xử lý khi làm bài thi trắc nghiệm nói chung và môn Hóa học nói riêng
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay Bộ GD&ĐT đang trong quá trình đổi mới toàn diện về giáo dục ởcác cấp học trong đó có cấp THPT nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo.Công cuộc đổi mới này liên quan đến rất nhiều lĩnh vực như đổi mới chươngtrình, đổi mới sách giáo khoa, đổi mới thiết bị dạy học, đổi mới quan niệm và đặcbiệt là đổi mới cách thức kiểm tra đánh giá Hình thức thi trắc nghiệm khách quanđược áp dụng đối với các môn Ngoại ngữ, Vật lý, Sinh học, Hóa học và nhiềumôn học khác đã và đang diễn ra những năm gần đây Nhiều thí sinh hiện rấthoang mang, lo lắng bởi trong khoảng thời gian 60 phút thi tốt nghiệp phải làm 40câu hỏi và trong 90 phút thi tuyển sinh đại học phải hoàn thành tới 50 câu hỏi
Kỹ năng, phương pháp làm bài chính là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tớitiến độ bài làm và chất lượng bài thi của thí sinh Nắm được kỹ năng, phươngpháp xử lý cộng với nền tảng kiến thức tốt, thí sinh có thể hoàn thành bài thi trắcnghiệm một cách chính xác nhất và nhanh nhất trong đúng thời gian quy định
Để giúp học sinh tự tin,đạt kết quả cao hơn trong quá trình làm bài tập trắcnghiệm cũng như làm bài thi trắc nghiệm đặc biệt là bồi dưỡng cho đối tượng họcsinh dự thi tốt nghiệp THPT, dự thi đại học, bản thân tôi mạnh dạn chọn đề tàinghiên cứu “ Phương pháp xử lý khi làm bài thi trắc nghiệm nói chung và mônHóa học nói riêng”
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ:
1 Cơ sở lý luận của vấn đề:
- Việc học và thi kiểm tra đánh giá là một việc làm không thể thiếu đối vớimỗi giáo viên và học sinh Học thế nào thi thế đó đã là việc làm quen thuộcvới hình thức thi tự luận, nội dung kiến thức chỉ tập trung ở một số phần, một
số chương, các em có thể học tủ, ôn tủ hoặc ôn cấp tốc ở một số trung tâm cócác thầy cô nhiều năm trong nghề, có nhiều kinh nghiệm ôn thi Đại học, caođẳng, học sinh chỉ cần tập trung ôn tập trong một khoảng thời gian ngắn là cóthể làm bài thi với điểm số cao Hiện nay hình thức kiểm tra đánh giá đó đangthu hẹp lại gần, nhất là ở các môn học: Hóa, Sinh, Lý, Ngoại ngữ và một phần ởcác môn học khác Vì vậy giữa việc học và thi đang là một vấn đề rất băn khoănkhông những ở học sinh và rất nhiều giáo viên
- Trong khi đó, không có tiết học nào nói về phương pháp học và làm bài thi trắcnghiệm cụ thể mà ứng mỗi một bài học, mỗi môn học giáo viên phải có mộtphương pháp riêng để hướng dẫn cho học sinh của mình không những biết cáchgiải một bài toán mà còn giải bài toán đó một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất.Với ý nghĩa như vậy tôi đã tập trung nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích sau:+ Giúp học sinh học tập nhanh hơn, hiệu quả hơn, nắm kiến thức toàn diện hơn,đạt kết quả cao hơn trong các kỳ thi
+ Tránh được những nhầm lẫn và sai sót trong quá trình làm bài
+ Gây hứng thú học tập cho mỗi học sinh, mỗi môn học, tạo niềm đam mê chongười học, người nghiên cứu
Trang 2+ Góp phần phát triển trí nhớ, tư duy học tập, khi làm quen với hình thức học mới,thi mới
II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
1 Thực trạng của việc dạy học sinh giải bài tập và đánh giá học sinh bằng hình thức thi trắc nghiệm môn Hóa Học ở trường THPT Ba Đình - Nga Sơn - Thanh Hóa.
a) Về phía giáo viên:
Hình thức thi trắc nghiệm những năm gần đây không còn là mới đối vớimỗi giáo viên song rất nhiều giáo viên đang băn khoăn không biết dạy như thế nào, học như thế nào, để học sinh đạt điểm cao khi giải bài tập dưới hình thức trắc nghiệm và làm bài thi trắc nghiệm?
