1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập lớn môn lịch sử đảng cộng sản việt nam cách mạng xã hội chủ nghĩa và những thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc 1954 1975

19 37 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cách mạng xã hội chủ nghĩa và những thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc 1954-1975
Tác giả Nguyễn Xuân Mai
Người hướng dẫn Ts. Lưu Ngọc Long
Trường học Đại học quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử đảng cộng sản Việt Nam cách mạng xã hội chủ nghĩa
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 281,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Untitled ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KINH TẾ  BÀI TẬP LỚN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Đề bài Cách mạng xã hội chủ nghĩa và những thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc 1954 1975[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KINH TẾ



BÀI TẬP LỚN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Đề bài: Cách mạng xã hội chủ nghĩa và những thành quả xây

dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc 1954- 1975

Sinh Viên: Nguyễn Xuân Mai

Mã Sinh Viên: 19050169

Ngày sinh: 11/10/2001

Mã lớp học phần: 203_HIS1001 1 Lớp: QH-2019-E Kinh Tế CLC 6

Giảng viên: Ts Lưu Ngọc Long

Hà Nội, Tháng 08/2021

Trang 2

Mở đầu 1

Nội dung 1

I, Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc 1954-1975 1

1 Đặc điểm của Miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 1

2 Quá trình Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc (1954-1975) 2

2.1 Hoàn thành cảnh cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh ( 1954-1957) 2

a, Hoàn thành cải cách ruộng đất 2

b, Khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh 3

2.2 Cải tạo quan hệ sản xuất, bước đầu phát triển kinh tế - xã hội (1958-1960) 4

2.3 Bước đầu xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội (1961-1965) 6

2.3.1 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960) 6

2.3.2 Miền Bắc thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm (1961-1965) 8

2.4 Chuyển hướng phát triển kinh tế, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện cả nước có chiến tranh (1965 - 1975) 10

2.4.1 Nguyên nhân chuyển hướng 10

2.4.2 Nội dung chuyển hướng 11

2.4.3 Chuyển hướng xây dựng và khôi phục kinh tế sau khi đánh thắng chiến tranh phá hoại lần hai 12

II, Thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc 1954-1975 13

1 Những thành quả 13

2 Ý nghĩa những thành quả 15

Kết luận 15

Tài liệu tham khảo 16

Trang 3

Mở đầu

Bối cảnh tình hình và nhiệm vụ cách mạng nước ta sau hiệp định Giơnevơ năm

1954 về Đông Dương: Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương được kí kết đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia của thực dân Pháp, có sự giúp sức của đế quốc Mĩ Thực hiện Hiệp định Giơnevơ, ngày 10 – 10 –

1954, quân ta tiến vào tiếp quản Hà Nội trong không khí tưng bừng của ngày hội giải phóng Ngày 1-1-1955, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh ra mắt nhân dân Thủ đô Toán lính Pháp cuối cùng rút khỏi đảo Cát Bà (Hải Phòng) ngày 16-5-1955 Miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng Giữa tháng 5 – 1956, Pháp rút quân khỏi miền Nam khi chưa thực hiện cuộc hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam Bắc Việt Nam theo điều khoản của Hiệp định Giơnevơ Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương được kí kết, Mĩ liên thay thế Pháp, dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam, thực hiện âm mưu chia cắt Việt Nam, biển miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới Do đó, sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước chưa hoàn thành, nhân dân ta vừa phải hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế ở miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, vừa phải tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà.Ngay sau khi hòa bình lập lại nhân dân miền Bắc khẩn trương khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh và tiến hình thực hiện các nhiêm vụ còn lại nhằm tạo tiền để đưa miền Bắc từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Thời kỳ 1954-1975 nhiệm vụ chính của miền Bắc là thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa - nhiệm vụ quan trọng đối với nước ta, góp phần không nhỏ trong việc chi viện cho miền Nam chống Mỹ cứu nước, làm nên thắng lợi lịch sử dân tộc Chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về đặc điểm thời kỳ, nội dung, đường lối của Đảng trong Cách mạng xã hội chủ nghĩa và những thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc 1954 1975

Nội dung

I, Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc 1954-1975.

