1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương

53 424 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương
Trường học University of Economics and Law, Vietnam National University Ho Chi Minh City
Chuyên ngành Tín dụng và Quản trị Doanh nghiệp
Thể loại Đề tài luận văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Buôn Ma Thuột
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 497,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương

Trang 1

PHẦN THỨ NHẤT

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Với bất cứ một quốc gia nào, bất cứ một nền kinh tế nào thì vốn luôn là yếu

tố hàng đầu quyết định sự tăng trưởng kinh tế

Từ một nước nông nghiệp lạc hậu sản xuất không đủ tiêu dùng, Việt Nam đã

và đang từng bước vươn lên, bước đầu khẳng định được uy tín, chinh phục đượcmọi thị trường, chiếm lĩnh thị trường lớn, ổn định góp phần nâng cao vị thế củamình trên trường quốc tế Hiện nay với cơ chế mở cửa, các thành phần kinh tế hoạtđộng một cách bình đẳng theo pháp luật Nhiều loại hình doanh nghiệp ra đời vàphát triển mạnh mẽ, cùng với nó là sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệptrong nước cũng như nước ngoài đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mớicông nghệ, trang thiết bị và mở rộng sản xuất

Theo dự tính trong tương lai thì nhu cầu vốn ngày càng tăng nhằm đáp ứngyêu cầu của sản xuất kinh doanh tạo ra năng lực mới nâng cao khả năng cạnh tranhcủa các doanh nghiệp Để hoạt động kinh doanh được phát triển và cạnh tranh đượctrên thị trường các doanh nghiệp cần phải đầu tư một lượng vốn không nhỏ, mà vốn

tự có của doanh nghiệp chỉ đáp ứng được một phần nào như cầu vốn của họ Đặcbiệt là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ do vốn tự có ít nên nhu cầu về vốn là rấtcấp thiết Vì vậy ngân hàng chính là nơi mà các doanh nghiệp này tìm đến để giảiquyết các khâu về vốn

Tín dụng của các ngân hàng thương mại là một trong những hình thức đápứng nhu cầu về vốn đối với các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp vừa

và nhỏ nói riêng Tuy nhiên trong những năm qua, vấn đề tín dụng đối với cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ gặp không ít những khó khăn như: sự an toàn, chất lượng,

Trang 2

hiệu quả… đặc biệt là vấn đề chất lượng của các khoản tín dụng Đây là mối quantâm hàng đầu của các ngân hàng trong đó có Ngân hàng TMCP Công thương ViệtNam chi nhánh Đăk Lăk Nâng cao chất lượng tín dụng luôn là một vấn đề cấp thiết

và quan trọng đối với các ngân hàng, vì chất lượng tín dụng liên quan trực tiếp đếnquá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Chính vì lý do đó mà em đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Đăk Lăk” làm đề tài cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lý luận về tín dụng, chất lượng tín dụng, doanh nghiệp vừa

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàngTMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Đăk Lăk

1.4 Phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Phạm vi về nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề về chất lượng tín dụng và đề xuất một số giải phápnâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàngTMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Đăk Lăk

1.4.2 Phạm vi về không gian

Trang 3

Đề tài được thực hiện nghiên cứu tại Ngân hàng TMCP Công thương ViệtNam chi nhánh Đăk Lăk, có trụ sở đặt tại 35 Nguyễn Tất Thành – TP.Buôn MaThuột - Tỉnh Đăk Lăk.

1.4.3 Phạm vi về thời gian

Thời gian của số liệu được thu thập, sử dụng trong nghiên cứu là từ năm2008-2010

PHẦN THỨ HAI TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

Tín dụng là một quan hệ vay mượn tài sản (tiền tệ hoặc hàng hóa) được dựatrên nguyên tắc có hoàn trả cả vốn lẫn lời sau một thời gian nhất định

Một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (trái chủ, người cho vay) cungứng tiền, hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng khoán dựa vào lời hứa thanh toán lại trongtương lai của bên kia (người thụ trái, người đi vay) [3]

2.1.1.2 Sự cần thiết của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế.

Tín dụng được coi là mối quan hệ vay mượn lẫn nhau giữa người cho vay vàngười đi vay trong điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định

Trang 4

Hay nói một cách khác: Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệkinh tế mà trong đó mỗi cá nhân hay một tổ chức nhường quyền sử dụng một khốilượng giá trị hoặc hiện vật cho một cá nhân hay một tổ chức khác với những ràngbuộc nhất định về thời gian hoàn trả, lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi.

Trong quan hệ mua bán chịu, thông thường giá bán chịu hàng hoá cao hơngiá bán trao tiền ngay, phần chênh lệch này chính là lãi của hàng hoá đem bán chịu.Quan hệ mua bán chịu chỉ diễn ra giữa các đơn vị liên quan trực tiếp với nhau Vìvậy nó không đáp ứng được nhu cầu vay mượn ngày càng tăng của nền sản xuấthàng hoá Mặt khác, do đặc điểm tuần hoàn vốn trong quá trình tái sản xuất, xã hộithường xuyên xuất hiện hiện tượng thừa vốn tạm thời ở các tổ chức cá nhân này vànhu cầu thiếu vốn ở các tổ chức cá nhân khác Hiện tượng thừa thiếu vốn phát sinh

do có sự chênh lệch về thời gian sử dụng vốn của tổ chức hay cá nhân đó Trong khi

đó số lượng các khoản thu nhập và chi tiêu ở các tổ chức cá nhân trong quá trình táisản xuất đòi hỏi phải được tiến hành liên tục Vậy để khắc phục tình trạng này thìchỉ có ngân hàng – một tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ mới có khả năng giảiquyết được những mâu thuẫn đó

xã hội

Trang 5

Với tư cách là người cho vay: Ngân hàng đáp ứng nhu cầu cho các doanhnghiệp, tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung trong hoạt độngsản xuất kinh doanh và tiêu dùng Với vai trò này, ngân hàng đã thực hiện chứcnăng phân phối lại vốn, tiền tệ để đáp ứng nhu cầu tái sản xuất xã hội.

