Untitled Đ¾I HàC QUÞC GIA HÀ NÞI TR¯àNG Đ¾I HàC KHOA HàC Xà HÞI VÀ NHÂN V�N KHOA TÂM LÝ HàC úûúû BÀI TẬP GIĀA KỲ BÞI CÀNH VÀ SỰ RA ĐàI CĀA NHO GIÁO NÞI DUNG CƠ BÀN CĀA HàC THUY¾T NHO GIÁO QUA CÁC GIA[.]
Trang 1Đ¾I HàC QUÞC GIA HÀ NÞI TR¯àNG Đ¾I HàC KHOA HàC Xà HÞI VÀ NHÂN VN
Hác phần: Lịch sử văn minh thế giới Lßp hác phần: HIS1053 7
GiÁng viên: TS Lý Tưßng Vân Sinh viên:
Nguyễn Thị Thanh Quỳnh – 19032062
Trang 2M þC LþC
Trang
II Hác thuy¿t Nho giáo qua các giai đo¿n phát trián 4
Trang 3I Khái nißm và nguồn gßc cāa Nho giáo
Như vậy, Nho là những hạng ngưßi học thông đạo lý của Thánh Hiền, biết được lẽ Trßi ĐÁt và Ngưßi, để hướng dẫn ngưßi ph¿i ăn á và cư xử thế nào cho hợp với Đạo Trßi, hợp với lòng ngưßi Sách Pháp Ngôn có câu: <Thông Thiên định Địa viết Nho= Nghĩa là: Ngưßi biết rõ c¿ Thiên văn, Địa lý, thì mới gọi là Nho Phàm những ngưßi Nho học thì chuyên về mặt áp dụng thực tế, chớ không chú trọng nhiều về mặt lý tưáng Bái vậy, từ xưa đến nay, họ là những ngưßi sẵn sàng nhập thế cuộc, gánh vác việc đßi, làm ích nước lợi dân, khác hẳn với những tu sĩ Phật giáo hay Lão giáo, chỉ biết xuÁt thế, lo tu độc thiện
kỳ thân
GIÁO: Dạy, tôn giáo, một mối đạo
NHO GIÁO là một tôn giáo hay một học thuyết có hệ thống và có phương pháp, dạy
về Nhân đạo, tức là dạy về đạo làm một con ngưßi trong gia đình và trong xã hội Hệ thống của Nho giáo thì theo chủ nghĩa: <Thiên Địa Vạn vật đồng nhÁt thể=, nghĩa là: Trßi ĐÁt và muôn vật đều đồng một thể với nhau Phương pháp của Nho giáo là phương pháp chứng luận, lÁy Thiên lý lưu hành làm căn b¿n Như vậy, học thuyết của Nho giáo có 3 điều cốt yếu:
- Về Tín ngưỡng: Luôn luôn tin rằng Thiên Nhân tương dữ, nghĩa là: Trßi và Ngưßi tương quan với nhau
- Về Thực hành: LÁy sự thực nghiệm chứng minh làm trọng
- Về Trí thức: LÁy trực giác làm cái khiếu để soi rọi tìm hiểu sự vật
Nếu ai đã hiểu tưßng tận tôn chỉ của Nho giáo thì đều công nhận Nho giáo là một tôn giáo rÁt cao minh của nhân loại, đã phát huy ra từ xưa tới nay Tuy rằng ngưßi ta đem ra thi hành không được hoàn toàn, và có nhiều ngưßi hiểu lầm, song ai đã tâm đắc cái tinh thần Áy thì cũng đạt được một nhân cách quí trọng đặc biệt (Hà Hoàng Kiệm, 2016)
Trang 42 Nguồn gßc cāa Nho giáo
Nho giáo bắt nguồn từ thßi thái cổ á nước Tàu Thuá đó, vua Phục Hy, là một Thánh Vương đắc đạo, trông thÁy được các hiện tượng trong cõi Hư linh Ngài nhìn thÁy Long
Mã có bức đồ trên lưng gồm những chÁm đen trắng, nổi lên giữa sông Hoàng Hà, mà biết được lẽ Âm Dương, chế ra Tiên Thiên Bát Quái, cắt nghĩa sự biến hóa của Trßi ĐÁt để làm nguyên tắc dạy ngưßi Những vạch đơn gi¿n của Bát Quái Áy được xem là đầu mối của văn