1 Đặc điểm của Miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Một là miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Hai là đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chiến lược cách mạng: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc

và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Thứ ba, miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện quốc tế có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn phức tạp Ở miền Bắc, mặc dù Pháp rất ngoan cố, nhưng do tinh thần đấu tranh kiên quyết của nhân dân ta, nên đến ngày 10-10-1954 tên lính Pháp cuối cùng đã rút khỏi

Hà Nội và ngày 16-5-1955, toàn bộ quân đội viễn chinh Pháp đã phải rút khỏi miền

Trang 4

Bắc Ngay sau khi hoà bình lập lại, nhân dân miền Bắc khẩn trương khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh và tiến hành thực hiện các nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ nhằm tạo tiền đề đưa miền Bắc từng bước quá độ lên chủ nghĩa

xã hội Xuất phát từ đặc điểm cơ bản của tình hình đất nước sau tháng 7-1954, qua nhiều hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ chính trị, chủ trương chiến lược cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới của Đảng đã từng bước hình thành, trong đó

có chủ trương đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội

2 Quá trình Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc (1954-1975).

2.1 Hoàn thành cảnh cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh ( 1954-1957)

a, Hoàn thành cải cách ruộng đất

Sau ngày giải phóng, miền Bắc nước ta đứng nước nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội Nền kinh tế nước ta vốn là nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng

nề Trong các vùng nông thôn mới giải phóng, hậu quả do các cuộc càn quét của địch

để lại hết sức nghiêm trọng: Khoảng 14 vạn héc ta ruộng đất bị bỏ hoang; hệ thống thủy lợi hư hỏng nặng, khiến 200.000 héc ta ruộng đồng không nước tưới tiêu, cằn cỗi

và úng ngập; thôn xóm tiêu điều, xơ xác; nhân công, nông cụ và trâu bò bị thiếu nghiêm trọng Từ cuối năm 1954 đến nửa đầu năm 1955, nạn đói lan rộng tới trên 200

xã Gần 50% kho tàng, công sở bị phá hoại; thương nghiệp bị đình đốn; hơn 50.000 lao động thất nghiệp… Căn cứ vào hoàn cảnh thực tế ở miền Bắc và yêu cầu về quyền lợi kinh tế, thế chính trị chị của nông dân, ăn cùng cố khối liên minh công-nông, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, Đảng và chính Đảng và Chính phủ quyết định “ Đẩy mạnh phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất” Tại kì họp lần thứ 4 (3-1955), Quốc hội thông qua Nghị quyết tán thành điều chỉnh và bổ sung của Chính phủ

về cải cách ruộng đất: Dùng hình thức tòa án thay cho những cuộc đấu tố của nông dân, thu hẹp diện tịch thu và trưng thu, mở rộng diện trưng mua, chiếu cố những địa chủ kháng chiến và gia đình địa chủ có con em là bộ đội, cán bộ, viên chức cách mạng Cuộc vận động cải cách ruộng đất ở miền Bắc từ sau hòa bình lập lại, đến tháng 6-1955 được tiến hành ở 735 xã, bao gồm 1.608.294 nhân khẩu Chủ trương của Đảng tại Hội nghị Trung ương tháng 9/ 1955 là chia ruộng đất cho nông dân và xóa bỏ chế

độ sở hữu ruộng đất của địa chủ Tiếp đó tháng 12-1955, cải cách ruộng đất đợt 5 được triển khai ở 1.720 xã, có trên 6 triệu người trong 20 tỉnh và 2 thành phố Tháng 7-1956, cải cách ruộng đất đợt 5 kết thúc ở toàn bộ vùng đồng bằng, trung du và 280

xã miền núi Cuộc vận động cải cách ruộng đất năm 1956 đã đạt kết quả là: Chia 334.100 ha ruộng cho nông dân; hoàn thành xóa bỏ giai cấp địa chủ, xóa bỏ tàn dư chế