2 Kết quả khi chưa thực hiện đề tài :
Qua công tác giảng dạy và kiểm tra, khảo sát chất lượng môn Hoá Học ởbậc trung học phổ thông từ năm 2007 đến năm 2013 tại các khối lớp mà tôi trựctiếp giảng day tôi thấy hầu hết học sinh được hỏi đều đang gặp lúng túng trong khilàm bài thi trắc nghiệm Để thấy rõ được thực trạng và những yếu kém của họcsinh khi chuyển từ hình thức thi tự luận sang trắc nghiệm tôi đã tiến hành khảosát một đề kiểm tra 15 phút với 10 câu hỏi và thu được kết quả:
3 Nguyên nhân của thực trạng trên:
- Chưa có phương pháp học, chưa có kinh nghiệm làm bài
Trang 3- Kiến thức rất rộng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nên khả năng nhớ, vậndụng, tổng hợp kiến thức còn hạn chế.
- Thời gian đầu tư cho việc học không nhiều
- Thời gian cho mỗi câu hỏi ngắn
IIi GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
* PHẦN CHUNG:
PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ KHI LÀM BÀI THI TRẮC NGHIỆM
1 Đọc và phân loại bài tập:
1.1 Câu trắc nghiệm bao gồm 2 loại, hỏi về lý thuyết và câu hỏi tính toán.Chỉ có điều bài tập trong câu trắc nghiệm không đòi hỏi thí sinh phải mất nhiềuthời gian tính toán, thường là bài toán cơ bản, hoặc một khâu trong quá trình giảimột bài toán tự luận
1.2 Đối với mỗi câu hỏi, thí sinh sẽ có khoảng từ 1 đến 2 phút để tìm rađáp án trả lời Tuy nhiên, sẽ có những câu thuộc vào phần kiến thức cơ bản, phần
lý thuyết trong sách giáo khoa, thí sinh không cần đến 1 phút mà có thể trả lờingay sau khi đọc đề Bên cạnh đó, cũng có những câu cần phải phân tích, tổnghợp, suy luận hoặc những bài toán cần áp dụng nhiều phương pháp tính toán.Thông thường những câu này phải mất tới gần 5 phút Nếu tính cả 4 phương án thì
có thể thời gian tìm đáp án phải lên tới 8 đến 10 phút
1.3 Thí sinh cần đặc biệt lưu ý những câu hỏi "bẫy", đưa ra nhiều đáp ángần giống với đáp án đúng Cần hết sức thận trọng và đọc kỹ, hiểu kỹ câu hỏi vàcác phương án trả lời để lựa chọn chính xác nhất
1.4.Với đề thi tuyển sinh, sẽ có khoảng 25 câu vận dụng kiến thức cơ bản
10 câu dành cho học sinh giỏi dùng để phân loại thí sinh
1.5 Trong đề thi tốt nghiệp và đề thi tuyển sinh đều có phần kiến thức của
cả 3 năm THPT, trong đó trọng tâm là chương trình lớp 12 Theo một số nhà giáogiàu kinh nghiệm thì số lượng câu hỏi thuộc về phần kiến thức lớp 12, 11, 10thường theo tỉ lệ khoảng 5-3-2 Vì thế, thí sinh cần phải nắm thật chắc toàn bộchương trình lớp 12, đồng thời không quên ôn lại kiến thức của hai năm trước đó
1.6 Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại sách hướng dẫn làm bài thitrắc nghiệm, bộ đề thi trắc nghiệm Mỗi môn có tới vài chục đầu sách hướng dẫnkhiến thí sinh "loạn", không biết phải ôn tập theo cuốn nào Trong lúc này, thí sinhkhông nên sử dụng quá nhiều sách tham khảo cùng một lúc Nếu đã chọn cuốnsách nào thì nên "trung thành" với cuốn đó và làm hết toàn bộ các đề trong sách.Nhưng quan trọng nhất là phải nắm thật vững kiến thức bởi thi trắc nghiệm đồngnghĩa với việc kiến thức trải dài trên diện rộng Khi có kiến thức bao trùm cảchương trình, thí sinh có thể làm được bất cứ đề thi nào
2 Điền vào phiếu trả lời trắc nghiệm:
2.1 Vào phòng thi, khi nhận được phiếu trả lời trắc nghiệm, thí sinh phảiđiền ngay vào các mục từ 1 đến 9 (bao gồm thông tin các nhân và thông tin vềphòng thi, hội đồng coi thi, môn thi, ngày thi) Sau khi nhận đề, thí sinh phải điềnvào mục số 10 là mã đề thi Tất cả thông tin này đều phải điền bằng bút bi hoặc
Trang 4bút mực, không được sử dụng màu đỏ Nếu điền thiếu bất cứ thông tin nào, bàilàm đều phạm quy Đồng thời chú ý xem lướt qua đề thi và phiếu trả lời xem cóđầy đủ câu hỏi không, các câu hỏi có được in rõ ràng không thí sinh không làmbài trực tiếp vào đề thi mà phải trả lời trên phiếu trả lời trắc nghiệm.