tự về sau này
Vua Phục Hy lại còn dạy dân nuôi súc vật để sai khiến, làm lưới để đánh cá, nuôi tằm lÁy tơ làm quần áo, chế đàn cầm đàn sắt, dạy dân lễ nghĩa, phép cưới vợ g¿ chồng (dùng một đôi da thú làm lễ, vì á thßi kỳ ngư lạp, da thú là quí), từ đó mới có danh từ gia tộc Sau, đến đßi vua Hoàng Đế (Hiên Viên Huỳnh Đế) mới chế ra áo mão, và sai Ông Thương Hiệt chế ra chữ viết
Đó là khái thủy của Nho giáo, thành hình do thực tế kết hợp với huyền lý của Trßi ĐÁt Nho giáo lÁy đạo Trßi làm khuôn mẫu, dạy ngưßi thuận theo lẽ Trßi, còn nghịch với Trßi thì ph¿i chết Nho giáo đã giúp nước Tàu thßi Thượng cổ được hòa bình, dân chúng trên thuận dưới hòa, tạo ra một nền luân lý có căn b¿n vững chắc Tiếp theo đến đßi nhà Chu, vua Văn Vương và con của Ngài là Chu Công Đán, tiếp tục khuếch trương Nho giáo, diễn gi¿i Kinh Dịch do Phục Hy truyền lại, hệ thống hóa lễ nghi và sự tế tự
Vào cuối thßi nhà Chu, đßi vua Linh Vương, năm 551 trước Tây lịch, có Đức Khổng
Tử ra đßi Đức Khổng Tử chỉnh đốn và san định kinh sách, phục hưng Nho giáo, tạo thành một giáo thuyết có hệ thống chặt chẽ, xứng đáng đứng ngang hàng với Lão giáo và Phật giáo Đức Khổng Tử được xem là Giáo Chủ Nho giáo
Đạo Nho, kể từ khi Đức Khổng Tử phục hưng, nối tiếp về sau được các vị Thánh nhân như Tử Tư, Mạnh Tử, phát huy đến độ rực rỡ, rồi sau đó dần dần suy tàn theo thßi gian, vì không có bậc tài giỏi nối tiếp xiển dương, cuối cùng trá thành một môn học từ chương dành cho sĩ tử leo lên đưßng hoạn lộ Cái tinh túy của Nho giáo đã bị vùi lÁp và Nho giáo được sử dụng một cách lệch lạc theo ý riêng của kẻ phàm trần
II Hác thuy¿t Nho giáo qua các giai đo¿n phát trián
Nhìn chung, Nho giáo Trung Hoa được hình thành và phát triển qua 3 giai đoạn:
+ Nho giáo nguyên thuỷ (hay Nho giáo thßi tiên Tần) với tư tưáng của Khổng Tử,
Mạnh Tử
Trang 5+ Nho giáo thái Hán được bổ sung bái tư tưáng của Đổng Trọng Thư
+ Nho giáo thái Tßng với sự bổ sung hoàn thiện của Chu Hy, Chu Đôn Di
1 Nho giáo nguyên thuỷ thái Tiên Tần (do Khổng Tử sáng lập, Mạnh Tử thừa kế, phát huy)
Có thể khẳng định bÁt kể tư tưáng, học thuyết nào cũng được hình thành trong một hoàn c¿nh, điều kiện lịch sử nhÁt định Hoàn c¿nh, điều kiện lịch sử nào sẽ cho ra đßi tư tưáng học thuyết tương tự với nó
Tư tưáng học thuyết luôn mang tính lịch sử cụ thể Nho giáo, học thuyết của Khổng
Tử (sinh năm 551 trước Công nguyên, mÁt năm 479 trước Công nguyên), còn gọi là Khổng giáo, trong đó có bao hàm tư tưáng trị quốc cũng là s¿n phẩm tÁt yếu của lịch sử Thủy tổ
và những tác gi¿ của nó sinh trưáng trong thßi đại Xuân Thu - Chiến quốc từ kho¿ng năm