độ phong kiến ở miền Bắc; nâng cao quyền làm chủ của nông dân trong nông thôn Thực hiện chủ trương của Trung ương, trong hơn 2 năm (1954-1956) miền Bắc tiến hành tiếp đợt 6 giảm tô và 4 đợt cải cách ruộng đất ở 3314 xã thuộc 22 tỉnh đồng bằng

và trung du Khẩu hiệu “Người cày có ruộng” đã trở thành hiện thực Qua 5 đợt cải

Trang 5

cách ruộng đất (tính cả đợt 1 tiến hành trong kháng chiến) đã tịch thu, trưng thu, trưng mua khoảng 81 vạn hecta ruộng đất, 10 vạn trâu bò và 1,8 triệu nông cụ từ tay giai cấp địa chủ đem chia cho 2 triệu hộ nông dân

Trong cải cách ruộng đất, chúng ta đã phạm một số sai lầm như đấu tố tràn lan, thô bạo, đấu tố cả những địa chủ kháng chiến, Những người thuộc tầng lớp trên có công với cách mạng, quy nhầm một số nông dân, cán bộ, đảng viên thành địa chủ Đảng đã phát hiện sai lầm, đến tháng 4-1956 đã có chỉ thị sửa chữa những sai lầm ấy Ngày 18-8-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào nông thôn và cán bộ nói rõ thắng lợi và sai lầm của cải cách ruộng đất Chủ tịch khẳng định cải cách ruộng đất là thắng lợi to lớn, nhưng đã mắc những khuyết điểm, sai lầm và “ Chúng ta cần phát huy những thắng lợi đã thu được, đồng thời chúng ta phải kiên quyết sửa chữa những sai lầm” Hội nghị lần thứ 10, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (khóa II) đã thảo luận kỹ và kết luận về thắng lợi và sai lầm của cải cách ruộng đất Hội nghị đã đề ra phương hướng và chủ trương sửa sai 10 điểm Với tinh thần dũng cảm tự phê bình và phê bình, với ý thức trách nhiệm cao trước toàn thể nhân dân, Đảng Lao động Việt Nam một mặt nhanh chóng sửa chữa sai lầm, mặt khác có những biện pháp củng cố và phát huy thắng lợi, kịp thời có những chủ trương đúng đắn đưa nông thôn miền Bắc tiến lên Cuối tháng 10-1956, Hội đồng Chính phủ họp dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiểm điểm việc thi hành Luật cải cách ruộng đất và công tác chỉnh đốn tổ chức, quyết định những chính sách cụ thể để sửa chữa sai lầm Có thể thấy, sai lầm của ta trong cải cách ruộng đất được Đảng, Chính phủ phát hiện kịp và kịp thời sửa chữa Công tác sửa sai được tiến hành trong cả năm

1975, nhờ đó hậu quả của sai lầm được hạn chế Không phải sử dụng đất, bộ mặt nông thôn Miền Bắc có nhiều thay đổi, khối liên minh công - nông được củng cố

b, Khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh

Sau năm 1954 tình hình miền Bắc có nhiều khó khăn Mục tiêu của khôi phục kinh

tế là hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi kinh tế quốc dân; đồng thời giảm bớt những khó khăn về đời sống nhân dân Phát triển kinh tế một cách có kế hoạch và làm từng bước; mở rộng giao lưu kinh tế giữa thành thị và nông thôn

Tháng 9/1954, Bộ chính trị đã ra nghị quyết vạch rõ nhiệm vụ trước mắt trong thời

kỳ tới là ổn định trật tự xã hội, ổn định giá cả, ổn định thị trường Khâu trọng tâm là ở

cả thành phố và nông thôn là phục hồi và nâng cao sản xuất, phục hồi kinh tế quốc dân

mà then chốt là phục hồi sản xuất nông nghiệp Phục hồi giao thông vận tải có tính chất mở đường Chú ý phục hồi và nâng cao sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, nhất là những công xưởng công nghiệp nhẹ sản xuất những mặt hàng phục vụ đời sống nhân dân

Khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh là nhiệm vụ tất yếu trong thời kì đầu sau chiến tranh Kì họp thứ 4 Quốc hội khoá I (từ ngày 20 đến ngày 26 - 3 - 1955)