2.2 Thí sinh trả lời câu hỏi trắc nghiệm bằng cách dùng bút chì tô đen toàn
bộ khung A, B, C hoặc D Nên dùng loại bút chì mềm (2B, 6B ) và phải mangtheo vài bút chì gọt sẵn dự trữ, đề phòng trường hợp gẫy ngòi Không nên gọt bútchì quá nhọn, nên để đầu bút chì dẹt và cầm bút chì thẳng đứng để tô đen nhanh
2.3 Khi tô các ô tròn, thí sinh phải chú ý tô đậm kín cả ô, tô thừa ra ngoàimột chút không sao nhưng tuyệt đối không tô thiếu Trong trường hợp tô nhầmhoặc muốn trả lời lại, thí sinh dùng tẩy, tẩy thật sạch ô cũ và tô kín ô mới Nếukhông tẩy sạch, máy chấm sẽ coi như có 2 ô đen và câu trả lời đó không đượcchấm điểm
2.4.Thí sinh nên để phiếu trả lời trắc nghiệm bên phía tay cầm bút, bên kia
là đề thi Tay trái giữ ở vị trí câu trắc nghiệm đang làm, tay phải dò tìm số câu trảlời tương ứng trên phiếu trả lời trắc nghiệm và tô vào ô trả lời được lựa chọn Tuyphải tận dụng thời gian nhưng cũng cần rất cẩn thận, tránh tô nhầm sang dòng củacâu khác bởi vì chỉ cần một câu nhầm dòng có thể dẫn đến sai dây chuyền toàn bộcác câu sau đó
3 Cách làm bài thi hợp lý nhất:
3.1 Chia đề làm 3 nhóm, làm bài thành 3 vòng
+ Nhóm 1: là câu hỏi mà thí sinh có thể trả lời được ngay
+ Nhóm 2: là những câu hỏi cần phải tính toán và suy luận
+ Nhóm 3: là những câu hỏi còn phân vân hoặc vượt quá khả năng củamình thì thí sinh cần đọc kỹ dành thêm thời gian
3.2 Ngay khi nhận đề thi, thí sinh nên lướt quan toàn bộ đề thật nhanhtrong vòng vài phút và lựa chọn những câu cảm thấy dễ nhất và chắc chắn nhất đểlàm trước, đồng thời đánh dấu những câu chưa làm được trong đề thi Sau đó quaylại một lượt nữa để giải quyết những câu đã bỏ qua
* Lưu ý là trong số những câu của vòng 2, thí sinh vẫn nên chọn các câu dễ hơn
để làm trước, những câu quá khó vẫn tiếp tục gác lại để vòng ba
3.4 Vì thi trắc nghiệm là một cuộc đua về thời gian nên thí sinh không nêndừng lại quá lâu ở bất cứ câu hỏi nào Với những câu không biết chắc đáp ánchính xác, nên dùng phương pháp loại trừ để loại bỏ được càng nhiều phương ánsai càng tốt Khi rút lại được 2 phương án, cơ hội sẽ là 50/50 Nếu khi ấy vẫn chưa
có đáp án thì thí sinh buộc phải lựa chọn theo cảm tính Tuyệt đối không nên đểtrống một câu nào Nếu gần hết thời gian vẫn còn các câu trống thì hãy dùngcác phương pháp xác suất để chọn câu trả lời
* Chú ý, khi chọn là xác suất các câu đúng ngang nhau, ví dụ như một đề có
50 ( 100%) câu thì xác suất có khoảng 13 (25-26%) câu đáp án A đúng, 13(25-26%) câu đáp án B đúng, 13(25-26%) câu đáp án C đúng, 13(25-26%)câu có đáp án D đúng Nghĩa là mỗi câu có xác suất = ¼ Do đó các bạn cứlàm hết sức có thể, đến khi còn khoảng 5 phút cuối cùng thì dừng lại để thống
Trang 5kê số lượng đáp án đã tính Chẳng hạn nếu số đáp án D các bạn chọn quá ít thìnhững câu còn lại các bạn cứ tích D, như thế sẽ tối ưu hóa được số điểm đạtđược.