770 đến năm 221 trước Công nguyên (Hà Thúc Minh, 1999) Mạnh Tử (sinh năm 372 trước Công nguyên, mÁt năm 289 trước Công nguyên) là ngưßi bổ sung, phát triển rÁt xuÁt sắc Nho giáo, vì thế Nho giáo này còn được gọi là Nho giáo Khổng Mạnh, hoặc học thuyết Khổng Mạnh Học thuyết chính trị, triết học nổi tiếng trong thßi cổ đại mang tên Khổng Mạnh của đÁt nước Trung Hoa và của toàn nhân loại được hình thành trên những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và những tiền đề văn hóa, tư tưáng nhÁt định (Bùi Quốc Hưng,
2018)
1.1 Bßi cÁnh kinh t¿, chính trß, xã hßi
Vß kinh t¿ - xã hßi: ĐÁt nước Trung Quốc cổ đại thßi kỳ này đã được lịch sử ghi lại
sự kiện tiến bộ mới, quan trọng nhÁt trong lĩnh vực kinh tế là sự ra đßi của đồ sắt Thßi Xuân Thu ứng với triều đại Đông Chu Gọi là Đông Chu vì nhà Chu đóng đô á phía Đông Gọi là thßi đại Xuân Thu vì lịch sử Trung Quốc thßi này được ph¿n ánh trong bộ sách mang tên là Xuân Thu do Khổng Tử biên soạn, đó là quyển lịch sử của nước Lỗ Niên đại của thßi Xuân Thu được tính từ năm 772 trước Công nguyên và chÁm dứt vào năm 481 trước Công nguyên (Lương Ninh, 2014) Kho¿ng giữa thßi Xuân Thu đã có bằng chứng ngưßi Trung Quốc làm nghề luyện sắt
Đến thßi Chiến Quốc là thßi đại kế tiếp sau thßi đại Xuân Thu á Trung Quốc Sử liệu Trung Quốc coi năm 403 trước Công nguyên là thßi điểm má đầu cho thßi đại Chiến Quốc
và năm 221 trước Công nguyên là năm kết thúc thßi đại lịch sử này Gọi là thßi đại Chiến Quốc, bái vì, trong giai đoạn lịch sử đó đÁt nước Trung Quốc nổ ra nhiều cuộc chiến tranh
Trang 6giữa các nước nhỏ, nhằm thôn tính, thống trị lẫn nhau, các nước đánh nhau, tranh giành đÁt đai liên miên, rÁt ác liệt (Lương Ninh, 2014)
Trong hoàn c¿nh chiến tranh như thế, đồ sắt á Trung Quốc cổ đại càng được sử dụng phổ biến, nghề luyện sắt, chế tạo công cụ lao động bằng sắt phát triển Ngưßi Trung Quốc
cổ đại, một mặt, tiến hành chiến tranh, cướp bóc, ăn hiếp lẫn nhau; mặt khác, họ còn tỏ ra
là ngưßi thông minh chăm lo lao động s¿n xuÁt, phát triển kinh tế để có thực túc binh cưßng, quân hùng tướng mạnh Công cụ lao động bằng sắt đã góp phần làm cho kinh tế, s¿n xuÁt nông nghiệp á Trung Quốc cổ đại phát triển trong hoàn c¿nh chiến tranh là vì lý
do đó
Ngưßi Trung Quốc thßi Xuân Thu - Chiến Quốc còn biết sử dụng sức kéo của súc vật, sử dụng súc vật làm công cụ lao động s¿n xuÁt nông nghiệp Họ còn chú trọng làm thủy lợi phục vụ cho cÁy trồng, s¿n xuÁt ra của c¿i vật chÁt nói chung Nhß có công cụ lao động bằng sắt do nghề luyện, chế tạo từ sắt phát triển mà nghề thủ công nghiệp, nghề mộc
á Trung Quốc thßi cổ đại, giai đoạn Xuân Thu, Chiến Quốc cũng có bước phát triển đáng
kể