Đây là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó luôn đápứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt đầy đủ và kịp thời

Có thể thấy rõ hơn khái niệm về tín dụng ngân hàng qua ví dụ sau :

Với lợi thế về du lịch Việt Nam đang ngày càng thu hút nhiều du khách nướcngoài “trở thành điểm đến của thiên niên kỷ mới”, do vậy số lượng khách du lịchđến Việt Nam sẽ tăng lên Nếu biết tận dụng cơ hội này thì việc xây dựng nên kháchsạn không những đem lại lợi nhuận cho chính bản thân mà còn đem lại sự pháttriển cho nền kinh tế Nhưng để xây dựng được khách sạn đủ khả năng cạnh tranhthì cần có lượng vốn rất lớn mà nguồn vốn của chính bản thân thì khó có thể đápứng Trong khi đó có một số người khác có món tiết kiệm do tích luỹ được trongnhiều năm, tạm gọi là lượng tiền nhàn rỗi Nếu hai bên gặp được nhau và bên đốitác sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vốn thì kế hoạch sẽ trở thành hiện thực Tuy nhiên,khả năng gặp mặt giữa hai bên có xảy ra không? Trong nền kinh tế thị trường, hàngngày hàng giờ không biết xảy ra bao nhiêu mối quan hệ như vậy Nó đã hình thànhnên: một bên là những người có tiền tích luỹ, có khả năng cung cấp và phía bên kia

là những người có nhu cầu vay cho đầu tư phát triển Như vậy nảy sinh vấn đề làlàm như thế nào để họ có thể tìm gặp được nhau và làm thế nào để cùng một lúcthoả mãn được nhu cầu vốn đa dạng và to lớn trong khi các nguồn tiết kiệm cònđang nằm phân tán trong xã hội Không phải bất kì ai cũng có khả năng hoặc đầu tưvay vốn trên thị trường tài chính, ngoài ra khi giao dịch trên thị trường tài chính đòihỏi chi phí về tiền bạc và thời gian rất lớn Do đó các ngân hàng thương mại vớichức năng cơ bản là trung gian tài chính, hoạt động như một chiếc cầu nối liền giữa

Trang 6

khả năng cung ứng và nhu cầu về vốn tiền tệ trong xã hội đã cơ bản giải quyết đượcnhững vấn đề nẩy sinh trên Đồng thời với tư cách là một trung gian, tín dụng ngânhàng đóng vai trò là người môi giới giữa một bên là người có tiền cho vay và mộtbên là người có nhu cầu vay vốn Thông qua cơ chế thị trường bằng những biệnpháp kinh tế năng động và áp dụng các phương pháp kĩ thuật theo hướng hiện đạitiên tiến, ngân hàng có khả năng thu hút hầu hết những nguồn vốn tiền tệ tiết kiệm

dự trữ trong xã hội để chuyển giao đúng nơi, đúng lúc phù hợp với nhu cầu vốntrong sản xuất kinh doanh Chính nhờ có tín dụng ngân hàng mà những đồng tiềntạm thời nhàn rỗi đã trở thành tiền hoạt động, biến những đồng tiền phân tán thànhnguồn vốn tập trung phục vụ cho nhu cầu kinh doanh Qua đó thúc đầy hoạt độngsản xuất kinh doanh giúp cho nền kinh tế ngày càng phát triển

2.1.1.3 Các loại tín dụng ngân hàng

Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung:

• Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử

dụng

• Sự chuyển nhượng này có thời hạn

• Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí

Tín dụng ngân hàng (sau đây gọi tắt là tín dụng) có thể phân chia thành ranhiều loại khác nhau tùy theo những tiêu thức phân loại khác nhau

Dựa vào mục đích của tín dụng:

Theo tiêu thức này tín dụng ngân hàng có thể phân chia thành các loại sau:

• Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp

• Cho vay tiêu dùng cá nhân

Trang 7

• Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu

Dựa vào thời hạn tín dụng:

Theo tiêu thức này tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:

• Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới một năm.

Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tàisản lưu động

• Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 1 năm đến 5

năm Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tàisản cố định

• Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm Mục

đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào các dự

án đầu tư

Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng:

• Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sảnthế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín củabản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay

• Cho vay có đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảođảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ banào khác

Dựa vào phương thức cho vay:

• Cho vay theo hạn mức tín dụng

Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay:

• Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợmột lần khi đáo hạn

Trang 8

• Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp.

• Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn trả nợ cụ thể

mà tùy khả năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.[3]

2.1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng

Để có thể nâng cao được chất lượng tín dụng ngân hàng đối với doanhnghiệp (cả về ngân hàng và doanh nghiệp sản xuất kinh doanh) ta phải hiểu rõ cácnhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng để từ đó phát huy những ảnhhưởng tích cực cũng như hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực Mặt khác cả ngân hàng

và doanh nghiệp phải cố gắng linh hoạt để phù hợp với quy định của Nhà nướctrong hoạt động tín dụng Có như thế thì cả ngân hàng và doanh nghiệp mới đề racác biện pháp đúng đắn, cụ thể, linh hoạt để đạt được mục tiêu hoạt động của mìnhmột cách tốt nhất Sau đây chúng ta lần lượt nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đếnchất lượng tín dụng ngân hàng thuộc về ngân hàng và doanh nghiệp