đã quyết nghị: “Ra sức củng cố miền Bắc bằng cách đẩy mạnh và hoàn thành cải cách ruộng đất đúng theo kế hoạch, ra sức khôi phục và phát triển kinh tế – văn hoá” Cùng

Trang 6

kỳ họp đó của Quốc hội tiếp tục nhấn mạnh: phải “dựa vào sức lực của nhân dân ta, đồng thời dựa vào sự giúp đỡ của các nước bạn - sức ta vẫn là chính nhằm khôi phục nông nghiệp, phát triển công nghiệp và thủ công nghiệp, khôi phục thương nghiệp và bình ổn giá cả cũng có nền tài chính quốc gia, khôi phục giao thông vận tải” Công cuộc khôi phục kinh tế được toàn dân tích cực hưởng ứng và triển khai trong tất cả các ngành

Trong nông nghiệp, nông dân hằng hải khai khẩn ruộng đất bỏ hoang, bảo đảm cày

cấy hết ruộng đất vắng chủ, tăng thêm đàn trâu bò, sắm thêm nông cụ Nhiều đập nước được sửa chữa, hầu hết các công trình thủy lợi được khôi phục Nhiều công trình thuỷ nông mới được xây dựng, có tác dụng mở rộng diện tích tưới và tiêu nước Năm

1957, Sản lượng lương thực đạt gần 4 triệu tấn, tăng hơn 1,5 triệu tấn so với năm

1939 Nạn đói kinh niên ở miền Bắc căn bản được giải quyết

Công nghiệp, chúng ta đã nhanh chóng khôi phục được 29 xí nghiệp cũ và mở

rộng hầu hết các nhà máy, xí nghiệp bị phá hỏng, xây dựng thêm một số nhà máy mới (55 nhà máy mới) như : cơ khí Hà Nội, diêm Thống Nhất, gỗ Cầu Đuống, thuốc lá Thăng Long, cả hợp Hải Phòng, chè Phú Thọ, Đến cuối năm 1957, miền Bắc có 97 nhà máy, xí nghiệp lớn do Nhà nước quản lý

Các ngành thủ công nghiệp, thương nghiệp nhanh chóng được khôi phục bảo đảm

cung cấp nhiều mặt hàng tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân và giải quyết phần nào việc làm cho người lao động.Bảo hộ sản xuất, bảo hộ giao lưu hàng hóa và khuyến khích phục hồi kinh tế tư nhân Ngoại thương dần dần tập trung vào Nhà nước, Đến cuối năm 1957, miền Bắc đã đặt quan hệ buôn bán với 27 nước

Giao thông vận tải, đã khôi phục 700 kilômét đường sắt, quan trọng nhất là tuyến

đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn, sửa chữa và làm mới hàng nghìn kilômét đường ô tô, xây dựng lại và mở rộng thêm nhiều bến cảng như : Hải Phòng, Hòn Gai, Cẩm Phả, Bản Thuỷ Đường hàng không dân dụng quốc tế được khai thông

Văn hóa, giáo dục, y tế được đẩy mạnh Nền giáo dục được phát triển theo hướng

xã hội chủ nghĩa Hệ thống giáo dục phổ thông theo chương trình 10 năm đã được khẳng định: một số trường đại học được thành lập ; hơn 1 triệu người được xóa mù chữ Số học sinh trung học chuyên nghiệp và đại học tăng lên Đây là nguồn lớn bổ sung về lực lượng lao động có tay nghề và đội ngũ công nhân viên chức Hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được Nhà nước quan tâm xây dựng Nếp sống lành mạnh, giữ gìn vệ sinh được vận động thực hiện ở khắp mọi nơi

Đảng và Nhà nước còn có nhiều chủ trương, biện pháp để củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, tăng cường khả năng phòng thủ đất nước, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất và quan hệ ngoại giao với nhiều nước trên thế giới

2.2 Cải tạo quan hệ sản xuất, bước đầu phát triển kinh tế - xã hội (1958-1960) Sau ba năm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ khôi phục kinh tế (1955 - 1957), nhân dân miền Bắc sôi nổi bước vào thời kì cải tạo xã hội chủ nghĩa Trong ba năm (1958 – 1960), miền Bắc lấy cải tạo xã hội chủ nghĩa làm trọng tâm

