Untitled VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI THÂN TRỌNG NHÂN BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT THEO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN, THÀN[.]
LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG , H Ỗ TR Ợ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ PHÁP LU Ậ T VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤ T
Lý lu ậ n v ề b ồi thườ ng, h ỗ tr ợ, tái định cư khi Nhà nướ c thu h ồi đấ t
1.1.1 Khái ni ệ m b ồi thườ ng, h ỗ tr ợ, tái định cư khi Nhà nướ c thu h ồi đấ t i) Khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Khái niệm bồi thường là một thuật ngữ quan trọng trong nhiều lĩnh vực pháp luật, bao gồm pháp luật dân sự, lao động, hình sự, bồi thường nhà nước và đất đai Đặc biệt, trong lĩnh vực pháp luật đất đai, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được hiểu là một quy trình cần thiết để đảm bảo quyền lợi cho người dân bị ảnh hưởng.
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi, theo quy định tại Khoản 6 Điều 4.
Bồi thường thiệt hại do thu hồi đất là quyền của người sử dụng đất bị thu hồi, nhằm bù đắp thiệt hại vật chất khi đất bị thu hồi để chuyển sang mục đích khác hoặc vì nhu cầu của Nhà nước và xã hội, theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp.
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có thể hiểu qua ba khía cạnh cơ bản: Thứ nhất, bồi thường là hệ quả trực tiếp của quyết định thu hồi đất từ Nhà nước; Thứ hai, chỉ những người sử dụng đất bị thu hồi vì lợi ích của Nhà nước và xã hội mới được bồi thường; Thứ ba, bồi thường nhằm bù đắp thiệt hại cho người sử dụng đất do việc thu hồi gây ra.
Như vậy, theo tác giả, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được hiểu như sau:
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất,
Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp (2006) trong Từ điển Luật học nêu rõ rằng việc bù đắp thiệt hại về tài sản gắn liền với đất và các thiệt hại khác cho người có đất bị thu hồi là cần thiết Điều này nhằm phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, và phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia và công cộng, theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh các đặc điểm chung của bồi thường thì bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất còn có một số đặc điểm chủ yếu sau đây:
Nhà nước thu hồi đất của người sử dụng để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Việc bồi thường chỉ được thực hiện khi đất bị thu hồi cho các mục đích chung của Nhà nước và xã hội, mà không phải do lỗi của người sử dụng đất.
Không phải mọi người sử dụng đất đều được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, hoặc phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia và công cộng Chỉ những người sử dụng đất đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật mới được nhận bồi thường.
Giá đất bồi thường phụ thuộc vào quyết định của Nhà nước, nghĩa là người sử dụng đất không có quyền thương lượng hay yêu cầu về giá bồi thường Họ phải chấp nhận mức giá do Nhà nước quy định tại thời điểm thu hồi đất Tuy nhiên, để đảm bảo sự đồng thuận của người dân, tổ chức thực hiện bồi thường và giải phóng mặt bằng cần lấy ý kiến của những người bị thu hồi đất khi xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Người sử dụng đất sẽ được bồi thường không chỉ về đất và tài sản trên đất, mà còn được Nhà nước hỗ trợ các vấn đề xã hội như tìm chỗ ở mới, đào tạo nghề, và sắp xếp công việc để ổn định cuộc sống và sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trường, việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất cần áp dụng các biện pháp kinh tế thay vì chỉ dựa vào chính trị - hành chính Đất đai là vấn đề phức tạp và nhạy cảm, ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh chính trị, kinh tế và xã hội Do đó, cần hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư, người bị thu hồi đất và những người hưởng lợi từ việc thu hồi đất thông qua các biện pháp tổng hợp như vận động, giáo dục, thuyết phục và các biện pháp kinh tế.