Hoạt động thương nghiệp, buôn bán trong thßi Xuân Thu, Chiến Quốc của Trung Quốc cổ đại cũng phát triển Vì thế, trong xã hội đã có đội ngũ nhà buôn lớn rÁt nhiều tiền Tiền tệ đã làm xuÁt hiện nạn cho vay nặng lãi, trao đổi hàng hóa, tr¿ công lao động bằng tiền, nộp thuế bằng tiền
Kinh tế thßi Xuân Thu, Chiến Quốc phát triển còn làm xuÁt hiện nhiều thành phố lớn phồn hoa, đông đúc á Trung Quốc thßi cổ (Lương Ninh, 2014) Kinh tế á đâu, bao giß cũng là nhân tố có vai trò quyết định, nền t¿ng cho sự n¿y sinh các nhân tố khác của đßi sống xã hội, bÁt kể ngưßi ta nhận thức đến vai trò đó của kinh tế sớm hay muộn, thậm chí
là chưa hoặc không nhận thức được vai trò quan trọng đó của kinh tế
Nền kinh tế, s¿n xuÁt phát triển trong thßi Xuân Thu, Chiến Quốc như vậy đã dẫn đến quan hệ xã hội, giai cÁp á nơi đÁy vào thßi gian đó có sự biến đổi to lớn Thßi Tây Chu, đÁt đai dưới gầm trßi Trung Quốc, đâu đâu cũng là đÁt của vua Nhưng do s¿n xuÁt kinh tế phát triển, nhiều thế lực xã hội giàu mạnh lên, không hoàn toàn chịu sự ban cÁp đÁt đai của vua nước lớn hoặc vua chư hầu như trước nữa Họ đã có đÁt đai tư riêng của họ ngoài phần được vua phong cÁp cho Có những vua chư hầu thế lực suy yếu dần, các đại phu có thế lực nổi lên tranh giành đÁt đai làm thành đÁt đai riêng của họ
Trang 7Chế độ, luật về đÁt đai trong xã hội cũng có sự thay đổi lớn do nền s¿n xuÁt, kinh tế trong xã hội phát triển Trước đây, như trên nói, ruộng đÁt là của vua, vua ban cho quan chức, ngưßi nào có công thì ngưßi Áy được Nay, nhiều ngưßi trá nên giàu có do s¿n xuÁt, buôn bán, cho vay lÁy lãi phát triển, ngưßi có kh¿ năng, có điều kiện mua đÁt đai làm tài s¿n sá hữu riêng Trước đây trong xã hội có chế độ tỉnh điền, tức là ruộng đÁt được chia cắt ra giống như chữ <tỉnh= gồm hai nét ngang, một nét phẩy và một nét sổ, được chia ra thành 9 phần, thì 8 phần xÁu xung quanh chia cÁp cho thưßng dân, phần thứ 9 á giữa tốt, đẹp nhÁt dân ph¿i cÁy, trồng, thu hoạch rồi cống nộp cho các quan chức trong xã hội, gọi
là cho việc công
Đến đßi Xuân Thu, Chiến Quốc nhÁt là đến giai đoạn lịch sử Trung Quốc cổ đại mang tên Chiến Quốc thì chế độ tỉnh điền nói trên đang đi đến chỗ tan rã hoàn toàn Lúc này, ruộng đÁt ngày một vào tay những địa chủ lớn tiền của nhiều, thế lực, quyền hành mạnh, nông dân càng lúc càng mÁt dần ruộng đÁt, có ngưßi không còn thước đÁt cắm dùi Xã hội Trung Quốc cổ đại thßi Xuân Thu, Chiến Quốc đã có sự phân hóa rõ và trá nên đối cực như vậy (Lương Ninh, 2014)
