án hoặc Giấy chứng nhận đầu tư và các tài liệu có liên quan Đối với gói thầu cần thực hiện trước khi có quyết định phê duyệt dự án thì căn cứ theo quyết định của người đứng đầu chủ đầu tư hoặc người đứng đầu đơn
vị được giao nhiệm vụ chuẩn bị dự án trong trường hợp chưa xác định được chủ đầu tư;
Trang 22- Căn cứ lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối với mua sắm thường xuyên: + Tiêu chuẩn, định mức trang thiết bị, phương tiện làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cán bộ, công chức, viên chức; trang thiết bị, phương tiện làm việc hiện có cần thay thế, mua bổ sung, mua sắm mới phục vụ cho công việc;
+ Quyết định mua sắm được phê duyệt;
+ Nguồn vốn, dự toán mua sắm thường xuyên được phê duyệt;
+ Đề án mua sắm trang bị cho toàn ngành được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (nếu có);
+ Kết quả thẩm định giá của cơ quan, tổ chức có chức năng cung cấp dịch vụ thẩm định giá hoặc báo giá (nếu có)
- Kế hoạch lựa chọn nhà thầu được lập sau khi có quyết định phê duyệt dự án,
dự toán mua sắm hoặc đồng thời với quá trình lập dự án, dự toán mua sắm hoặc trước khi có quyết định phê duyệt dự án đối với gói thầu cần thực hiện trước khi có quyết định phê duyệt dự án
2.3.4.3 Nội dung kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối với từng gói thầu
- Tên gói thầu: Tên gói thầu thể hiện tính chất, nội dung và phạm vi công việc của gói thầu, phù hợp với nội dung nêu trong dự án, dự toán mua sắm Trường hợp gói thầu gồm nhiều phần riêng biệt, trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu cần nêu tên thể hiện nội dung cơ bản của từng phần
- Giá gói thầu:
+ Giá gói thầu được xác định trên cơ sở tổng mức đầu tư hoặc dự toán (nếu có) đối với dự án; dự toán mua sắm đối với mua sắm thường xuyên Giá gói thầu được tính đúng, tính đủ toàn bộ chi phí để thực hiện gói thầu, kể cả chi phí dự phòng, phí, lệ phí và thuế Giá gói thầu được cập nhật trong thời hạn 28 ngày trước ngày mở thầu nếu cần thiết;
+ Đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi, giá gói thầu được xác định trên cơ sở các thông tin
về giá trung bình theo thống kê của các dự án đã thực hiện trong khoảng thời gian
Trang 23xác định; ước tính tổng mức đầu tư theo định mức suất đầu tư; sơ bộ tổng mức đầu tư;
+ Trường hợp gói thầu gồm nhiều phần riêng biệt thì ghi rõ giá ước tính cho từng phần trong giá gói thầu
- Nguồn vốn: Đối với mỗi gói thầu phải nêu rõ nguồn vốn hoặc phương thức thu xếp vốn, thời gian cấp vốn để thanh toán cho nhà thầu; trường hợp sử dụng vốn
hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi thì phải ghi rõ tên nhà tài trợ và cơ cấu nguồn vốn, bao gồm vốn tài trợ, vốn đối ứng trong nước
- Hình thức và phương thức lựa chọn nhà thầu: Đối với mỗi gói thầu phải nêu
rõ hình thức và phương thức lựa chọn nhà thầu; lựa chọn nhà thầu trong nước hay quốc tế
- Thời gian bắt đầu tổ chức lựa chọn nhà thầu: Thời gian bắt đầu tổ chức lựa chọn nhà thầu được tính từ khi phát hành hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, được ghi rõ theo tháng hoặc quý trong năm Trường hợp đấu thầu rộng rãi có áp dụng thủ tục lựa chọn danh sách ngắn, thời gian bắt đầu tổ chức lựa chọn nhà thầu được tính từ khi phát hành hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển
- Loại hợp đồng: Trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu phải xác định rõ loại hợp đồng theo quy định
- Thời gian thực hiện hợp đồng: Thời gian thực hiện hợp đồng là số ngày tính
từ ngày hợp đồng có hiệu lực đến ngày các bên hoàn thành nghĩa vụ theo quy định trong hợp đồng, trừ thời gian thực hiện nghĩa vụ bảo hành (nếu có)
2.3.4.4 Trình duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu
- Trách nhiệm trình duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu:
+ Chủ đầu tư đối với dự án, bên mời thầu đối với mua sắm thường xuyên có trách nhiệm trình kế hoạch lựa chọn nhà thầu lên người có thẩm quyền xem xét, phê duyệt;
+ Đối với gói thầu cần thực hiện trước khi có quyết định phê duyệt dự án, trường hợp xác định được chủ đầu tư thì đơn vị thuộc chủ đầu tư có trách nhiệm trình kế hoạch lựa chọn nhà thầu lên người đứng đầu chủ đầu tư để xem xét, phê
Trang 24duyệt Trường hợp chưa xác định được chủ đầu tư thì đơn vị được giao nhiệm vụ chuẩn bị dự án có trách nhiệm trình kế hoạch lựa chọn nhà thầu lên người đứng đầu đơn vị mình để xem xét, phê duyệt
- Văn bản trình duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu bao gồm những nội dung sau đây:
+ Phần công việc đã thực hiện, bao gồm nội dung công việc liên quan đến chuẩn bị dự án, các gói thầu thực hiện trước với giá trị tương ứng và căn cứ pháp lý
để thực hiện;
+ Phần công việc không áp dụng được một trong các hình thức lựa chọn nhà thầu, bao gồm: hoạt động của ban quản lý dự án, tổ chức đền bù giải phóng mặt bằng, khởi công, khánh thành, trả lãi vay và các công việc khác không áp dụng được các hình thức lựa chọn nhà thầu;