Tinh thần đoàn kết "tương thân, tương ái" trong cộng đồng thể hiện qua việc hỗ trợ mọi mặt để giúp người dân vượt qua khó khăn như thiên tai, lũ lụt, và hỏa hoạn Đây là biểu hiện của sự nhân văn trong truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Việt Nam Hoạt động này được gọi là hỗ trợ, có nghĩa là "giúp thêm, góp thêm vào" theo Từ điển Tiếng Việt.
Hỗ trợ là sự giúp đỡ của cộng đồng nhằm giảm bớt khó khăn cho cá nhân hoặc nhóm người trong cuộc sống, bao gồm hỗ trợ tinh thần và vật chất Thuật ngữ này không chỉ xuất hiện trong đời sống xã hội mà còn trong lĩnh vực pháp luật Pháp luật đất đai đề cập đến hỗ trợ vì đất đai là tư liệu sản xuất và tiêu dùng quan trọng Khi Nhà nước thu hồi đất, người sử dụng đất đối mặt với khó khăn như mất công ăn việc làm và nơi ở Để giúp họ ổn định cuộc sống, bên cạnh bồi thường, Nhà nước cần thực hiện hỗ trợ.
Năm 2013, quan niệm về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất được định nghĩa là việc Nhà nước giúp đỡ người có đất bị thu hồi nhằm ổn định đời sống, sản xuất và phát triển (khoản 14 Điều 3) Đồng thời, khái niệm tái định cư cũng được đề cập khi Nhà nước thực hiện thu hồi đất.
2 Từ điển tiếng Việt thông dụng (2001), Sdd, tr.332
Hiến pháp năm 2013 quy định quyền có chỗ ở là một trong những quyền cơ bản của công dân, và Nhà nước có trách nhiệm thực hiện tái định cư cho người sử dụng đất khi thu hồi đất Tái định cư được hiểu là việc đến một nơi nhất định để sinh sống lại Mặc dù Luật Đất đai năm 2013 đã đề cập đến thuật ngữ này, nhưng chưa giải thích cụ thể nội hàm của nó Theo quy định, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất, đảm bảo khu tái định cư có cơ sở hạ tầng đồng bộ và phù hợp với điều kiện địa phương Việc thu hồi đất chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái định cư Tái định cư là việc cơ quan nhà nước chuẩn bị nơi ở mới cho người có đất bị thu hồi, giúp họ ổn định cuộc sống theo quy định của pháp luật.
1.1.2 Ý nghĩa củ a b ồi thườ ng, h ỗ tr ợ, tái định cư khi Nhà nướ c thu h ồi đấ t i) Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trước hết là nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia, công cộng
Lý lu ậ n pháp lu ậ t v ề b ồi thườ ng, h ỗ tr ợ, tái định cư khi Nhà nướ c thu h ồi đấ t …
2.2.1 Khái ni ệ m pháp lu ậ t v ề b ồi thườ ng, h ỗ tr ợ, tái định cư khi Nhà nướ c thu h ồ i đấ t
Các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được quy định trong Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, khái niệm pháp luật liên quan đến vấn đề này chưa được giải thích chính thức trong Điều 3 của Luật Dựa trên khái niệm về pháp luật và nội dung các quy định hiện hành, có thể hiểu rằng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là một lĩnh vực quan trọng cần được làm rõ hơn.
Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là một phần quan trọng của pháp luật đất đai Nó bao gồm các quy định pháp lý do Nhà nước ban hành, được thực thi bằng sức mạnh cưỡng chế nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Mục tiêu của chế định này là đảm bảo tính công khai, minh bạch, công bằng, dân chủ và tuân thủ pháp luật.
Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở nước ta có một số đặc điểm cơ bản sau:
Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được chi phối bởi chế độ sở hữu toàn dân về đất đai Theo quan điểm của Đảng và Hiến pháp, đất đai thuộc về toàn dân, với Nhà nước là đại diện chủ sở hữu Do đó, Nhà nước có quyền thu hồi đất khi cần thiết và người sử dụng đất sẽ được bồi thường thiệt hại.