Trước đây cùng là hạng ngưßi dân lao động, vai trò, vị trí ngang bằng nhau, thì bây giß số đông dân chúng trá nên cùng đinh; nhiều ngưßi có sự thay đổi cực lớn và nhanh, họ thành những đại địa chủ, do thông thạo, khéo mua bán đÁt, và trao đổi hàng hóa, họ còn là những thương nhân thật sự, làm thành tầng lớp địa chủ kiêm thương nhân trong xã hội Số đông dân nghèo không có ruộng đÁt ph¿i lĩnh canh đÁt của địa chủ để cÁy trồng, ph¿i phụ thuộc vào giai cÁp, tầng lớp địa chủ kiêm thương nhân Áy
S¿n xuÁt, kinh tế phát triển, hàng hóa nhiều lên ĐÁy là tiền đề dẫn đến lưu thông hàng hóa phát triển, do đó, xuÁt hiện tầng lớp những nhà buôn lớn trong xã hội Nghề buôn bán á Trung Quốc cổ đại ph¿i nói là đã phát triển đến mức đặc biệt, tiêu biểu trên toàn thế giới à đây không chỉ có buôn bán s¿n vật, hàng hóa, gia súc, mà còn buôn bán c¿ con ngưßi, hơn nữa, buôn bán đến con ngưßi có địa vị tối cao trong xã hội, đó là buôn vua!
<Cuối thßi Chiến Quốc, nhà buôn kiêm địa chủ nổi tiếng nhÁt là Lã BÁt Vi á nước Triệu, một ngưßi đã bỏ ra một nghìn cây vàng để buôn vua, và về sau trá thành thừa tướng của nước Tần= (Lương Ninh, 2014)
Thßi kỳ Xuân Thu, Chiến Quốc, giai cÁp nô lệ á Trung Quốc cũng ít nhiều thay đổi
Nô lệ phạm tội hoặc phá s¿n ph¿i bán vợ con, hoặc b¿n thân mình làm nô lệ Nô lệ vẫn bị
áp bức, bóc lột, bị đánh đập tàn nhẫn như trước, nhưng hiện tượng chôn sống nô lệ theo
Trang 8chủ chết vào thßi này bị cho là phi lý nên đã gi¿m đi nhiều, giá nô lệ cũng đắt hơn thßi trước (Lương Ninh, 2014)
Vß chính trß: Thßi Xuân Thu, Chiến Quốc trên đÁt nước Trung Quốc cổ đại cũng có
những biến cố, sự kiện trọng đại Nhà Chu trong kho¿ng 4 thế kỷ, từ thế kỷ XI trước Công nguyên đến năm 771 trước Công nguyên đóng đô á phía Tây là thßi kỳ cưßng thịnh của
nó Đến thßi Xuân Thu, Chiến Quốc, nhà Chu đóng đô á phía Đông đã ngày càng suy yếu
đi Ngược lại, một số nước chư hầu của nhà Chu trước đây vốn nhỏ yếu buộc ph¿i thần phục, triều cống nhà Chu, thì nay ngày một lớn mạnh lên, do đó, họ tiến hành chiến tranh giữa những nước chư hầu để nhằm giành quyền làm bá chủ Trung Quốc Từ đầu thế kỷ VII trước Công nguyên đến đầu thế kỷ V trước Công nguyên, trên vũ đài chính trị Trung Quốc đã diễn ra nhiều tÁn tuồng giữa các nước nhỏ cÁu thành Trung Quốc bao la rộng lớn Các nước Áy đánh giết lẫn nhau để tranh giành quyền bá chủ Nước Trịnh là nước đi tiên phong thực hiện mưu đồ Áy Nhưng, Tề mới là nước đầu tiên giành được quyền làm bá chủ thiên hạ Nước Tề hùng mạnh, vua Tề được mÁy lần hội nghị các nước chư hầu công nhận
là bá chủ á miền hạ lưu Hoàng hà (Lương Ninh, 2014) Đến thế kỷ IV trước Công nguyên, các nước nhỏ trong Trung Quốc đÁu tranh, thôn tính lẫn nhau rÁt ác liệt Nước Tề từ hùng mạnh nhÁt một thßi, nay dần dần suy yếu, một số nước khác, trái lại, trá nên cưßng thịnh trong các cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ thiên hạ