+ Phần công việc thuộc kế hoạch lựa chọn nhà thầu, bao gồm nội dung công việc và giá trị tương ứng hình thành các gói thầu được thực hiện theo một trong các hình thức lựa chọn nhà thầu quy định Trong phần này phải nêu rõ cơ sở của việc chia dự án, dự toán mua sắm thành các gói thầu Đối với từng gói thầu, phải bảo đảm có đủ các nội dung quy định Đối với gói thầu không áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi, trong văn bản trình duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu phải nêu rõ lý
do áp dụng hình thức lựa chọn khác;
+ Phần công việc chưa đủ điều kiện lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu (nếu có), trong đó nêu rõ nội dung và giá trị của phần công việc này;
2.3.4.5 Thẩm định và phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu
- Thẩm định kế hoạch lựa chọn nhà thầu:
+ Tổ chức được giao thẩm định kế hoạch lựa chọn nhà thầu lập báo cáo thẩm định trình người có thẩm quyền phê duyệt;
+ Tổ chức được giao thẩm định kế hoạch lựa chọn nhà thầu lập báo cáo thẩm định trình người đứng đầu chủ đầu tư hoặc người đứng đầu đơn vị được giao nhiệm
vụ chuẩn bị dự án phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối với trường hợp gói thầu cần thực hiện trước khi có quyết định phê duyệt dự án
Trang 25- Phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu:
+ Căn cứ báo cáo thẩm định, người có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu bằng văn bản để làm cơ sở tổ chức lựa chọn nhà thầu sau khi dự án,
dự toán mua sắm được phê duyệt hoặc đồng thời với quyết định phê duyệt dự án, dự toán mua sắm trong trường hợp đủ điều kiện;
+ Căn cứ báo cáo thẩm định, người đứng đầu chủ đầu tư hoặc người đứng đầu đơn vị được giao nhiệm vụ chuẩn bị dự án phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối với gói thầu cần thực hiện trước khi có quyết định phê duyệt dự án
2.3.5 Chuẩn bị lựa chọn nhà thầu
2.3.5.1 Lập hồ sơ mời thầu (phần lập hồ sơ mời thầu trong đấu thầu điện tử qua mạng cũng có các bước thực hiện như đấu thầu trực tiếp)
- Căn cứ lập hồ sơ mời thầu:
+ Quyết định phê duyệt dự án hoặc Giấy chứng nhận đầu tư đối với dự án, quyết định phê duyệt dự toán mua sắm đối với mua sắm thường xuyên và các tài
liệu liên quan Đối với gói thầu cần thực hiện trước khi có quyết định phê duyệt dự
án thì căn cứ theo quyết định của người đứng đầu chủ đầu tư hoặc người đứng đầu đơn vị được giao nhiệm vụ chuẩn bị dự án trong trường hợp chưa xác định được
chủ đầu tư;
+ Kế hoạch lựa chọn nhà thầu được duyệt;
+ Tài liệu về thiết kế kèm theo dự toán được duyệt đối với gói thầu xây lắp; yêu cầu về đặc tính, thông số kỹ thuật đối với hàng hóa (nếu có);
+ Các quy định của pháp luật về đấu thầu và các quy định của pháp luật liên quan; điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế (nếu có) đối với các dự án sử dụng vốn
hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi;
+ Các chính sách của Nhà nước về thuế, phí, ưu đãi trong lựa chọn nhà thầu và các quy định khác liên quan
- Hồ sơ mời thầu phải quy định về tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu bao gồm tiêu chuẩn đánh giá về năng lực và kinh nghiệm; tiêu chuẩn đánh giá về kỹ thuật; xác định giá thấp nhất (đối với trường hợp áp dụng phương pháp giá thấp nhất); tiêu
Trang 26chuẩn xác định giá đánh giá (đối với trường hợp áp dụng phương pháp giá đánh giá) Trong hồ sơ mời thầu không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra
sự cạnh tranh không bình đẳng
- Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu xây lắp bao gồm:
+ Tiêu chuẩn đánh giá về năng lực và kinh nghiệm Sử dụng tiêu chí đạt, không đạt để xây dựng tiêu chuẩn đánh giá về năng lực và kinh nghiệm, trong đó
phải quy định mức yêu cầu tối thiểu để đánh giá là đạt đối với từng nội dung về năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu Cụ thể như sau: Kinh nghiệm thực hiện các gói thầu tương tự về quy mô, tính chất kỹ thuật, điều kiện địa lý, địa chất, hiện trường (nếu có); kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính
có liên quan đến việc thực hiện gói thầu; Năng lực kỹ thuật: Số lượng, trình độ cán
bộ chuyên môn chủ chốt, công nhân kỹ thuật trực tiếp thực hiện gói thầu và số lượng thiết bị thi công sẵn có, khả năng huy động thiết bị thi công để thực hiện gói
thầu; Năng lực tài chính: Tổng tài sản, tổng nợ phải trả, tài sản ngắn hạn, nợ ngắn
hạn, doanh thu, lợi nhuận, giá trị hợp đồng đang thực hiện dở dang và các chỉ tiêu
cần thiết khác để đánh giá về năng lực tài chính của nhà thầu; Việc xác định mức độ yêu cầu cụ thể đối với từng tiêu chuẩn quy định tại Điểm này cần căn cứ theo yêu