- Chính sách tín dụng

Đây là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của Ngân hàng, nó có ý nghĩaquyết định sự thành công hay thất bại của Ngân hàng Chính sách tín dụng phải phùhợp với đường lối phát triển kinh tế của đảng và nhà nước, đồng thời kết quả hàihòa giữa quyền lợi của người gửi tiền, của ngân hàng và người sử dụng vốn vay.Muốn vậy, chính sách tín dụng phải được xây dựng trên cơ sở khoa học và thựctiễn

- Thông tin tín dụng

Nhờ có thông tin tín dụng mà người quản lý có thể đưa ra những quyết địnhcần thiết liên quan đến việc cho vay, quản lý đảm bảo tiền vay, giảm thiểu rủi ro tíndụng, nâng cao hiệu quả tín dụng Thông tin tín dụng có thể thu thập được từ nguồnthông tin sẵn có của ngân hàng hoặc từ trung tâm thông tin tín dụng (CIC), từ kháchhàng, từ đối thủ cạnh tranh hoặc nói cách khác từ nguồn trực tiếp hay gián tiếp, từcác nguồn thông tin của cơ quan pháp luật

Trang 9

- Công tác tổ chức Ngân hàng

Nhân tố này không chỉ tác động đến chất lượng tín dụng mà tác động đếnmọi hoạt động của ngân hàng Một Ngân hàng có cơ cấu tổ chức đựơc sắp xếp mộtcách khoa học, sự phân công công việc được tiến hành một cách cụ thể, có sự liênkết giữa các bộ phận thì việc đáp ứng các yêu cầu của khách hàng sẽ được thựchiện kịp thời, không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, quản lý có hiệu qủa và an toàn cáckhoản tín dụng

- Chất lượng nhân sự

Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanhnói chung, còn nói đến hoạt động Ngân hàng thì nó lại càng quan trọng Vì cán bộcông nhân viên của Ngân hàng là bộ mặt, hình ảnh của Ngân hàng đối với kháchhàng Hơn nữa nghiệp vụ ngân hàng càng ngày càng phát triển đòi hỏi chất lượngnhân sự ngày càng cao Việc tuyển dụng nhân viên có đạo đức tốt, giỏi chuyên mônnghiệp vụ sẽ giúp ngân hàng ngừa tối đa những sai phạm có thể xẩy ra để đem lạimột khoản tín dụng có chất lượng

- Công tác kiểm soát nội bộ

Đây là công tác mà Ngân hàng nào cũng cần tiến hành thường xuyên, liêntục nhằm duy trì chất lượng, hiệu quả kinh doanh của mình phù hợp với các chínhsách, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đã đề ra Để làm tốt công tác này, Ngân hàng cầnsắp xếp một đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, trung thực làm nhiệm vụnày và có chế độ thưởng, phạt nghiêm minh Có như thế, công tác tín dụng mớiđược thực hiện đúng quy trình nhằm nâng cao chất lượng tín dụng

Nhân tố thuộc về doanh nghiệp

- Năng lực của doanh nghiệp

Không một doanh nghiệp nào đi vay lại không muốn món vay đem lại hiệu

quả Nhưng nhiều khi do năng lực có hạn chế, họ không thực hiện được mục đíchcủa mình và làm ảnh hưởng đến khoản tín dụng mà họ đã nhận từ ngân hàng

- Trình độ quản lý của các nhà doanh nghiệp

Do trình độ của nhiều nhà lãnh đạo còn nhiều hạn chế về học vấn, kiếm thứccũng như kinh nghiệm thực tế nên nhiều khi họ không dự đoán được những biếnđộng của thị trường, yếu kém Marketing sản phẩm Do sự bảo thủ của nhiều nhà

Trang 10

quản lý không dám đổi mới khiến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không cóhiệu quả, dẫn đến tình trạng không thu hôi hết được vốn và làm ảnh hưởng đến hiệuquả của doanh nghiệp từ đó ảnh hưỏng đến chất lượng của khoản tín dụng đã sửdụng.

- Đạo đức của người đi vay

Ngân hàng chỉ quyết định cho vay sau khi đã phân tích kỹ các yếu tố có liênquan đến khả năng của người vay trong việc hoàn trả nợ và cách thức sử dụng vốnvay Nhưng thông tin này có thể bị thay đổi sau khi doanh nghiệp nhận được tiềnvay Thực tế, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng vốn vay không hợp lý dẫn đến khôngđạt đựơc hiệu quả sản xuất kinh doanh Còn có nhiều ngừơi có ý tham nhũng và kếtquả là hiệu quả sử dụng vốn vay Ngân hàng kém thậm chí không thu hồi được Vìvậy, công tác kiểm tra, giám sát của ngân hàng là rất quan trọng

Các nhân tố khách quan khác

Ngoài những nhân tố chủ quan trên còn nhiều nhân tố khách quan mà tácđộng của nó cũng không nhỏ đến chất lượng của các khoản tín dụng ngân hàng

- Tác động của môi trường kinh tế

Đây là nhân tố luôn ảnh hưởng đến khả năng tài chính của người vay hay nói

rõ hơn là nếu môi trường kinh tế xấu làm cho hoạt động của doanh nghiệp gặp khókhăn, ảnh hưởng đến thời hạn trả nợ và khả năng hoàn trả món vay cho ngân hàng

đo đó ảnh hưởng đến chất lượng của khỏan tín dụng đó của ngân hàng Ngược lạinếu môi trường kinh tế thuận lợi sẽ giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp thuận lợi, thu hồi được vốn nhanh đồng thời lợi nhuận thu được sẽcao và từ đó khả năng trả nợ của doanh nghiệp, khỏan vay sẽ được trả đúng hạn,khoản tín dụng ngân hàng sẽ có chất lượng tốt