3.5 Phương pháp loại trừ kết hợp xác suất: Xét trong 4 phương án đề ra
(A,B, C, D) Bạn có thể xác định ít nhất 1 – 2 phương án sai Giải sử loại trừ A
& B ( biết chắc là sai) thì còn C, D Xác suât chọn 1 trong 2 đã là 50% Nếukết hợp xét chung trong tổng bộ Đề bạn có thể nâng xác suất đúng lên 75 -90%
4 Những điều cần lưu ý khi làm bài thi dưới hình thức trắc nghiệm:
4.1 Đối với thi trắc nghiệm, đề thi gồm nhiều nội dung kiến thức, rảikhắc chương trình, không có trọng tâm cho mỗi môn thi,do đó phải học toàn
lại chương trình môn học đã ôn tập; xem kỹ hơn đối với những nội dung khó;nhớ lại những chi tiết cốt lõi Không nên làm thêm những câu trắc nghiệmmới vì dễ hoang mang nếu gặp những câu trắc nghiệm quá khó
thi hoặc trông chờ sự giúp đỡ của thí sinh khác trong phòng thi, vì các thí sinh
có đề thi với hình thức hoàn toàn khác nhau
4.3.Trước ngày thi, nên “ôn” lại toàn bộ quy trình thi trắc nghiệm để
hành động chính xác và nhanh nhất, vì có thể nói, thi trắc nghiệm là một
cuộc chạy “marathon”.
4.4.Theo đúng hướng dẫn của giám thị, thực hiện tốt và tạo tâm trạngthoải mái trong phần khai báo trên phiếu trả lời trắc nghiệm Bằng cách đó,bạn có thể củng cố sự tự tin khi làm bài trắc nghiệm
4.5.Thời gian là một thử thách khi làm bài trắc nghiệm; bạn phải hếtsức khẩn trương, tiết kiệm thời gian; phải vận dụng kiến thức, kỹ năng đểnhanh chóng quyết định chọn câu trả lời đúng.Nên bắt đầu làm bài từ câu trắcnghiệm số 1; lần lượt “lướt qua” khá nhanh, quyết định làm những câu cảmthấy dễ và chắc chắn, đồng thời đánh dấu trong đề thi những câu chưa làmđược; lần lượt thực hiện đến câu trắc nghiệm cuối cùng trong đề Sau đó quay
trở lại “giải quyết” những câu đã tạm thời bỏ qua Lưu ý, trong khi thực hiện
vòng hai cũng cần hết sức khẩn trương; nên làm những câu tương đối dễ hơn,một lần nữa bỏ lại những câu quá khó để giải quyết trong lượt thứ ba, nếu cònthời gian
4.6 Khi làm từng câu trắc nghiệm cần đọc kỹ nội dung câu trắcnghiệm, phải đọc hết trọn vẹn mỗi câu cả phần dẫn và 4 lựa chọn A, B, C,Dloại bỏ ngay những phương án sai và tập trung cân nhắc trong các phương áncòn lại, phương án nào chọn là phương án đúng dùng bút chì tô kín ô đã chọntrong phiếu
4.7 Làm đến câu trắc nghiệm nào, dùng bút chì tô ngay ô trả lời trênphiếu “trả lời trắc nghiêm”, ứng với câu trắc nghiệm đó Tránh làm toàn bộcác câu của đề thi trên giấy nháp hoặc trên đề thi rồi mới tô vào phiếu “trả lờitrắc nghiêm”, vì dễ bị thiếu thời gian
Trang 64.8 Khi đọc phần dẫn cần chú ý tới các từ phủ định như “không”;
‘không đúng’; “sai”
4.9 So với số thí sinh dự thi môn hóa học thì số thí sinh đạt điểm tuyệtđối quả là ít nhưng không phải là không thể đạt điểm 10 Có nhiều học sinhnắm chắc kiến thức và có thể làm đúng hoàn toàn bài thi Nhưng cũng có thísinh học rất tốt song có những sai sót cơ bản mất 0,2-0,5 điểm
Để tránh mất điểm đối với những câu các em nghi ngờ kết quả thì có thểkiểm tra lại Đối với bài tập tính toán thì thay kết quả vào kiểm tra lại Đối vớicâu hỏi lý thuyết thì cố gắng dùng phương pháp loại trừ để kiểm tra lại kếtquả Việc làm đề thi Đại học được chuẩn bị kỹ lưỡng, gồm nhiều giáo viên cókinh nghiệm cũng như kiến thức rất giỏi do vậy các em không nên có tâm lýnghi ngờ đề sai Khi giải bài tập không có đáp án A, B, C, D thì hầu như các