cầu của từng gói thầu Nhà thầu được đánh giá đạt tất cả nội dung nêu tại Điểm này thì đáp ứng yêu cầu về năng lực và kinh nghiệm
+ Tiêu chuẩn đánh giá về kỹ thuật Sử dụng tiêu chí đạt, không đạt hoặc phương pháp chấm điểm theo thang điểm 100 hoặc 1.000 để xây dựng tiêu chuẩn đánh giá về kỹ thuật, trong đó phải quy định mức điểm tối thiểu và mức điểm tối đa đối với từng tiêu chuẩn tổng quát, tiêu chuẩn chi tiết khi sử dụng phương pháp
chấm điểm Việc xây dựng tiêu chuẩn đánh giá về kỹ thuật dựa trên các nội dung về
khả năng đáp ứng các yêu cầu về hồ sơ thiết kế, tiên lượng mời thầu, uy tín của nhà
thầu thông qua việc thực hiện các hợp đồng tương tự trước đó và các yêu cầu khác nêu trong hồ sơ mời thầu Căn cứ vào từng gói thầu cụ thể, khi lập hồ sơ mời thầu
phải cụ thể hóa các tiêu chí làm cơ sở để đánh giá về kỹ thuật bao gồm:
Trang 27Tính hợp lý và khả thi của các giải pháp kỹ thuật, biện pháp tổ chức thi công phù hợp với đề xuất về tiến độ thi công;Trừ những trường hợp do tính chất của gói
thầu mà hồ sơ mời thầu yêu cầu nhà thầu phải thực hiện theo đúng biện pháp thi công nêu trong hồ sơ mời thầu, trong hồ sơ mời thầu cần quy định nhà thầu được đề
xuất biện pháp thi công khác với biện pháp thi công nêu trong hồ sơ mời thầu
- Tiến độ thi công;
- Các biện pháp bảo đảm chất lượng;
- Bảo đảm điều kiện vệ sinh môi trường và các điều kiện khác như phòng cháy,
chữa cháy, an toàn lao động;
- Mức độ đáp ứng các yêu cầu về bảo hành, bảo trì;
- Uy tín của nhà thầu thông qua việc thực hiện các hợp đồng tương tự trước đó;
- Các yếu tố cần thiết khác:
+ Xác định giá thấp nhất (đối với trường hợp áp dụng phương pháp giá thấp
nhất) thực hiện theo quy định;
+ Tiêu chuẩn xác định giá đánh giá (đối với trường hợp áp dụng phương pháp giá đánh giá)
Công thức xác định giá đánh giá: GĐG = G ± ∆g + ∆ƯĐ
Trong đó:
G = (giá dự thầu ± giá trị sửa lỗi ± giá trị hiệu chỉnh sai lệch) - giá trị
giảm giá (nếu có);
∆G là giá trị các yếu tố được quy về một mặt bằng cho cả vòng đời sử
dụng của công trình bao gồm: Chi phí vận hành, bảo dưỡng; Chi phí lãi vay (nếu có); Tiến độ; Chất lượng; Các yếu tố khác (nếu có)
∆ƯĐ là giá trị phải cộng thêm đối với đối tượng không được hưởng ưu đãi theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 4 của Nghị định này
- Quy định về sử dụng lao động:
+ Đối với đấu thầu quốc tế, khi lập hồ sơ mời thầu phải quy định sử dụng lao động trong nước đối với những vị trí công việc mà lao động trong nước đáp ứng được và có khả năng cung cấp, đặc biệt là lao động phổ thông Chỉ được sử dụng
Trang 28lao động nước ngoài khi lao động trong nước không đáp ứng yêu cầu Nhà thầu không tuân thủ quy định về việc sử dụng lao động khi thực hiện hợp đồng, tùy theo
mức độ vi phạm sẽ bị cấm tham gia hoạt động đấu thầu tại Việt Nam theo quy định; + Đối với những gói thầu cần sử dụng nhiều lao động phổ thông, hồ sơ mời
thầu phải yêu cầu nhà thầu đề xuất phương án sử dụng lao động địa phương nơi triển khai thực hiện dự án, gói thầu;
+ Chủ đầu tư chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tuân thủ quy định tại Khoản này trong quá trình lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu, phê duyệt kết
quả lựa chọn nhà thầu, ký kết và thực hiện hợp đồng;
+ Hồ sơ dự thầu của nhà thầu không đáp ứng yêu cầu của hồ sơ mời thầu về sử
dụng lao động quy định sẽ bị loại
2.3.5.2 Thẩm định và phê duyệt hồ sơ mời thầu
- Hồ sơ mời thầu phải được thẩm định theo quy định của Luật đấu thầu
- Việc phê duyệt hồ sơ mời thầu phải bằng văn bản và căn cứ vào tờ trình phê duyệt, báo cáo thẩm định hồ sơ mời thầu
2.3.6 Mời thầu và phát hành hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu
- Thông báo mời thầu, thông báo mời chào hàng do bên mời thầu tự điền theo
mẫu trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia Đối với gói thầu mua sắm hàng hoá, bên
mời thầu cần nhập danh mục hàng hoá cần mua bao gồm các thông tin như tên hàng hoá, tiêu chuẩn hàng hoá, số lượng và đơn vị, trường hợp đã có thông tin thì có thể
nhập ngày giao hàng sau khi ký hợp đồng
- Hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu là các file được đính kèm và đăng tải đồng
thời với thông báo mời thầu, thông báo giữa file đính kèm và nội dung điền trong
mẫu mời chào hàng Trường hợp có sự sai khác thông báo mời thầu, thông báo mời
chào hàng thì căn cứ vào file đính kèm Đối với đấu thầu hạn chế, bên mời thầu
thực hiện lựa chọn danh sách ngắn theo quy định ngay sau khi đăng tải thông báo
mời thầu
- Hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu được phát hành miễn phí trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia
Trang 29+ Đối với đấu thầu rộng rãi, chào hàng cạnh tranh, bất kỳ cá nhân, tổ chức nào quan tâm cũng có thể tải hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu từ Hệ thống ngay sau khi bên mời thầu đăng tải thông báo mời thầu, thông báo mời chào hàng;