Lịch sử có sự diễn tiến theo quy luật của nó Nước Tần trước đây đến đầu thßi Chiến Quốc còn là nước tương đối lạc hậu nhưng vua Tần có chủ trương, mưu kế vào hạng cao siêu Ông tăng cưßng trật tự trị an, khuyến khích s¿n xuÁt nông nghiệp, có trật tự trị an, có của c¿i vật chÁt nhiều, giàu lên nhß khuyến khích s¿n xuÁt nông nghiệp, đó là những điều kiện, nhân tố làm cho quốc gia ngày một cưßng thịnh, phát triển Thêm nữa, vua Tần còn
tỏ ra có phẩm chÁt chính trị theo cách riêng của ông Ông khuyến khích quân, tướng lập công BÁt cứ ai chém lÁy được một đầu phía giặc, địch thủ thì đều được thưáng tước một cÁp, muốn làm quan thì được cÁp lương Ông cho quan, tướng được nô lệ, được hưáng nhiều hay ít, cao hay thÁp, mặc quần áo sang, đẹp như thế nào đều dựa vào chức tước Pháp lệnh của vua cuối cùng được thi hành nghiêm minh (Lương Ninh, 2014)
Trên đây là những nhân tố, chủ trương có tác dụng làm cho nước Tần trá nên lớn mạnh ĐÁy cũng là nguyên nhân làm cho nhiều nước lo sợ sự phát triển Áy của Tần Nhiều nước nhỏ yếu hơn đã bàn, liên hợp lại với nhau để chống Tần
Trang 9Nước Chu nhỏ bé trong quá trình phát triển đã phân chia thành hai nước Tây Chu và Đông Chu Đến giữa thế kỷ III trước Công nguyên, hai nước nhỏ bé này cùng với nhiều nước nhược tiểu khác như Hàn, Triệu, Ngụy, Sá, Yên, Tề đều bị nước Tần hùng mạnh tiêu diệt Đến năm 221 trước Công nguyên, nước Tần hùng mạnh đã thống nhÁt Trung Quốc, kết thúc một thßi đại mang tên Chiến Quốc tranh giành, đánh giết nhau rÁt ác liệt (Lương Ninh, 2014)
Tựu trung lại, những điều kiện, hoàn c¿nh nói trên đều có ¿nh hưáng cho sự ra đßi của Nho giáo - học thuyết của Khổng Tử - trong đó bao hàm tư tưáng trị quốc
1.2 Nßi dung hác thuy¿t Nho giáo nguyên thāy
+ Đối với quỷ thần, Khổng Tử tỏ thái độ hoài nghi (<chưa biết được việc thờ người,
làm sao biết được việc thờ quỷ thần", <chưa biết được việc sống, làm sao biết được việc chết=) Tuy nhiên, ông lại rÁt coi trọng việc cúng tế, tang ma <tế thần xem như có thần=
- Vß Đ¿o đức
+ Khổng Tử hết sức coi trọng vì đạo đức là chuẩn mực duy trì trật tự xã hội
+ Đạo đức bao gồm: Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng… quan trọng nhÁt là <nhân=
<Nhân= - phạm trù rÁt rộng, đồng nghĩa với đạo đức Một mặt là lòng thương ngưßi, <điều
mình không muốn thì đừng làm cho người khác=, trái lại <mình muốn lập thân thì giúp người khác lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt= Nhân còn
ph¿i <kiềm chế mình làm đúng theo lễ= Nhân còn bao gồm: cung kính, nghiêm túc, thành thật, dũng c¿m, rộng lượng, cần cù…