em đã giải sai Hãy bình tĩnh kiểm tra lại và loại trừ các đáp án mà các em xácđịnh chắc chắn sai Từ đó khả năng tìm câu trả lời sẽ cao hơn và không bị mấtđiểm
4.10 Điều cuối cùng tôi muốn nhắc nhở các bạn trước khi bước vàophòng thi là:
+ Tự tin vào bản thân mình (kiến thức cũng như khả năng của bạn) + Không nên dự đoán xem đề thi khó hay dễ, các bạn nhớ rằng khó làkhó chung và dễ là dễ chung cho tất cả các thí sinh
+ Thư giãn và tập trung vào trả lời câu hỏi Câu dễ làm trước, câu khólàm sau, đừng nản chí
+Tận dụng tối đa thời gian làm bài
* PHẦN RIÊNG:
PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ KHI LÀM BÀI THI TRẮC NGHIỆM MÔN
HÓA HỌC
1 Kinh nghiệm khi làm bài thi trắc nghiệm môn Hóa học:
1.1 Điểm khác biệt giữa bài thi Hóa so với các môn Toán - Lý làphần tính toán của Hóa đơn giản Tuy nhiên môn Hóa thường phải nhớ kiếnthức lý thuyết nhiều Nắm tốt các lý thuyết tổng quát sẽ giúp các em làm tốt70% số câu hỏi Phần còn lại nằm vào các trường hợp đặc biệt cần phải nhớ
hoặc cần suy luận
1.2 Đề thi trắc nghiệm môn Hóa học thông thường gồm ½ là câu hỏi lýthuyết và ½ là bài tập tính toán
- Nếu là bài tập tính toán, trước hết các em cần xác định việc tính toán
không quá phức tạp, hầu hết đều có thể đưa về 1 phương trình hay hệ phươngtrình toán học đơn giản, phải được trang bị một số phương pháp giải toán hoá
như: các công thức tính nhanh, các phương pháp giải nhanh như: Bảo
toàn khối lương, phương pháp bảo toàn electron, phương pháp đường chéo,bài toán chất khí, phương pháp trung bình Trước khi giải toán phải tìm số
mol các chất (nếu có thể), viết phương trình hoá học hay sơ đồ biến hoá để kết
Trang 7nối các mối quan hệ, từ đó lập phương trình toán học, giải toán tìm nghiệm.Trong một số trường hợp bài toán hóa học cho số chia không hết (ví dụ 89/3)học sinh thường làm tròn và có thể dẫn đến một kết quả sai, trong trường hợpnày ta nên dùng phân số để tính toán.
- Nếu là bài tập lý thuyết các em cần ôn tập đầy đủ phần lý thuyết trong
sách giáo khoa Một điều chắc chắn là đề thi không được phép ra ngoàichương trình sách giáo khoa nên học sinh không cần sa đà vào các kiến thứckhó ngoài sách giáo khoa Cách tốt nhất là học sinh nên tự làm đề cương đểkiểm soát phần nào còn thiếu, yếu hoặc chưa hiểu kĩ theo từng dạng như sau:
+ Đề thi thường có các câu hỏi giáo khoa hoặc bài tập có tính toán nhỏ
có nội dung của kiến thức vô cơ - đại cương Để lấy điểm trọn vẹn, các emphải nắm thật vững kiến thức sách giáo khoa và làm bài thật chuẩn xác Vớicác câu này, nội dung thường nằm trong các phần: cấu tạo nguyên tử - bảngtuần hoàn các nguyên tố hóa học; phản ứng oxy hóa - khử, chuyển dịch cânbằng, dung dịch - sự điện ly, các bài toán pH, tính chất hóa học của nhữngchất thuộc các nguyên tố halogen S, O, N, P, Al, Fe + Những câu có nội dung hóa hữu cơ thường có nội dung nằm trong cácbài tiêu biểu thuộc các nhóm nguyên tố (C, H); (C, H, O) và (C, H, O, N), kếthợp halogen với các cách cho thường gặp như viết phản ứng, nêu hiện tượngthí nghiệm, hoàn thành sơ đồ phản ứng, điều chế, nhận biết và tách chất + Về bài toán vô cơ, chủ yếu là các bài toán về kim loại và hợp chất củakim loại phản ứng với axit; muối; phản ứng nhiệt luyện, các phản ứng trongdung dịch Ở câu này, yêu cầu ở thí sinh cao hơn, để lấy được điểm tối đaphải là các thí sinh khá giỏi!