+ Đối với đấu thầu hạn chế, chỉ những nhà thầu có tên trong danh sách ngắn
mới có thể tài hồ sơ mời thầu từ hệ thống mạng đấu thầu quốc gia
- Thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu tối thiểu là 10 ngày (đối với gói thầu quy
mô nhỏ), 20 ngày (đối với các gói thầu khác) kể từ ngày đầu tiên phát hành hồ sơ
mời thầu trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia Thời gian chuẩn bị hồ sơ đề xuất
tối thiểu là 05 ngày kể từ ngày đầu tiên phát hành hồ sơ yêu cầu trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia
- Khi đăng tải thông báo mời thầu, thông báo mời chào hàng, bên mời thầu
phải nhận khóa bí mật của gói thầu từ hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và lưu giữ
an toàn khóa bí mật này tại tối thiểu 02 thư mục theo yêu cầu của hệ thống mạng đấu thầu quốc gia Khóa bí mật của gói thầu được sử dụng để mở thầu trên mạng Trường hợp khóa bí mật bị mất, bên mời thầu phải gửi văn bản đến Tổ chức vận hành hệ thống để được cấp lại
- Chi tiết các bước thực hiện được xem trong tài liệu hướng dẫn sử dụng được đăng tải trên trang chủ hệ thống mạng đấu thầu quốc gia
2.3.7 Sửa đổi, bổ sung, làm rõ hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu
- Sau khi phát hành hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, trường hợp cần thiết phải
sửa đổi, bên mời thầu phải thực hiện sửa đổi thông báo mời thầu, thông báo mời chào hàng đã đăng tải trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và đính kèm, đăng tải tài liệu sửa đổi hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu cùng với thông báo mời thầu, thông báo mời chào hàng sửa đổi Chi tiết các bước thực hiện được xem trong tài liệu hướng dẫn sử dụng được đăng tải trên trang chủ hệ thống mạng đấu thầu quốc gia Các nhà thầu có ý định tham dự thầu cần thường xuyên cập nhật để đảm bảo cập
nhật được hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất mới (nếu có)
- Trường hợp nhà thầu muốn làm rõ hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu thì gửi văn
bản đề nghị đến bên mời thầu để xem xét và xử lý
Trang 302.3.8 Nộp hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất
- Trước khi nộp hồ sơ dự thầu nhà thầu thực hiện bảo đảm dự thầu theo quy định của hồ sơ mời thầu
- Đối với một gói thầu, nhà thầu chỉ nộp hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất một lần trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia Trường hợp liên danh, thành viên đứng đầu liên danh sẽ đại diện liên danh nộp hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất qua mạng
- Nhà thầu sử dụng chứng thư số đăng nhập vào hệ thống mạng đấu thầu quốc gia để nộp hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất qua hệ thống mạng đấu thầu quốc gia Đối
với đấu thầu hạn chế, chỉ những nhà thầu trong danh sách ngắn mới có thể nộp hồ
sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất qua hệ thống mạng đấu thầu quốc gia Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia phải phản hồi cho nhà thầu là đã nộp hồ sơ thành công hay không thành công đồng thời ghi lại các thông tin sau đây về việc nộp hồ sơ dự thầu của nhà thầu: thông tin về bên gửi, bên nhận, thời điểm gửi, trạng thái gửi, số file đính kèm trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia làm căn cứ giải quyết tranh chấp (nếu có)
- Nhà thầu phải nhập, đính kèm các tệp tin của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất và
gửi đến bên mời thầu qua hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, các thông tin, tệp tin bao gồm:
+ Đơn dự thầu theo mẫu trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia
+ Thỏa thuận liên danh (nếu có);
+ Bảo lãnh dự thầu thực hiện theo hồ sơ mời thầu;
- Các tệp tin khác của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất Trường hợp có thư giảm giá, thư giảm giá phải được đính kèm và nộp qua mạng Các tệp tin đính kèm phải phù hợp với quy định tại
Trường hợp có sự sai khác giữa thông tin trong đơn dự thầu trên mạng và tệp tin của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất đính kèm thì căn cứ vào thông tin trên đơn dự
thầu trên mạng
- Nhà thầu chỉ nộp hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất một lần trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia
Trang 312.3.9 Mở thầu
- Hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất nộp trước thời điểm đóng thầu sẽ được bên
mời thầu giải mã và mở trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia tại thời điểm mở
thầu
- Bên mời thầu đăng nhập vào hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và sử dụng khóa bí mật của gói thầu để giải mã đơn dự thầu, các file hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề
xuất nộp trước thời điểm đóng thầu Sau khi giải mã, các nội dung của hồ sơ dự