- Tác động của môi trường pháp lý

Ngân hàng là một doanh nghiệp luôn phải hoạt động trong hành lang pháp lýhẹp hơn bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất hay thương mại nào Vì vậy, một hệthống pháp lý càng hoàn chỉnh, đồng bộ thì sẽ càng đem lại hiệu quả hoạt động củangân hàng, của các doanh nghiệp và đảm bảo đựơc chất lượng tín dụng của cácdoanh nghiệp đó với ngân hàng Còn nếu môi trường pháp lý không hoàn chỉnh, cónhiểu lỗ hổng thì kết quả sẽ ngược lại cho cả ngân hàng và các doanh nghiệp từ đó

Trang 11

làm cho chất lượng của các khỏan tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp sẽ xấu

và khó có thể thu hồi

- Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước baogồm các chính sách tài chính tiền tệ, chính sách lãi suất, chính sách đối ngoại cóvai trò quan trọng đối với hoạt động của nền kinh tế nói chung và hoạt động của cácngân hàng, các doanh nghiệp nói riêng Chính sách kinh tế trong hoàn cảnh này thì

có tác dụng cho cả ngân hàng và doanh nghiệp nhưng trong hoàn cảnh khác thì lạingược lại Các chính sách này nhằm ưu tiên phát triển hay hạn chế một ngành nào

đó để đảm bảo cân đối cho nền kinh tế Do vậy các chủ trương, chính sách của Nhànước phải đúng đắn thì mới thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, là điều kiệncần để đạt được chất lượng và hiệu quả của các khoản tín dụng ngân hàng

- Các yếu tố thiên tai gây nên

Chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhiều khi mang tính thời vụ.Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của Nhà nước có thành phần kinh tế Nhànước, trong đó doanh nghiệp trong các ngành nông – lâm – ngư nghiệp lại chiếmmột tỷ lệ không nhỏ thì yếu tố này rất quan trọng Khi thiên tai xảy ra như: lũ lụt,hạn hán, mưa bão, hỏa hoạn, làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp bị đổ bể, dẫn đến khả năng hoàn trả các khoản nợ là khó khăn hoặckhông thể, làm cho chất lượng của các khoản tín dụng bị giảm sút

2.1.2 Doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.1.2.1 Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ

Điều 3 của Nghị định 56/2009/NĐ-CP định nghĩa Doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau: “là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) [8]

2.1.2.2 Các chỉ tiêu xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 12

Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ làdoanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượnglao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động.[8]

Ở Việt Nam, căn cứ vào những quy định tại điều 3 của Nghị định56/2009/NĐ-CP thì để xác định doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanhnghiệp vừa là dựa trên hai tiêu chí cơ bản là số lao động và tổng nguồn vốn Cụ thểnhư sau:

Bảng 2.1: Các tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ

Quy mô

Khu vực

Doanh nghiệp siêu nhỏ

Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

Số lao động

Tổng nguồn vốn Số lao động

Tổng nguồn vốn Số lao động

I Nông, lâm

nghiệp và

thủy sản

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến 200 người

từ trên 20 tỷ đồng đến 100

tỷ đồng

từ trên 200 người đến 300người

II Công

nghiệp và xây

dựng

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến 200 người

từ trên 20 tỷ đồng đến 100

tỷ đồng

từ trên 200 người đến 300người

Trang 13

III Thương

mại và dịch

vụ

10 người trở xuống

10 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến 50 người

từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷđồng

từ trên 50 người đến 100người

2.1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thểgiữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tươngđồng như sau:

• Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừathường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở ViệtNam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95%) Vì thế,đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể

• Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh

nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn Sự điềuchỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổnđịnh Vì thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa được ví là thanh giảm sốc cho nền kinhtế

• Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy

mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động

• Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanhnghiệp nhỏ và vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết đượcdùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh

• Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thườngđặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừalại có mặt ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngânsách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương

Trang 14

2.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng

2.1.3.1 Chỉ tiêu tỷ lệ cho vay

Tổng dư nợ

Tỷ lệ cho vay =

Tổng lượng vốn huy động tích lũy

Tỷ lệ này cho biết khả năng ngân hàng tận dụng nguồn vốn huy động tronghoạt động tín dụng

- Cơ cấu cho vay theo mức lãi suất và lãi suất cho vay bình quân Chỉ tiêunày cho thấy được mức lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng Nói chung, lãisuất cho vay bình quân phải lớn hơn lãi suất huy động bình quân thì ngân hàng mớihoạt động và có lãi

Để đánh giá chính xác chỉ tiêu này, người ta chia tỷ lệ nợ quá hạn ra làm hailoại: Tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi và tỷ lệ nợ quá hạn không có khả năngthu hồi

có khả năng thu hồi =

Nợ quá hạn có khả năng thu hồi

Nợ quá hạn

=

Trang 15

Nợ quá hạn

Hai chỉ tiêu này cho biết bao nhiêu phần trăm trong tổng nợ quá hạn có khảnăng thu hồi và bao nhiêu phần trăm trong tổng nợ quá hạn không có khả năng thuhồi Vì vậy, đánh giá thêm hai chỉ tiêu này sẽ cho phép đánh giá chính xác hơn chấtlượng tín dụng

2.1.3.3 Chỉ tiêu nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu =

Nợ xấu tức là các khoản tiền cho khách hàng vay mà không thể thu hồi lạiđược Tỷ lệ nợ xấu cho thấy phần trăm các khoản cho vay không có khả năng thuhồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng quá cao cho thấy hoạtđộng tín dụng của ngân hàng chưa tốt, gây ảnh hưởng đến hoạt đông kinh doanhdoanh của ngân hàng Tỷ lệ nợ xấu dưới 3% là ở mức tốt và tỷ lệ nợ xấu an toàn làdưới 5%