1.3 Dù hóa vô cơ hay hữu cơ, dù là lý thuyết hay bài tập, phần cốt lõicủa môn Hóa học nằm trong hóa tính và điều chế các chất Sau khi nắm vữngcác phần này, việc kế tiếp là các em phải hệ thống lại các bài học thì mới cóthể vận dụng chúng dễ dàng Nên nhớ, tuy hiện nay, các em thi đề trắcnghiệm nhưng khởi đầu để ôn tập phải biết cách lập luận của đề tự luận, nếukhông các em sẽ không biết bắt đầu từ chỗ nào để đến kết quả
2 Tránh những “nhầm lẫn” trong quá trình vận dụng kiến thức
Phản ứng oxi hoá - khử là một kiến thức rất quan trọng, nó xuyên suốttrong chương trình hoá học vô cơ, trong kiểm tra kiến thức của các kì thi từtốt nghiệp, đại học đến các kỳ thi chọn học sinh Tỉnh, Thành phố, đến các kìthi Quốc gia hầu hết đều có kiểm tra kiến thức về phản ứng oxi hoá - khử,việc hiểu và vận dụng kiến thức về phản ứng oxi hoá khử không thật đơn giản
và dễ, sau đây là một số “nhầm lẫn” về việc vận dụng kiến thức này
Ví dụ 1: Hãy viết các PTHH sau đây dưới dạng ion đầy đủ và ion rút gọn
a Al + HNO3 Al(NO3)3 + NO2 + H2O
b Fe + H2SO4 FeSO4 + H2
c Mg + H2SO4 (đặc, nóng) MgSO4 + S + H2O
Trang 8* Phân tích:
Với loại câu hỏi này hầu hết học sinh đều áp dụng kiến thức về điện li và trình bày
với kết quả sau:
a Phương trình ion đầy đủ:
Al + 6 H+ + 6 NO3- Al3+ + 3 NO3- + 3NO2 + 3 H2O Phương trình ion rút gọn:
Al + 6 H+ + 3 NO3- Al3+ + 3 NO2 + 3 H2O
b Phương trình ion đầy đủ:
Fe + 2 H+ + SO42- Fe2+ + SO42- + H2O
Phương trình ion rút gọn là:
Fe + 2 H+ Fe2+ + H2
c Phương trình ion đầy đủ :
2 Fe + 8 H+ + 4 SO42- 2 Fe3+ + 3 SO42- + S + 4 H2O Phương trình ion rút gọn:
2 Fe + 8 H+ + SO42- 2 Fe3+ + S + 4 H2O
* Với cách giải trên học sinh đã phạm một sai lầm ở câu (c) - đó là nhìn
phương trình ion rút gọn, ta thấy ion SO42- có tính oxi hoá, nhưng thực chấtion SO42- không có tính oxi hóa, mà tính oxi hoá là của cả phân tử H2SO4
Ví dụ 2: X là một oxit sắt trong 3 oxit: FeO, Fe2O3, Fe3O4 có % khối lượng
sắt trong oxit là 72,41 % Cho biết CTPT của X, tính thể tích dd HNO3 0,7 Mcần thiết để hoà tan hết 69,6 gam X, biết phản ứng giải phóng khí NO duynhất
A Fe2O3, 4 l B Fe3O4 , 4l C Fe2O3, 5l D Fe3O4, 4/7l
* Phân tích: Với bài toán này thấy ngay oxit sắt phải có tính khử, vì vậy X
có thể là FeO hoặc Fe3O4 , đối chiếu đáp án học sinh sẽ chọn ngay là đáp án B
hoặc D Việc tính thể tích HNO3 học sinh sẽ áp dụng phương pháp bảo toànelectron như sau:
- Qúa trình oxi hoá:
* Với cách giải trên học sinh đã phạm một sai lầm là viết quá trình khử để
tính số mol HNO3 thì số mol HNO3 trong quá trình đó là lượng HNO3 thamgia phản ứng oxi hoa - khử, còn lượng HNO3 trong cả quá trình phản ứng thìcòn phải tính thêm lượng HNO3 tham gia phản ứng axit – bazơ với Fe3O4 Vìvậy ta có cách giải khác như sau:
- PTHH:
3 Fe3O4 + 28 HNO3 9 Fe(NO3)3 + NO + 14 H2O (*)
Mol: 0,3 - 2,8
Trang 9Theo PTHH (*) Số mol HNO3 là: 2,8 Thể thích dd HNO3 là 2,8/0,7 = 4 (lít) Chọn đáp án B
3 Tránh những “bẫy” về cách hiểu và vận dụng kiến thức
Kiến thức hóa học phổ thông vừa phong phú vừa đa dạng, vừa lí thuyếtvừa thực nghiệm, vừa trừu tượng và vừa cụ thể, nên việc mắc sai lầm tronghọc tập là điều khó tránh khỏi Giáo viên nên có những dự đoán về sai lầm đểtạo tình huống có vấn đề trong bài tập, phần nào giúp học sinh hiểu đượcnhững sai lầm đó qua hoạt động giải bài tập, tránh mắc phải những tình huốngtương tự sau khi đã hiểu kiến thức một cách chính xác
Ví dụ 3: Đốt cháy hoàn toàn 14,4 gam một hiđrocacbon A thu được 44,0
gam CO2 Tìm CTPT của hyđrocacbon A
* Phân tích: Với bài tập này nhiều học sinh đưa ra lời giải như sau:
Từ giả thiết nCO2 = 44
mH = 1: 2,4 = 5: 12 Vậy CTPT của hyđrocacbon A là: C5H12
* Với cách giải trên nhiều học sinh đã phạm sai lầm là nhầm lẫn giữa công
thức thực nghiệm và CTPT, thực chất của việc giải trên là mới chỉ tìm ra đượccông thức thực nghiệm, để có CTPT ta phải giải như sau
- Như trên ta tìm được:
nCO2 = 1,0 (mol), từ mH = 2,4 gam nH2O = 1
2nH = 1,2 molDo: nH2O > nCO2 nên A là ankan, có công thức tổng quát là CnH2n + 2,
với n = nCO2
nA = 1, 2 1, 01,0
= 5
Vậy CTPT của hyđrocacbon A là: C5H12
Ví dụ 4 Cho biết điểm sai của một số cấu hình electron sau và sửa lại cho
đúng?
a 1s22s12p5
b 1s22s22p63s23p64s23d2
c 1s22s22p64s2
* Phân tích: Đây là một bài tập kiểm tra kiến thức về víêt cấu hình electron.
Vậy học sinh phải hiểu khái niệm về cấu hình electron và phương pháp viếtcấu hình electron, cụ thể là:
Bước 1 Mức năng lượng: 1s 2s2p 3s3p 4s3d4p 5s4p5d…
Bước 2 Hiểu rõ các quy tắc viết cấu hình electron: Sắp xếp các phân lớp
theo đúng trật tự của từng lớp, trong mỗi lớp theo đúng thứ tự phân lớp
Với kiến thức này học sinh sẽ áp dụng giải quyết vấn đề trên
a 1s22s12p5
Trang 10- Điểm sai: Vi phạm về việc sắp xếp electron theo trật tự mức năng lượng.