thầu, hồ sơ đề xuất sẽ được hệ thống mạng đấu thầu quốc gia tự động ghi lại trong biên bản mở thầu, bao gồm:
+ Thông tin về gói thầu: Số thông báo mời thầu; Tên gói thầu; Tên chủ đầu
tư, bên mời thầu; Hình thức lựa chọn nhà thầu; Loại hợp đồng;- Thời gian hoàn thành mở thầu; Tổng số nhà thầu tham dự
+ Thông tin về các nhà thầu tham dự: Mã số doanh nghiệp hoặc số Đăng ký kinh doanh của nhà thầu; Tên nhà thầu; Giá dự thầu; Ngày hết hiệu lực của hồ sơ dự
thầu; Giá trị bảo đảm dự thầu (nếu có); Ngày hết hiệu lực của bảo đảm dự thầu (nếu có)
- Biên bản mở thầu được đăng tải công khai trên hệ thống mạng đấu thầu
quốc gia trong khoảng thời gian không quá 02 giờ kể từ thời điểm đóng thầu Bất kỳ
tổ chức, cá nhân nào quan tâm cũng có thể truy cập và xem được biên bản mở thầu trên
2.3.10 Đánh giá hồ sơ dự thầu
- Kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ dự thầu, bao gồm:
+ Kiểm tra số lượng bản gốc, bản chụp hồ sơ dự thầu;
+ Kiểm tra các thành phần của hồ sơ dự thầu, bao gồm: Đơn dự thầu, thỏa thuận liên danh (nếu có), giấy ủy quyền ký đơn dự thầu (nếu có); bảo đảm dự thầu; các tài liệu chứng minh tư cách hợp lệ; tài liệu chứng minh năng lực và kinh nghiệm; đề xuất về kỹ thuật; đề xuất về tài chính và các thành phần khác thuộc hồ
sơ dự thầu;
Trang 32+ Kiểm tra sự thống nhất nội dung giữa bản gốc và bản chụp để phục vụ quá trình đánh giá chi tiết hồ sơ dự thầu
- Đánh giá tính hợp lệ của hồ sơ dự thầu: Hồ sơ dự thầu của nhà thầu được đánh giá là hợp lệ khi đáp ứng đầy đủ các nội dung sau đây:
+ Có đơn dự thầu được đại diện hợp pháp của nhà thầu ký tên, đóng dấu (nếu có) theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu; thời gian thực hiện gói thầu nêu trong đơn dự
thầu phải phù hợp với đề xuất về kỹ thuật; giá dự thầu ghi trong đơn dự thầu phải cụ
thể, cố định bằng số, bằng chữ và phải phù hợp, logic với tổng giá dự thầu ghi trong
biểu giá tổng hợp, không đề xuất các giá dự thầu khác nhau hoặc có kèm theo điều
kiện gây bất lợi cho chủ đầu tư, bên mời thầu Đối với nhà thầu liên danh, đơn dự
thầu phải do đại diện hợp pháp của từng thành viên liên danh ký tên, đóng dấu (nếu có) hoặc thành viên đứng đầu liên danh thay mặt liên danh ký đơn dự thầu theo phân công trách nhiệm trong văn bản thỏa thuận liên danh;
+ Hiệu lực của hồ sơ dự thầu đáp ứng yêu cầu theo quy định trong hồ sơ mời
thầu;
+ Có bảo đảm dự thầu với giá trị và thời hạn hiệu lực đáp ứng yêu cầu của hồ
sơ mời thầu Đối với trường hợp quy định bảo đảm dự thầu theo hình thức nộp thư
bảo lãnh thì thư bảo lãnh phải được đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam ký tên với giá
trị và thời hạn hiệu lực, đơn vị thụ hưởng theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu;
+ Không có tên trong hai hoặc nhiều hồ sơ dự thầu với tư cách là nhà thầu chính (nhà thầu độc lập hoặc thành viên trong liên danh);
+ Có thỏa thuận liên danh được đại diện hợp pháp của từng thành viên liên danh ký tên, đóng dấu (nếu có);
+ Nhà thầu không đang trong thời gian bị cấm tham gia hoạt động đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu;
+ Nhà thầu bảo đảm tư cách hợp lệ theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 của Luật Đấu thầu Nhà thầu có hồ sơ dự thầu hợp lệ được xem xét, đánh giá về năng lực và kinh nghiệm
Trang 33- Đánh giá về năng lực và kinh nghiệm:
+ Việc đánh giá về năng lực và kinh nghiệm thực hiện theo tiêu chuẩn đánh giá quy định trong hồ sơ mời thầu;
+ Nhà thầu có năng lực và kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu được xem xét, đánh giá về kỹ thuật
- Đánh giá về kỹ thuật và giá:
+ Việc đánh giá về kỹ thuật thực hiện theo tiêu chuẩn và phương pháp đánh giá quy định trong hồ sơ mời thầu;
+ Nhà thầu đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật được xem xét xác định giá thấp nhất (đối với trường hợp áp dụng phương pháp giá thấp nhất), giá đánh giá (đối với trường hợp áp dụng phương pháp giá đánh giá)
- Sau khi lựa chọn được danh sách xếp hạng nhà thầu, tổ chuyên gia lập báo cáo gửi bên mời thầu để xem xét Trong báo cáo phải nêu rõ các nội dung sau đây: + Danh sách nhà thầu được xem xét, xếp hạng và thứ tự xếp hạng nhà thầu; + Danh sách nhà thầu không đáp ứng yêu cầu và bị loại; lý do loại bỏ nhà
luật về đấu thầu dẫn đến có cách hiểu không rõ hoặc khác nhau trong quá trình thực
hiện hoặc có thể dẫn đến làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu; đề xuất biện pháp
xử lý
2.3.11 Thương thảo hợp đồng
- Nhà thầu xếp hạng thứ nhất được mời đến thương thảo hợp đồng Trường
hợp nhà thầu được mời đến thương thảo hợp đồng nhưng không đến thương thảo
hoặc từ chối thương thảo hợp đồng thì nhà thầu sẽ không được nhận lại bảo đảm dự
thầu
- Việc thương thảo hợp đồng phải dựa trên cơ sở sau đây:
Trang 34+ Báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu;