2.1.3.4 Hệ số thu nợ

Hệ số thu nợ =

Tỷ lệ này cho thấy khả năng thu hồi nợ vay của ngân hàng, tỷ lệ này càngcao cho thấy ngân hàng xóa được nhiều nợ, chất lượng các khoản tín dụng tốt Cáckhoản nợ thu được ngân hàng sẽ tiếp tục cho vay và tham gia vào nhiều hoạt độngkhác của ngân hàng, vốn được quay vòng nhanh sẽ làm cho lợi nhuận của ngânhàng tăng lên, thúc đẩy quá trình phát triển của ngân hàng Vì thế tỷ lệ này càng caocàng cho thấy hoạt động tín dụng có chất lượng tốt và hoạt động kinh doanh củangân hàng có hiệu quả

2.1.3.5 Chỉ tiêu trích lập dự phòng

Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng =

Nợ xấu

* 100 Tổng dư nợ

Doanh số thu nợ

* 100 Doanh số cho vay

Doanh số trích lập dự phòng

* 100 Tổng dư nợ

Trang 16

Dự phòng rủi ro là khoản tiền ngân hàng trích lập ra khi thực hiện cho vay đểphòng ngừa rủi ro xảy ra đối với các khoản vay Khi cho vay ngân hàng sẽ trích ra0,75% giá trị khoản vay để phòng ngừa trường hợp khách hàng trả chậm hoặckhông trả được nợ đã vay, nếu đến kỳ hạn trả nợ khách hàng chưa trả được nợ thìngân hàng sẽ phải trích lập dự phòng với tỷ lệ tùy theo thời gian trả chậm của kháchhàng và tùy theo tài sản đảm bảo của khoản nợ đó Tỷ lệ trích lập dự phòng cao sẽlàm cho lợi nhuận của ngân hàng giảm xuống, vì như thế có nghĩa là nợ quá hạn lớn

và ngân hàng phải trích lập dự phòng nhiều dẫn đến chi phí tăng và lợi nhuận giảmxuống

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Thực trạng các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay chiếm khoảng 96% tổng sốdoanh nghiệp trên toàn quốc với gần 120.000 doanh nghiệp Trong đó, doanhnghiệp Nhà nước chiếm 3,5%, còn lại chủ yếu là doanh nghiệp ngoài quốc doanhchiếm xấp xỉ 97% Các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực sản xuấtcông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm 17%, lĩnh vực xây dựng 14%, nôngnghiệp 14%, còn lại 55% số doanh nghiệp này hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ

Phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay thường hoạt động với mụctiêu hướng nội, trong một phạm vi không gian rất nhỏ nên trình độ quản lý, quản trịdoanh nghiệp thường khá yếu kém Kỹ năng sản xuất kinh doanh chủ yếu dựa vàokinh nghiệm bản thân hoặc gia đình Vì vậy khả năng lập kế hoạch kinh doanh tổchức và triển khai hoạt động sản xuất còn mang tính chất tự phát Mỗi khi có sựthay đổi về môi trường kinh doanh, bộ phận doanh nghiệp này sẽ gặp nhiều khókhăn để thích ứng

Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế đang diễn ra gay gắt trong lĩnh vực khoahọc công nghệ thì trình độ khoa học kỹ thuật của phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏViệt Nam đều sử dụng công nghệ lạc hậu từ 20-50 năm so với các nước trong khuvực Do vậy sản phẩm làm ra thường có giá trị công nghiệp thấp, hàm lượng chất

Trang 17

xám ít, giá trị thương mại và sức mạnh cạnh tranh kém so với các sản phẩm cùngloại của các quốc gia trong khu vực cũng như thế giới Bên cạnh đó, do hạn chế vềvốn nên khả năng quảng bá, tiếp cận thị trường trong nước và quốc tế của các doanhnghiệp vừa và nhỏ còn gặp nhiều khó khăn Phần lớn chưa xác lập được kênh bánhàng nên các sản phẩm làm ra vừa phải cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trongnước vừa phải cạnh tranh với các hàng hóa nhập khẩu

Phần lớn đều thiếu thông tin, đặc biệt là thông tin kinh doanh Những nguồnthông tin về thị trường đầu vào như thị trường vốn, thị trường lao động, thị trườngnguyên vật liệu Bên cạnh đó, những thông tin về môi trường kinh doanh như hệthống pháp luật, các văn bản liên quan đến doanh nghiệp vừa và nhỏ, thị trường tiêuthụ sản phẩm cũng chưa được cập nhật nên dẫn tới hậu quả là nhiều doanh nghiệpvừa và nhỏ sản xuất kinh doanh theo kiểu “thầy bói xem voi” nên bỏ lỡ nhiều cơ hộikinh doanh

Bên cạnh những yếu kém từ phía chủ quan của các doanh nghiệp vừa và nhỏ,còn phải kể đến những yếu tố khách quan kìm hãm sự phát triển của bộ phận doanhnghiệp này Đầu tiên phải kể đến là vẫn còn sự phân biệt đối xử giữa các doanhnghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủyếu thuộc thành phần kinh tế tư nhân ở nhiều nơi vẫn còn bị đối xử bất bình đẳngtrong các quan hệ giao dịch về đất đai, mặt bằng sản xuất, vay vốn, hệ thống thôngtin thị trường Vấn đề vốn hiện nay được coi là bức xúc nhất Hầu hết các doanhnghiệp vừa và nhỏ đều có nhu cầu vay vốn để đầu tư trang thiết bị khoa học kỹthuật nhưng đều vướng phải những hàng rào khó vượt qua về tài sản thế chấp nênrất khó tiếp cận các nguồn vốn vay Nhằm tháo gỡ những khó khăn về vấn đề này,

bộ tài chính đã có nhiều văn bản nhằm hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa vànhỏ thông qua quỹ bảo lãnh tín dụng như trình thủ tướng Chính phủ ban hành quyếtđịnh số 193/2001/QĐ-TTg về việc ban hành quy chế thành lập, tổ chức và hoạtđộng của quỹ bảo lãnh tín dụng; ban hành thông tư số 42/2002/TT-BTC ngày7/5/2002 hướng dẫn một số điểm quy chế thành lập tổ chức và hoạt động của quỹbảo lãnh tín dụng Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện nay, quỹ bảo lãnh tín dụngcho các doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như chưa được triển khai thành lập ở các địaphương Sở dĩ xuất hiện tình trạng này là do hầu hết các địa phương đều không huy