Trang 7

Tháng 11-1958, Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra nhiệm vụ của miền Bắc là "đẩy mạnh cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm trước mắt là đẩy mạnh cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế tư bản tư doanh; đồng thời ra sức phát triển thành phần kinh tế quốc doanh " Tại kì họp lần thứ 9 (12-1958), Quốc hội khoá I đã thông qua kế hoạch ba năm cải tạo và phát triển kinh tế, văn hóa, gồm những nội dung cơ bản sau đây:

Một là, đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, lấy sản xuất nông

nghiệp làm khâu chính, chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề lương thực, đồng thời rất chú trọng sản xuất công nghiệp, hết sức tăng thêm các tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng

Hai là, ra sức cải tạo nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư

doanh theo hướng xã hội chủ nghĩa, khâu chính là hợp tác hoá nông nghiệp, đồng thời tích cực phát triển và củng cố thành phần kinh tế quốc doanh

Ba là, nâng cao một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, đồng thời tăng

cường củng cố quốc phòng

Kết hợp với Chủ trương của Đảng trong Hội nghị Trung ương 8 (tháng 8/1955 là xây dựng thí điểm hợp tác xã và Hội nghị Trung ương 16 tháng 4 /1959 thông qua quyết định cải tạo trong nông nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh

Cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp là thực hiện cải tạo quan hệ sản xuất

kết hợp với cải tiến kĩ thuật, tăng năng suất lao động và giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa cho nông dân, nhằm đưa giai cấp nông dân từ chỗ làm ăn riêng lẻ đi dần vào con đường làm ăn tập thể xã hội chủ nghĩa; là một cuộc cách mạng sâu sắc, lớn lao và phức tạp Nó thay đổi tận gốc chế độ tư hữu và cả thói quen canh tác phân tán bao đời nay của hàng triệu nông dân Đảng ta chủ trương thực hiện cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp qua ba bước: Tổ đổi công, hợp tác xã bậc thấp và hợp tác xã bậc cao Thực hiện chủ trương trên, khắp nơi trên miền Bắc sôi nổi phong trào vận động xây dựng hợp tác xã Đến cuối năm 1960, miền Bắc đã xây dựng được 41.401 hợp tác xã

có trên 85% hộ nông dân với 70% ruộng đất vào hợp tác xã nông nghiệp, hơn 87% số thợ thủ công và 45% số người buôn bán nhỏ vào hợp tác xã Một bộ phận thương nhân được chuyển sang sản xuất hoặc chuyển thành mậu dịch viên

Cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Bắc nước ta được tiến

hành trong hoàn cảnh đặc biệt Đó là lúc Nhà nước dân chủ nhân dân đã được củng cố vững mạnh, khối liên minh công nông bền chặt, nền kinh tế quốc doanh được mở rộng

và giữ vai trò chủ đạo đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân; là lúc giai cấp tư sản dân tộc miền Bắc nhỏ yếu, lại đã từng là bạn đồng minh của giai cấp công nhân trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Đảng ta chủ trương chuyển mâu thuẫn vốn đối kháng giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân thành mâu thuẫn không đối kháng, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh bằng phương pháp hoà bình, sử dụng mặt tích cực của họ phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước; thông qua hình thức công

tư hợp doanh.Về kinh tế, Nhà nước không tịch thu tư liệu sản xuất của giai cấp tư sản,

Trang 8

mà dùng chính sách chuộc lại và trả dần dưới hình thức định tức Về chính trị, chúng

ta vẫn coi tư sản dân tộc là một thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chúng ta chú trọng kết hợp các biện pháp kinh tế, hành chính và giáo dục, biến những người tư sản thành những người lao động Đi đôi với chính sách chuộc lại, Đảng và Nhà nước còn chú ý sắp xếp công ăn việc làm cho người tư sản trong các xí nghiệp, tức là tạo điều kiện cho họ trở thành người lao động Đến cuối năm 1960, đã có 97% số hộ tư sản vào công tư hợp doanh Cùng thời gian này, có 87,9% số thợ thủ công và 45% số