+ Hồ sơ dự thầu và các tài liệu làm rõ hồ sơ dự thầu (nếu có) của nhà thầu; + Hồ sơ mời thầu
- Nguyên tắc thương thảo hợp đồng:
+ Không tiến hành thương thảo đối với các nội dung mà nhà thầu đã chào thầu theo đúng yêu cầu của hồ sơ mời thầu;
+ Việc thương thảo hợp đồng không được làm thay đổi đơn giá dự thầu của nhà thầu sau khi sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch và trừ đi giá trị giảm giá (nếu có) Trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu và thương thảo hợp đồng, nếu phát hiện
khối lượng mời thầu nêu trong bảng tiên lượng mời thầu thiếu so với hồ sơ thiết kế thì bên mời thầu yêu cầu nhà thầu phải bổ sung khối lượng công việc thiếu đó trên
cơ sở đơn giá đã chào; trường hợp trong hồ sơ dự thầu chưa có đơn giá thì bên mời
thầu báo cáo chủ đầu tư xem xét, quyết định việc áp đơn giá nêu trong dự toán đã phê duyệt đối với khối lượng công việc thiếu so với hồ sơ thiết kế hoặc đơn giá của nhà thầu khác đã vượt qua bước đánh giá về kỹ thuật nếu đơn giá này thấp hơn đơn giá đã phê duyệt trong dự toán gói thầu;
+ Việc thương thảo đối với phần sai lệch thiếu thực hiện theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 17 của Nghị định 63/2014/NĐ-CP
- Nội dung thương thảo hợp đồng:
+ Thương thảo về những nội dung chưa đủ chi tiết, chưa rõ hoặc chưa phù
hợp, thống nhất giữa hồ sơ mời thầu và hồ sơ dự thầu, giữa các nội dung khác nhau trong hồ sơ dự thầu có thể dẫn đến các phát sinh, tranh chấp hoặc ảnh hưởng đến trách nhiệm của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng;
+ Thương thảo về các sai lệch do nhà thầu đã phát hiện và đề xuất trong hồ sơ
dự thầu (nếu có), bao gồm cả các đề xuất thay đổi hoặc phương án thay thế của nhà
thầu nếu trong hồ sơ mời thầu có quy định cho phép nhà thầu chào phương án thay
thế;
+ Thương thảo về nhân sự đối với gói thầu xây lắp, hỗn hợp:Trong quá trình thương thảo, nhà thầu không được thay đổi nhân sự chủ chốt đã đề xuất trong hồ sơ
Trang 35dự thầu để đảm nhiệm các vị trí chủ nhiệm thiết kế, chủ nhiệm khảo sát (đối với gói
thầu xây lắp, hỗn hợp có yêu cầu nhà thầu phải thực hiện một hoặc hai bước thiết kế trước khi thi công), vị trí chỉ huy trưởng công trường, trừ trường hợp do thời gian đánh giá hồ sơ dự thầu kéo dài hơn so với quy định hoặc vì lý do bất khả kháng mà các vị trí nhân sự chủ chốt do nhà thầu đã đề xuất không thể tham gia thực hiện hợp đồng Trong trường hợp đó, nhà thầu được quyền thay đổi nhân sự khác nhưng phải
bảo đảm nhân sự dự kiến thay thế có trình độ, kinh nghiệm và năng lực tương đương hoặc cao hơn với nhân sự đã đề xuất và nhà thầu không được thay đổi giá dự
thầu;Thương thảo về các vấn đề phát sinh trong quá trình lựa chọn nhà thầu (nếu có) nhằm mục tiêu hoàn thiện các nội dung chi tiết của gói thầu;
+ Thương thảo về các nội dung cần thiết khác
- Trong quá trình thương thảo hợp đồng, các bên tham gia thương thảo tiến hành hoàn thiện dự thảo văn bản hợp đồng; điều kiện cụ thể của hợp đồng, phụ lục
hợp đồng gồm danh mục chi tiết về phạm vi công việc, biểu giá, tiến độ thực hiện (nếu có)
- Trường hợp thương thảo không thành công, bên mời thầu báo cáo chủ đầu tư xem xét, quyết định mời nhà thầu xếp hạng tiếp theo vào thương thảo; trường hợp thương thảo với các nhà thầu xếp hạng tiếp theo không thành công thì bên mời thầu báo cáo chủ đầu tư xem xét, quyết định hủy thầu theo quy định tại Khoản 1 Điều 17
của Luật Đấu thầu
2.3.12 Trình, thẩm định, phê duyệt và công khai kết quả lựa chọn nhà thầu
- Trên cơ sở báo cáo kết quả đánh giá hồ sơ dự thầu, bên mời thầu trình kết
quả lựa chọn nhà thầu, trong đó nêu rõ ý kiến của bên mời thầu về các nội dung đánh giá của tổ chuyên gia
- Kết quả lựa chọn nhà thầu phải được thẩm định theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 4 Điều 106 của Nghị định số 63/2014/NĐ-CP này trước khi phê duyệt
- Kết quả lựa chọn nhà thầu phải được phê duyệt bằng văn bản và căn cứ vào
tờ trình phê duyệt, báo cáo thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu
Trang 36- Trường hợp lựa chọn được nhà thầu trúng thầu, văn bản phê duyệt kết quả
lựa chọn nhà thầu phải bao gồm các nội dung sau đây: Tên nhà thầu trúng thầu; Giá trúng thầu; Loại hợp đồng; Thời gian thực hiện hợp đồng; Các nội dung cần lưu ý (nếu có)
- Trường hợp hủy thầu theo quy định tại Khoản 1 Điều 17 của Luật Đấu thầu, trong văn bản phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu hoặc văn bản quyết định hủy
thầu phải nêu rõ lý do hủy thầu và trách nhiệm của các bên liên quan khi hủy thầu
- Bên mời thầu nhập kết quả đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất lên hệ
thống mạng đấu thầu quốc gia Kết quả lựa chọn nhà thầu được đăng tải công khai trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia ngay sau khi có quyết định phê duyệt kết quả