Trang 18

động được nguồn vốn để đóng góp 30% vốn điều lệ hình thành quỹ bảo lãnh tíndụng Mặt khác, ngân hàng cũng không mặn mà với việc góp vốn vào quỹ bảo lãnhtín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ do không đủ hấp dẫn về lợi ích Do vây,các tổ chức tín dụng này cũng ít quan tâm đến việc tham gia đóng góp để hình thành70% quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Về vấn để mặt bằng sản xuất, hiện nay đại đa số các doanh nghịêp dân doanhvẫn đang phải tự xoay xở tìm kiếm đất đai làm mặt bằng sản xuất kinh doanh, làmtăng chi phí đầu tư của doanh nghiệp Theo báo cáo điều tra của viện nghiên cứuquản lý kinh tế trung ương; để có mặt bằng kinh doanh, doanh nghiệp phải “mualại” đất của người khác bao gồm cả tiền đền bù giải phóng mặt bằng, tự san lấp mặtbằng kinh doanh, thuê lại mặt bằng đã mua với các cơ quan Nhà nước có thẩmquyền Mặt khác, diện tích đất Nhà nước có để cho thuê thường quá ít so với nhucầu ở một số tỉnh thành phố tập trung nhiều doanh nghiệp Như ở Hà Nội, theo điềutra của ban quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội chỉ có 376 doanhnghiệp dân doanh thuê được đất của Nhà nước để làm mặt bằng kinh doanh, trongkhi đó, chỉ riêng 10 tháng đầu năm 2002 đã có thêm ít nhất 400 doanh nghiệp cónhu cầu thuê đất Nếu có đất để cho thuê thì giá lại quá cao, phải trả tiền một lầncho thời gian dài từ 10-60 năm vượt quá khả năng tài chính của các doanh nghiệpvừa và nhỏ Các chương trình trợ giúp thông tin, trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực,trợ giúp xúc tiến xuất khẩu cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đã được các

Bộ ngành, địa phương tổ chức triển khai nhưng nhìn chung kết quả đạt được còn rấtkhiêm tốn Điều quan trọng nhất là nhận thức của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vềviệc tăng cường khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cònrất hạn chế Nếu các doanh nghiệp này không nhanh chóng chuyển đổi thì sẽ khôngbắt kịp với quá trình hội nhập, có nguy cơ tụt hậu

2.2.2 Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk

Năm 2010, hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk tiếp tục gặt háiđược nhiều kết quả quan trọng, hầu hết các tổ chức tín dụng đều hoàn thành hoặchoàn thành vượt kế hoạch Tính đến cuối năm 2010, tổng nguồn vốn huy động tạichỗ đạt 12.413 tỷ đồng, tăng hơn 45% so với đầu năm Trong đó, tiền gửi của dân

Trang 19

chiếm tỷ trọng cao nhất, hơn 63% nguồn vốn huy động, với mức tăng hơn 50% sovới đầu năm Về hoạt động tín dụng, tổng doanh số cho vay trong năm đạt trên 42nghìn tỷ đồng, tăng gần 14% so với năm 2009; tổng doanh số thu nợ 36.690 tỷđồng; đưa tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt hơn 29 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 23%

so với đầu năm (không tính dư nợ của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển khu vực ĐăkLăk – Đăk Nông) Nợ xấu ở mức thấp, khoảng 1,6%/tổng dư nợ Hoạt động dịch vụtiếp tục có bước phát triển; hoạt động thanh toán quốc tế không ngừng mở rộng,phục vụ tốt nhu cầu đa dạng của khách hàng Công tác tiền tệ kho quỹ bảo đảm antoàn tuyệt đối, đáp ứng tốt nhu cầu vốn tiền mặt phục vụ nền kinh tế…

Về nhiệm vụ năm 2011, ngành Ngân hàng Đăk Lăk đã đề ra một số mục tiêuchính như tiếp tục đẩy mạnh công tác huy động vốn tại chỗ, mở rộng tín dụng đểđáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; chỉđạo các tổ chức tín dụng điều chỉnh mạnh mẽ cơ cấu tín dụng theo hướng tập trungvốn cho lĩnh vực sản xuất, nhất là lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệpvừa và nhỏ Phấn đấu tăng trưởng huy động vốn tại chỗ đạt 25%-30%; tăng trưởng

2.2.3 Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

Theo tạp chí Kinh tế (ngày 15/8/2008), Vụ Tín dụng – Ngân hàng Nhà nướcvừa cho biết, báo cáo mới nhất từ 6 Ngân hàng Thương mại Nhà nước, 31 Ngânhàng Thương mại cổ phần, 33 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Ngân hàng liêndoanh cho biết, đến nay tổng số doanh nghiệp đang còn quan hệ tín dụng với ngân

Trang 20

hàng 163.673 doanh nghiệp, chiếm trên 50% số doanh nghiệp vừa và nhỏ với tổngnguồn vốn kinh doanh là 482.092 tỷ