- Sửa lại: Chủ yếu học sinh chỉ sửa lại theo kết quả 1s22s22p4 (bảo toàn e),
như vậy học sinh đã làm đúng nhưng còn thiếu một kết quả: 1s22s22p5
b 1s22s22p63s23p64s23d2:
- Điểm sai: Đây là mức năng lượng chứ không phải là cấu hình electron, vì
vậy hầu hết sẽ sửa lại là 1s22s22p63s23p63d24s2
- Tuy nhiên từ cấu hình electron trên học sinh có thể sửa theo kết quả khôngbảo toàn electron 1s22s22p63s23p64s2 cũng thoã mãn
* Một số học sinh có thể không dừng lại bảo toàn electron mà thấy rằng lớp
thứ 3 còn thiếu electron nên có thể viết lại cấu hình trên với kết quả1s2222p63s23p63d104s2
* Một số học sinh nắm vững về cấu hình electron có thể còn đưa ra 9 kết
quả khác nữa: 1s22s22p63s23p63dx4s2 với x là: 0, 1, 2, 3, 5, 6, 7, 8, 10
Ví dụ 5 Xác định sản phẩm chính của phản ứng sau:
CH2 = CH – COOH + HCl
* Phân tích: Đây là một câu hỏi về phản ứng cộng hợp của tác nhân bất đối
xứng và liên kết đôi C = C Để giải quyết vấn đề này học sinh phải vận dụng
quy tắc Maccopnhicop: Trong phản ứng cộng axit hoặc nước (kí hiệu chung
là HA) vào liên kết C=C, H (phần mang điện tích dương) ưu tiên cộng vào C mang nhiều H hơn (cacbon bậc thấp hơn), còn A (phần tử mang điện tích âm)
ưu tiên cộng vào C mang ít H hơn (cacbon bậc cao hơn)
CH2Cl – CH2 – COOH
Ví dụ 6: Cho lượng dư bột kim koại Fe tác dụng với 250 ml dung dịch
HNO3 4M đun nóng và khuấy đều hỗn hợp Phản ứng xảy ra hoàn toàn và giảiphóng ra khí NO duy nhất Sau khi kết thúc phản ứng, đem lọc bỏ kết tủa thuđược dung dịch A Làm bay hơi cẩn thận dung dịch A thu được muối khan,nung nóng lượng muối khan đó ở nhiệt độ cao để phản ứng nhiệt phân xảy ra
hoàn toàn, thu được m gam chất rắn và x (mol) hỗn hợp gồm 2 khí.
Trang 11a Viết các phương trình phản ứng xảy ra.
b Tìm m và x
* Phân tích: Với bài tập này học sinh sẽ tập trung vào việc chú ý đến tính
chất oxi hóa mạnh của HNO3, vì vậy các em sẽ giải quyết bài toán bằng việcviết các phương trình hoá học:
Fe + 4 HNO3 Fe(NO3)3 + NO + 2 H2O (1)
- Dung dịch A có Fe(NO3)3 quá trình cô cạn A không xảy ra sự nhiệt phânmuối, vậy muối khan là Fe(NO3)3, nhiệt phân muối này sẽ xảy ra phương trìnhhoá học sau:
4 Fe(NO3)3 t C0
2 Fe2O3 + 12 NO2 + 3O2 (2)
- Vậy chất rắn thu được là Fe2O3 và hỗn hợp khí thu được là NO2, O2
Từ giả thiết, do kim loại dư nên HNO3 hết
Vậy: nFe2O3 =1
8nHNO3 = 1
8.4.0,25 = 0,125 (mol) mFe2O3 = 0,125.160 = 20,0 (g)
nNO2 = 6nFe2O3 ; nO2 = 3
2.nFe2O3 nkhí = 15
2 nFe2O3 = 15
16(mol)
* Tuy nhiên với cách giải trên học sinh đã vấp “bẫy” là không chú ý dữ kiện
đây là kim loại Fe, khác với các kim loại khác ở chỗ là khi Fe dư thì sẽ xảy raphản ứng:
Fe + 2 Fe(NO3)3 3 Fe(NO3)2 (3)
Như vậy cách hiểu trên sẽ đem lại kết quả sai
- Vậy dung dịch A không phải có Fe(NO3)3 mà có Fe(NO3)2 và phương trìnhhoá học nhiệt phân muối xảy như sau:
4 Fe(NO3)2 2 Fe2O3 + 8 NO2 + O2 (4)
Do đó khối lượng chất rắn và số mol khí thu được là:
A M2O3, MH3 B MO3, MH2 C M2O7, MH D M2O, MH.
* Phân tích: Bài tập trên là một bài kiểm tra kiến thức học sinh về nội dung
bảng HTTH, để làm bài tập này, học sinh phải nắm vững kiến thức về CTTQcủa các loại hợp chất quan trọng: oxit cao nhất, hyđroxit, hợp chất khí vớihyđro của các nguyên tố nhóm IA đến VIIA Với kiến thức đó, các nguyên tốnhóm VIIA sẽ có công thức tổng quát về oxit cao nhất là R2O7 và công thứcvới hợp chất khí với hyđro là RH
Vậy chọn đáp án C.
* Tuy nhiên học sinh dễ mắc phải “bẫy” là với đặc điểm các nguyên tố
thuộc chu kỳ 2 thì kết quả trên lại sai Ở chu kỳ 2, nhóm VIIA là nguyên tố F,