lựa chọn nhà thầu
- Các thông tin cần phải nhập vào hệ thống mạng đấu thầu quốc gia bao gồm: + Báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất;
+ Báo cáo thẩm định;
+ Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu;
+ Các thông tin khác có liên quan
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lựa chọn nhà thầu
2.4.1 Năng lực của chủ đầu tư
Năng lực về nhân sự của bên mời thầu rất quan trọng, họ phải là những người rất am hiểu về các quy định đấu thầu điện tử qua mạng đồng thời phải có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực của gói thầu Năng lực của chủ đầu tư đóng vai trò then chốt, là nhân tố quyết định đến thành quả của mọi công việc, bất kể là trong lĩnh vực nào Đấu thầu điện tử cũng vậy, cho dù quy trình đấu thầu có hoàn thiện đến đâu mà không được điều hành và thực hiện bởi những người có năng lực thì hoạt động đấu thầu cũng trở thành vô nghĩa Trong công tác đấu thầu điện tử, khi đưa ra yêu cầu cho bên tư vấn lập hồ sơ mời thầu, đôi lúc đưa ra những yêu cầu về gói thầu quá cao không bám sát các yêu cầu đã được duyệt Điều này dẫn đến không lựa chọn được nhà thầu ngay từ lần đấu thầu đầu tiên mà phải làm lại Đó là
do phía chủ đầu tư muốn có những nhà thầu hoàn hảo nhất tham gia đấu thầu,
Trang 37nhưng khi đó không phải nhà thầu nào cũng đáp ứng được các yêu cầu quá cao như vậy Và khi đó được một nhà thầu vượt qua được giai đoạn đánh giá về kỹ thuật, mặc dù các nhà thầu tham dự đều là những nhà thầu tiềm năng, có uy tín Trong đấu thầu điện tử qua mạng, chủ đầu tư thường căn cứ vào một số tiêu chí để đánh giá, lựa chọn nhà thầu trúng thầu: giá bỏ thầu; biện pháp kỹ thuật, chất lượng công trình; tiến độ thi công; năng lực và kinh nghiệm nhà thầu; biện pháp tổ chức thi công, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh môi trường
Hiện nay vẫn thiếu những chuyên viên giỏi về lĩnh vực kỹ thuật, nên khi tổ chức chấm thầu rất khó khăn nhiều khi làm ảnh hưởng đến thời gian và chất lượng của kết quả đấu thầu
2.4.2 Năng lực các nhà thầu xây lắp
Nhà thầu xây lắp là lực lượng tạo ra sự thành công hay thất bại của các cuộc đấu thầu điện tử Không có các nhà thầu thì không có các cuộc đấu thầu và cũng chẳng cần có các quy định về đấu thầu điện tử Tuy nhiên, chất lượng, năng lực của các nhà thầu cũng góp phần không nhỏ vào chất lượng của các cuộc đấu thầu, đặc biệt là trong đấu thầu điện tử qua mạng Năng lực đấu thầu của doanh nghiệp là toàn bộ năng lực về tài chính, thiết bị, công nghệ, lao động, marketing, tổ chức quản
lý mà doanh nghiệp có thể sử dụng để tạo ra lợi thế của mình so với các đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững Trong đấu thầu điện tử thì năng lực đấu thầu của doanh nghiệp chính là thị phần của nhà thầu xây dựng, doanh thu, lợi nhuận từ hoạt động đấu thầu, năng lực tài chính của doanh nghiệp, nguồn nhân lực có trình độ cao có kinh nghiệm, phương pháp quản lý, bảo vệ môi trường, uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp Những yếu
tố trên tạo cho doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh có nghĩa là tạo cho doanh nghiệp
có khả năng triển khai các hoạt động với hiệu suất cao hơn đối thủ cạnh tranh, tạo ra giá trị khác biệt cho khách hàng dựa trên những sự khác biệt hóa trong các yếu tố của chất lượng hoặc chi phí thấp hoặc cả hai
Năng lực tổ chức sản xuất của một số nhà thầu chưa tốt, còn hạn chế về tổ chức điều hành, làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công Trong nhiều trường hợp, năng
Trang 38lực về thiết bị, tài chính của một số nhà thầu chưa tốt dẫn đến trong quá trình thực hiện gói thầu không đảm bảo tiến độ đã cam kết, chất lượng thi công chưa đảm bảo yêu cầu, và cuối cùng dẫn đến bị thay thế bởi các nhà thầu khác vào thi công Điều
đó rất ảnh hưởng tới việc thi công công trình và việc quản lý của chủ đầu tư đối với các nhà thầu
Khi quy mô của gói thầu lớn đòi hỏi năng lực của nhà thầu tham gia dự thầu cũng phải được nâng cao Do vậy, việc liên danh, thuê thầu phụ để thực hiện gói thầu là rất phổ biến trong các cuộc đấu thầu Nhưng nhiều khi, cùng với giá cả biến động, quan hệ thầu chính, thầu phụ không sòng phẳng dẫn đến ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ của gói thầu, ảnh hưởng đến công tác nghiệm thu, hoàn công và thanh toán giải ngân Vấn đề gây nhiều tranh cãi hiện nay là tình trạng nhà thầu bỏ giá quá thấp cũng đã xảy ra Việc nhà thầu bỏ giá thấp ảnh hưởng rất lớn đến việc lựa chọn nhà thầu Vì chưa chắc các nhà thầu có giá thấp đã có những giải pháp kỹthuật tốt Mục tiêu của việc đấu thầu là tìm ra được các nhà thầu thực hiện tốt việc xây dựng công trình và tiết kiệm ngân sách cho Nhà nước Tuy nhiên theo quy định thì nhà thầu nào có giá đánh giá thấp nhất sẽ được chọn, do đó không thể làm trái với quy định của Nhà nước Nên khi nhà thầu đưa giá thấp, nhưng yêu cầu về mặt kỹ thuật chỉ đáp ứng tối thiểu thì vẫn được chọn Trong khi nhà thầu khác có thể đưa ra giá cao hơn một chút nhưng có biện pháp kỹ thuật tiên tiến thì lại không được chọn.Cạnh tranh giữa các nhà thầu trong đấu thầu điện tử qua mạng là quá trình doanh nghiệp tìm kiếm thông tin về đấu thầu điện tử, tìm kiếm thị trường sau