Trong đó vốn tự có của doanh nghiệp chiếm tỷ trọng là 36,25%, vốn vayngân hàng chiếm tỷ trọng 45,31%, còn lại vốn khác chiếm 18,44% Vốn tự có bìnhquân 1 doanh nghiệp đến 31/7/2008 là 1,33 tỷ đồng; bình quân vốn vay ngân hàngcủa 1 doanh nghiệp là 1,79 tỷ đồng

Vụ Tín dụng (Ngân hàng Nhà nước) cũng cho biết, trong 7 tháng đầu năm

2008, doanh số cho vay của các ngân hàng thương mại (NHTM) đối với doanhnghiệp vừa và nhỏ là 289.100 tỷ đồng Trong đó, khối NHTM Nhà nước là 141.816

tỷ đồng chiếm 47,7%, khối NHTM cổ phần là 139.837 tỷ đồng chiếm 47,07%; khốingân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là 7.446 tỷ đồng, chiếm2,5%

Dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ đến 31/7/2008 của các ngân hàngthương mại đạt 299.472 tỷ đồng (chiếm 27,3% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế),tăng 16,65% so với 31/12/2007 và tăng 70,5% so với 31/12/2006 Trong đó cho vayngắn hạn chiếm 73,05%; cho vay trung dài hạn chiếm 26,95%

Cụ thể, dư nợ trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm 5,1%, lĩnh vực công nghiệp

và xây dựng chiếm 38,51%, lĩnh vực thương mại, dịch vụ 56,39% trên tổng dư nợ.Các NHTM Nhà nước đi đầu trong việc cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đạt

dư nợ là 170.481 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 56,98%; tiếp đến là các NHTM cổ phầnvới dư nợ đạt 120.936 tỷ đồng, chiếm 40,42% tổng dư nợ toàn ngành; các ngânhàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đạt dư nợ 8.053 tỷ đồng, chiếm2,6%

Theo thống kê, tỷ lệ nợ xấu cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của toàn hệthống là 3,64% (số tuyệt đối là 10.886 tỷ đồng), tăng 1% so với năm 2007 và giảm0,19% so với năm 2006 Trong đó nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) là 4.064 tỷđồng, chiếm 37,3% tổng nợ xấu của các tổ chức tín dụng Cụ thể là: Tỷ lệ nợ xấucủa khối NHTM Nhà nước là 4,59%, NHTM cổ phần 2,44%, Ngân hàng liên doanh

và nước ngoài 1,45%

Trang 21

Qua số liệu báo cáo từ các ngân hàng, trong các doanh nghiệp vừa và nhỏhiện đang có quan hệ tín dụng với các NHTM nêu trên cho thấy 23% số doanhnghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả; 73,2% doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạtđộng trung bình và 3,8% doanh nghiệp gặp khó khăn trong đó có 1,42% doanhnghiệp có khả năng mất vốn

Mặc dù vậy, các NHTM đều coi doanh nghiệp vừa và nhỏ là đối tượng kháchhàng tiềm năng của mình Doanh số và dư nợ cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏcủa ngành ngân hàng liên tục tăng qua các năm Nhiều NHTM cổ phần đã tập trungcho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ lên tới trên 70% dự nợ, một số chi nhánh củaNHTM Nhà nước có dư nợ cho vay đạt trên 95%

Do đó, tổng số doanh nghiệp đang còn quan hệ tín dụng với ngân hàng163.673 doanh nghiệp (chiếm trên 50% số doanh nghiệp vừa và nhỏ) với tổngnguồn vốn kinh doanh là 482.092 tỷ, trong đó vốn tự có chiếm tỷ trọng là 36,25%,vốn vay ngân hàng chiếm tỷ trọng 45,31%, còn lại vốn khác chiếm 18,44%

Doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn được xem là đối tượng khách hàng tiềm năngcủa các ngân hàng TMCP Theo khảo sát của Ngân hàng TMCP An Bình(ABBANK), hiện có đến 74,4% doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn về thủ tục

và tài sản đảm bảo khi vay vốn, 30% gặp khó khăn về hạn mức và thẩm định giá

Về phía ngân hàng, ông Nguyễn Đình Tùng – Phó tổng giám đốc Ngân hàng TMCPQuốc tế cho biết: “Các ngân hàng cũng gặp khó khăn trong quá trình xét duyệt hồ

sơ vay vốn Đa số hồ sơ vay của các DN vừa và nhỏ thiếu thông tin về tình hình tàichính, hoạt động kinh doanh…”

Cố gắng đi tìm tiếng nói chung, các ngân hàng ngày càng tạo nhiều thuận lợicho DN ABBANK vừa dành ra hạn mức tín dụng 1.500 tỉ đồng để cho doanhnghiệp vừa và nhỏ vay ABBANK cũng khởi xướng áp dụng lãi suất cho vay tối đachỉ bằng 95% lãi suất cho vay cùng kỳ hạn bình quân của các ngân hàng TMCPkhác ABBANK cho vay 80% giá trị tài sản thế chấp nếu doanh nghiệp vừa và nhỏthế chấp bằng bất động sản; 65% giá trị tài sản đảm bảo khi thế chấp bằng động sản.Ông Phạm Quốc Thanh – Phó tổng giám đốc ABBANK cho biết, ngân hàng còn đadạng các tài sản đảm bảo để phù hợp với các loại hình hoạt động của doanh nghiệp