hộ tiểu thương tham gia các hình thức hợp tác xã

Đối với thủ công nghiệp, trong thời kỳ chống Pháp thủ công nghiệp nhỏ, lạc hậu

sau khi hòa bình lập lại vị trí quan trọng của nó trong nền kinh tế nước ta không hề thay đổi; thời gian này bao gồm có 17 ngành và 150 nghề, sản xuất hơn 1000 loại hàng hóa khác nhau Việc tiến hành cải tạo thủ công nghiệp theo chủ nghĩa xã hội nhằm tạo điều kiện cơ bản cho thủ công nghiệp có thể dần dần xóa bỏ lạc hậu, phát huy mạnh mẽ các mặt tích cực phát triển có lợi cho kinh tế quốc dân và cho thợ thủ công Hướng cải tạo cơ bản là đưa thủ công nghiệp và thủ công bằng con đường hợp tác hóa như tổ hợp tác mua và bán, tổ hợp tác vừa mua vừa sản xuất, một cửa hàng hợp tác, mục đích là chuyển dần những người buôn bán nhỏ và sản xuất để tiến lên chủ nghĩa xã hội

Đối với công nghiệp, công nghiệp quốc doanh giữ vai trò lãnh đạo là cơ sở chủ yếu

của nền công nghiệp xã hội chủ nghĩa sản xuất công nghiệp sẽ cung cấp hàng tiêu dùng và những tư liệu sản xuất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân ăn đến năm

1960 đã có 172 xí nghiệp lớn do trung ương quản lý và trên 500 tính nghiệp cho địa phương quản lý Những tiến bộ về mặt kinh tế đã tạo điều kiện cho sự nghiệp văn hóa giáo dục y tế phát triển So với năm 1957, năm 1960 số học sinh tăng 80%, số sinh viên tăng gấp đôi Các cơ sở y tế năm 1960 tăng gần 11 lần so với năm 1955

Kết quả cải tạo xã hội chủ nghĩa đã đưa đến những biến đổi về chất trong xã hội miền Bắc Tư bản An Tư doanh đã tiếp thu cải tạo kinh tế quốc doanh ngày càng phát triển và có vai trò lãnh đạo nền kinh tế quốc dân Quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa được xác lập và về cơ bản đã xoá bỏ được chế độ người bóc lột người Tiềm lực mọi mặt của miền Bắc được tăng cường, bảo đảm cho miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc của cách mạng miền Nam và kháng chiến chống Mĩ , cứu nước.Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cải tạo, chúng ta đã phạm phải những sai lầm nghiêm trọng

về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện Chúng ta đã đồng nhất việc cải tạo với việc xóa bỏ các thành phần kinh tế cá thể, thủ tiêu nền kinh

tế nhiều thành phần Mặt khác, do tư tưởng chủ quan, nóng vội trong quá trình vận động hợp tác hóa nông nghiệp, chúng ta đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện đối với nông dân

Trang 9

2.3 Bước đầu xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội (1961-1965)

2.3.1 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960)

Giữa lúc cách mạng ở hai miền Nam - Bắc có những bước tiến quan trọng Miền Bắc, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công - thương nghiệp tư bản tư doanh đã đạt được những thành tựu to lớn, làm thay đổi bộ mặt xã hội Ở miền Nam, nhân dân ta cũng giành nhiều thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống Mĩ - Diệm, đặc biệt là phong trào đồng khởi 1959 - 1960, làm thay đổi thế chiến lược phong trào cách mạng Đảng lao động Việt Nam tổ chức đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III

Đại hội họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960 Tới dự có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết, thay mặt hơn 50 vạn đảng viên trong cả nước Gần 20 đoàn đại biểu quốc tế đến dự Đại hội tại Đại hội III, Đảng đề ra đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt Nam Dựa trên những nguyên tắc chung về hình thức, phương pháp, bước đi theo kinh nghiệm của Liên Xô và các nước XHCN đi trước, Đảng chính thức hoạch định đường lối cách mạng XHCN, lãnh đạo miền Bắc

bỏ qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản (CNTB) đi lên xây dựng CNXH; trong