Pháp luật quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm các quy định cụ thể về nội dung và hình thức.
Các quy định về nội dung liên quan đến việc thu hồi đất của Nhà nước bao gồm đối tượng và điều kiện bồi thường, nguyên tắc hỗ trợ và tái định cư, giá đất bồi thường, thẩm quyền thu hồi đất, cũng như xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.
Các quy định về hình thức bao gồm trình tự và thủ tục thu hồi đất phục vụ mục đích quốc phòng - an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia và công cộng Ngoài ra, còn có quy định về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thực hiện thu hồi đất.
Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thuộc lĩnh vực pháp luật công, điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và người bị thu hồi đất Nhà nước thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người dân với vai trò đại diện cho chủ sở hữu toàn dân về đất đai, dựa trên quyền lực công.
Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam đang được hoàn thiện trong bối cảnh sử dụng đất thường xuyên biến động và công tác quản lý đất đai còn nhiều hạn chế.
Sử dụng đất ở Việt Nam đang gặp nhiều biến động về diện tích, loại đất và chủ sử dụng, với tình trạng lấn chiếm và sử dụng đất sai mục đích diễn ra thường xuyên Công tác quản lý đất đai còn lỏng lẻo, cơ sở dữ liệu và đăng ký đất đai còn nhiều hạn chế Việc xác lập quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân được thực hiện bởi nhiều cơ quan khác nhau, dẫn đến sự phức tạp trong các loại giấy tờ liên quan Những vấn đề này gây khó khăn trong việc xây dựng và hoàn thiện các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
2.2.2 C ấ u trúc c ủ a pháp lu ậ t b ồi thườ ng, h ỗ tr ợ, tái đị nh c ư khi Nhà nướ c thu h ồ i đấ t
Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm các quy định liên quan đến bồi thường về đất, tài sản, và đình trệ hoạt động sản xuất - kinh doanh Nó cũng quy định về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, tái định cư, thẩm quyền, trình tự và thủ tục thu hồi đất cùng với bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Ngoài ra, còn có quy định về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại liên quan đến bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Cấu trúc của lĩnh vực pháp luật này rất đa dạng và phức tạp.
Các quy định chung về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm phạm vi và đối tượng được bồi thường, điều kiện để nhận bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cũng như các trường hợp không được bồi thường Ngoài ra, còn có các quy định về căn cứ thu hồi đất và nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong quá trình thu hồi đất.
Phạm vi và đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm các quy định về việc bồi thường cho các mục đích quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư gồm hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, cơ sở tôn giáo, và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Căn cứ thu hồi đất là các quy định cho phép Nhà nước thu hồi đất nhằm mục đích quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Những quy định này không chỉ cho phép mà còn giới hạn quyền của Nhà nước trong việc thu hồi đất, theo đó, Nhà nước chỉ được thực hiện thu hồi đất trong các trường hợp được pháp luật đất đai quy định.
Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là cơ sở quan trọng cho việc thực hiện các quyền lợi của người bị thu hồi đất Người bị thu hồi đất sẽ được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định Việc bồi thường có thể được thực hiện bằng cách giao đất có cùng mục đích sử dụng hoặc bồi thường bằng tiền nếu không có đất thay thế Giá đất để tính bồi thường do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm thu hồi Quy trình thu hồi đất cần đảm bảo tính dân chủ, công bằng và đúng pháp luật Điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phụ thuộc vào nhiều yếu tố như hình thức sử dụng đất, thời điểm và nghĩa vụ tài chính Pháp luật quy định rõ ràng các điều kiện và trường hợp không được bồi thường dựa trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho người có đất bị thu hồi khi họ đủ điều kiện theo quy định.
Các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm các điều khoản cụ thể cho đất nông nghiệp và phi nông nghiệp, cũng như các trường hợp đặc biệt khác.