đó tiến hành lựa chọn các gói thầu phù hợp với năng lực doanh nghiệp, đưa ra các giải pháp về tài chính và kỹ thuật các biện pháp thi công để tham gia đấu thầu Nếu trúng thầu thì tiến hành ký kết và thực hiện hợp đồng cho tới khi bàn giao công trình cho Chủ đầu tư Như vậy, muốn giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh gay go này thì nhà thầu phải có thực lực về mọi mặt, không ngừng phát huy điểm mạnh, phải tạo ra được sự khác biệt đối với các nhà thầu khác
Trang 392.4.3 Năng lực các tổ chức tư vấn
2.4.3.1 Năng lực của tư vấn thiết kế
Ngoài một số ít các doanh nghiệp tư vấn có truyền thống, bề dày kinh nghiệm, còn lại là các doanh nghiệp tư vấn nhỏ lẻ mới hình thành trong những năm gần đây, còn yếu về năng lực Hiện nay thiếu các tư vấn chất lượng cao ở tầm vĩ mô trong việc đề xuất các chủ trương đầu tư xây dựng, quy hoạch, lập dự án, đề xuất các giải pháp kỹ thuật công nghệ chính xác, hợp lý, khả thi Trong nhiều trường hợp đã để xảy ra các sai sót, phải điều chỉnh cho quá trình xây dựng gây tốn kém, lãng phí, ảnh hưởng lớn đến chất lượng công trình Nhiều tổ chức tư vấn do đòi hỏi bức bách của công việc mà hình thành, chưa có những định hướng, chiến lược phát triển rõ rệt Các Công ty tư vấn xuất hiện tràn lan, đã bắt đầu có hiện tượng một số doanh nghiệp tư vấn về việc thực hiện dịch vụ theo kiểu môi giới hoặc thuê mượn, thiếu thực lực gây hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động tư vấn Chính
vì vậy trong quá trình lập dự án, thiết kế công trình còn có nhiều thiếu sót:
a)Tư vấn còn lệ thuộc quá nhiều vào ý chí của các cơ quan quản lý Nhất là các dự án đi qua các địa phương, các tư vấn đều lập theo đề nghị của địa phương về quy mô, hướng tuyến mà không chủ động theo đề xuất của mình, dẫn đến khi lập phải điều chỉnh lại
b) Công tác khảo sát điều tra địa chất, thủy văn không chính xác, giải pháp thiết kế đưa ra ở một số dự án không phù hợp, các công trình đang thi công dở dang phải thay đổi giải pháp kỹ thuật, phải tạm dừng để điều chỉnh thiết kế hoặc thiết kế bổsung Hơn nữa hiện nay nhu cầu đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông lớn, các tổ chức tư vấn không phát triển thêm, vẫn chỉ là các đơn vị trước đây, nhiều đơn vị chưa đầu tư phát triển về chiều sâu Trong khi đó nhiều tổ chức tư vấn tư nhân được thành lập nhưng năng lực còn hạn chế, thiếu thiết bị khảo sát, phòng thí nghiệm, thiếu chuyên gia giỏi, chưa thực hiện được các dự án lớn, kỹthuật phức tạp
Do vậy trong nhiều năm qua, công tác tư vấn ở các công trình chủ yếu đang sử dụng
ở hình thức chọn chỉ định thầu, chưa áp dụng được việc tuyển chọn theo hình thức đấu thầu điện tử, điều này cũng là một yếu tốliên quan trực tiếp đến chất lượng thiết
Trang 40kế Trình độ tư vấn thấp sẽ dẫn tới thiếu trách nhiệm với công việc tạo ra kết quả kém như: Thiết kế kỹthuật có nhiều sai sót, dự toán tiên lượng tính thiếu làm cho công tác đấu thầu của các nhà thầu rất vất vả Trong quá trình làm hồ sơ mời thầu rất khó khăn làm ảnh hưởng đến quá trình xét thầu Nhìn chung Nhà thầu tư vấn chưa chịu trách nhiệm đến cùng đối với sản phẩm thiết kế của mình
2.4.3.2 Năng lực của tư vấn lập hồ sơ mời thầu:
Công tác chuẩn bị HSMT và tiêu chuẩn đánh giá là bước quan trọng trong quá trình đấu thầu, song trong nhiều trường hợp do chuẩn bị không tốt hoặc việc phê duyệt còn đơn giản nên đã có nhiều vướng mắc như: HSMT được chuẩn bị một cách chung chung, mập mờ gây khó hiểu cho nhà thầu cũng như cho việc đánh giá Trong đó khối lượng đưa ra sai lệch so với thiết kế; Tiêu chuẩn đánh giá không rõ ràng, không phù hợp với gói thầu Chất lượng của HSMT được hình thành bởi tiêu chuẩn đánh giá thiếu cơ sở tin cậy sẽ gây ra những thắc mắc khiếu nại Đối với tất
cả các khiếm khuyết trên thì chất lượng của HSMT mà cụ thể tiêu chuẩn đánh giá là nguyên nhân làm cho quá trình đấu thầu kéo dài thiếu tin cậy Khi có bộ HSMT kỹ
và tốt, quá trình phân tích dễ dàng đưa về cùng một mặt bằng xem xét, đảm bảo sự bình đẳng và minh bạch khi xét thầu Sự yếu kém về chất lượng khi phải đáp ứng hồ
sơ mời thầu viết kỹ và tốt sẽ thể hiện khá rõ trong hồsơ dự thầu.Bên cạnh đó HSMT được soạn kỹ và tốt dẫn tới công tác kiểm tra, giám sát và nghiệm thu trong quá trình thi công, quá trình thực hiện hợp đồng sẽ rất thuận lợi Do đó, sự yếu kém về năng lực của nhà tư vấn lập HSMT sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến công tác đấu thầu và lựa chọn nhà thầu thắng thầu