đó, xác định rõ tính chất và mục tiêu của cách mạng XHCN: “Là một cuộc cách mạng

triệt để nhất và sâu sắc nhất trong lịch sử loài người Nó xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, xóa bỏ bóc lột và giai cấp bóc lột, thực hiện công hữu về tư liệu sản xuất, mở đường cho sức sản xuất từ trình độ lạc hậu tiến lên trình độ hiện đại Nó không những là một cuộc cách mạng triệt để về kinh tế, chính trị, mà còn là một cuộc cách mạng triệt để về tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật” Đề ra nhiệm vụ chiến lược của

Cách mạng cả nước và nhiệm vụ cách mạng miền; chỉ rõ vị trí, vai trò của cách mạng từng miền, mối quan hệ giữa cách mạng hai miền Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của Cách mạng cả nước ách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam Cách Mạng hai miền có quan hệ gắn bó và tác động qua lại lẫn nhau nhằm hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cả nước, thực thực hiện hòa bình thống nhất đất nước Đại hội đề ra đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững lên chủ nghĩa xã hội Xây dựng cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc ở miền Bắc; củng cố miền Bắc thành

cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà; góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình Đông Nam Á

Xuất phát từ đặc điểm của miền Bắc, trong đó đặc điểm lớn nhất là từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu trên thăng lên xã hội chủ nghĩa không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, Đại hội xác định rằng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là một quy trình cải biên cách mạng về mọi mặt Đó là quá trình đấu tranh gay go giữa hai con đường con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng văn hoá và kỹ thuật nhằm đưa

Trang 10

miền Bắc từ một nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu cả thể về tư liệu sản xuất tiền lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên sở hữu toàn dân và số hữu tập thể từ nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội về kinh tế được xem là hai mặt của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực tế quan hệ sản xuất hai mặt này có quan hệ mật thiết tác động qua lại và thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển

Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa được xem là nhiệm vụ trung tâm trong suất thời kỳ quá độ ở nước ta nhằm xây dựng cơ sở - vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa nghĩa xã hội, xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa hiện đại, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp, lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nhẹ một cách hợp

lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ Bên cạnh đó phải tiến hành cuộc cách mạng tư tưởng và văn hóa, nhằm thay đổi cơ bản đời sống tư tưởng, tinh thần và văn hóa của toàn xã hội phù hợp với chế độ xã hội mới xã hội chủ nghĩa; biến nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học tiên tiến

Đại hội đã thảo luận và thông qua Điều lệ (sửa đổi) của Đảng, quyết định lấy ngày 3-2 làm ngày Kỷ niệm thành lập Đảng, Lời kêu gọi của Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 47 uỷ viên chính thức và 31 uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương đã cử ra Bộ Chính trị bao gồm 11 uỷ viên chính thức Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng và Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Thông qua kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) nhằm xây dựng bước đầu cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Thành công của Đại hội là cơ

sở cho toàn Đảng, toàn dân đoàn kết chặt chẽ thành một khối là nguồn sức mạnh cho chúng ta sáng tạo, chúng ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà

2.3.2 Miền Bắc thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm (1961-1965)

Kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất, về thực chất, là cuộc tấn công vào nghèo nàn và lạc hậu Ngày 26-1-1961, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra nghị quyết về việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, động viên toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất Bước vào thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất, miền Bắc chuyển sang giai đoạn lấy xây dựng chủ nghĩa xã hội làm trọng tâm Nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch 5 năm là ra sức phát triển công nghiệp và nông nghiệp, tiếp tục cải tạo xã hội chủ nghĩa, củng cố và tăng cường thành phần kinh tế quốc doanh, thương nghiệp hợp tác xã, cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân lao động, củng cố quốc phòng, tăng cường trật tự và an ninh xã hội; nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân

Ngành công nghiệp được ưu tiên đầu tư xây dựng Với sự giúp đỡ của Liên Xô,

Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, từ năm 1961 đến năm 1964, vốn đầu tư xây dựng cơ bản dành cho công nghiệp là 48%, trong đó công nghiệp nặng chiếm gán

Ngày đăng: 24/05/2023, 21:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w