+ <Lễ= không ph¿i là một tiêu chuẩn đạo đức hoàn toàn độc lập, luôn luôn gắn liền với nhân Trong mối quan hệ nhân - lễ thì lễ đóng vai trò biểu hiện của nhân, còn nhân là gốc, nội dung Ngoài ra, Lễ còn điều chỉnh đức nhân cho đúng mực Theo Khổng Tử,
<Trong các lễ thông thường, nếu xa xỉ thì chẳng bằng tiết kiệm; trong lễ tang, nếu nghi
thức đầy đủ thì chẳng bằng thương xót= Do đó, <nói về lễ đâu phải chỉ có ngọc lụa, nói
Trang 10về nhạc, đâu phải chỉ có tiếng chuông trống= Nói cách khác, <làm người mà không có lòng nhân thì thể hiện lễ ra sao? Làm người mà không có lòng nhân thì thể hiện nhạc ra sao?=
+ <Trí= và <Tín= thì Khổng Tử chưa bàn về các nội dung này nhiều Đề cập đến <trí=,
một mặt tin vào mệnh trßi, Khổng Tử cho rằng trí thức tối thượng (Luận ngữ, Quý thị, 9);
một mặt là ông thầy có kho¿ng 3000 học trò, Khổng Tử lại quan niệm <trí= không ph¿i
ngẫu nhiên mà có mà là kết qu¿ của quá trình học hỏi (Trung dung, 20) Không học thì dù
thiện tâm đến đâu cũng bị cái ngu muội, cái phóng đãng, lầm lạc, ph¿n loạn làm biến mÁt
- Vß đ°áng lßi trß n°ßc
+ VÁn đề mà Khổng Tử luôn dốc hết tâm huyết vào là việc làm cho xã hội Trung Quốc lúc bÁy giß được ổn định, và biện pháp của ông là khôi phục đưßng lối đức trị và lễ trị như thßi Tây Chu
+ Khổng Tử nói: <Cai trị dân mà dùng mệnh lệnh, đưa dân vào khuôn phép mà dùng
hình phạt thì dân có thể tránh được tội lỗi nhưng không biết liêm sỉ Cai trị dân mà dùng đạo đức, đưa dân vào khuôn phép mà dùng lễ thì dân sẽ biết liêm sỉ và thực lòng quy phục=
Hơn nữa, <bề trên trọng lễ thì dân không ai dám không tôn kính, bề trên trọng nghĩa thì
dân không ai dám không phục tùng, bề trên trọng tín thì dân không ai dám không n ở hết lòng=
+ Theo ông, đức trị gồm ba điều: làm cho dân cư đông đúc, kinh tế phát triển và dân
được học hành Ông cho rằng <phải thận trọng trong công việc, phải giữ gìn được chữ tín,
tiết kiệm trong công việc chi dùng, thương người, sử dụng sức dân vào thời gian hợp lí=
+ Cơ sá của đưßng lối đức trị Áy là lòng nhân, tức là lòng thương ngưßi Lòng thương
ngưßi Áy trước hết ph¿i thể hiện á chỗ biết coi lợi ích của kẻ khác như lợi ích của chính
mình, đồng thßi b¿n thân mình ph¿i <kiềm chế mình làm đúng theo lễ=
+ Tuy nhiên, với đưßng lối lÁy đạo đức làm cơ sá Áy, mục đích của Khổng Tử là muốn cứu vãn tình hình xã hội đương thßi, nhưng học thuyết của ông không ph¿i là bài thuốc hiệu nghiệm đối với căn bệnh của xã hội Trung Quốc lúc bÁy giß, do vậy không được giai cÁp thống trị các nước chư hầu chÁp nhận
- Vß giáo dÿc
+ Khổng Tử sáng lập chế độ giáo dục tư thục á Trung Quốc - uốn nắn nhân cách, bồi
dưỡng nhân tài: <Tiên học lễ, hậu học vn=