Trang 22

vừa và nhỏ Đặc biệt, ngân hàng thanh giản tối đa những thủ tục xét duyệt, thẩmđịnh, giải ngân… nhằm giảm thời gian giải quyết hồ sơ xuống 3 ngày kể từ ngàynhận đầy đủ hồ sơ Ông Nguyễn Đình Tùng cũng cho hay: “Ngoài việc giải quyết

hồ sơ vay nhanh chóng từ 3 – 5 ngày để giúp doanh nghiệp không bị lỡ cơ hội kinhdoanh, VIB Bank chủ động nghiên cứu ngành nghề, tập quán kinh doanh, khó khăn

và nhu cầu của doanh nghiệp để thiết kế những sản phẩm phù hợp Hơn nữa, VIBBank có quy chế xếp hạng mức tín nhiệm doanh nghiệp ngay từ khi doanh nghiệpmới giao dịch để từ đó có những chính sách ưu đãi lãi suất”

Một ngân hàng nước ngoài là Ngân hàng Hồng Kông và Thượng Hải ViệtNam (HSBC) cũng triển khai dịch vụ thấu chi hoặc hạn mức tín dụng ngắn hạn đểtài trợ vốn lưu động cho các doanh nghiệp Đối với hình thức thấu chi, tiền lãi tínhtrên số tiền đã giải ngân và tính lãi theo ngày, thanh toán bằng việc ghi có vào tàikhoản vãng lai Còn đối với dịch vụ hạn mức tín dụng ngắn hạn, doanh nghiệp cóthể vay từ 1 tuần đến 12 tháng, trả lãi hằng tháng…

Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) vừa phối hợp với Ban Thư ký Nhà nước

về các vấn đề kinh tế của Thụy Sĩ (SECO) triển khai chương trình bảo lãnh tín dụngcho các doanh nghiệp vừa và nhỏ từ Quỹ Tín dụng xanh (SMESC) Chương trìnhnhằm hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ muốn đầu tư nâng cấp và mở rộng hoạt độngsản xuất nhưng thiếu tài sản đảm bảo, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp đầu tưvào công nghệ giảm thiểu ô nhiễm môi trường Các doanh nghiệp sẽ được hỗ trợvay vốn từ 25.000 – 1.000.000 USD hoặc tiền đồng với giá trị tương đương Sau khiđầu tư, doanh nghiệp sẽ được hoàn lại 25% giá trị khoản vay nếu mức độ cải thiệnmôi trường từ 50% trở lên; 15% giá trị khoản vay cho mức độ cải thiện môi trường

từ 30% đến dưới 50% [8]

Trang 23

PHẦN THỨ BA ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Đăk Lăk

3.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Đăk Lăk

Xuất phát trước tình hình thực tế của tỉnh Đăk Lăk, là tỉnh có diện tích rộng19.800km2, có tiềm năng lớn về sản xuất cây công nghiệp dài ngày đặc biệt là cây

cà phê và cây cao su Nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh củacác doanh nghiệp là rất lớn, vốn tín dụng cho vay nền kinh tế không ngừng tăngtrưởng qua các năm và cho đến cuối năm 1998 trên địa bàn tỉnh đã có 3 chi nhánh

Trang 24

Ngân hàng thương mại quốc doanh và hai chi nhánh NHTMCP đang hoạt động với

số dư nợ cho vay đạt trên dưới 2000 tỷ đồng Song cũng mới chỉ đáp ứng đượcmột phần cơ bản nhu cầu vốn cần thiết cho yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanhtrên địa bàn tỉnh

Nhằm mở rộng mạng lưới hoạt động cũng như tạo điều kiện giúp địa phương

có thêm điều kiện về vốn hoạt động để phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế Sauquá trình khảo sát tình hình thực tế, được sự nhất trí của Ủy Ban Nhân Dân tỉnhHĐQT-NHCT1 ngày 12/02/1999 thành lập chi nhánh Ngân hàng Công thươngĐăk Lăk theo quyết định của số 021/QĐ- HĐQT- NHCT1 của chủ tịch HĐQTNgân hàng Công thương Việt Nam

Là chi nhánh của Ngân hàng thương mại quốc doanh ra đời trong thời kì giá

cà phê và các mặt hàng nông sản khác liên tục sụt giảm, tình hình sản xuất kinhdoanh của các thành phần kinh tế và dân cư tại địa phương hết sức khó khăn hoạtđộng của Ngân hàng Công Thương Đăk Lăk không hề thuận lợi, việc huy độngvốn tại địa phương khó khăn, tỷ lệ nợ quá hạn cao

Trước thực tế đó lãnh đạo của chi nhánh đã tìm mọi biện pháp để tháo gỡ kịpthời khó khăn như : tiếp tục cho vay đầu tư chăm sóc cây cà phê, cho vay thu muaxuất khẩu đối với những đơn vị có khả năng khắc phục; thành lập ban thu nợ quáhạn để tạo thuận lợi cho việc phân tích, phân loại nợ và có biện pháp thu hồi phùhợp Với cách làm này, chi nhánh đã giúp nhiều khách hàng vượt qua khó khăn,từng bước làm ăn có lãi và thanh toán được vốn vay cho chi nhánh

Từ nền tảng đó, chi nhánh đề ra phương châm “Phát triển an toàn và hiệuquả” bằng cách tiếp tục đổi mới phong cách giao dịch, nhiệt tình với khách hàng,coi công việc của khách hàng là của mình, thành công của khách hàng cũng chính

là thành công của mình Chi nhánh còn tích cực chuyển hướng hoạt động kinhdoanh, từng bước cơ cấu lại dư nợ tín dụng, tăng dần tỉ trọng cho vay trung và dàihạn, mở rộng đối tượng cho vay là các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, chovay tiêu dùng, cho vay các dự án lớn như thủy điện, xe buýt, khách sạn …

Xác định được tầm quan trọng của việc huy động vốn, chi nhánh đã chủđộng tìm biện pháp để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ các thành phần kinh tế và

Trang 25

trong dân cư như: Tăng cường công tác tiếp thị, mở rộng các sản phẩm dịch vụhợp tác liên kết với các đơn vị nhằm thu hút nguồn vốn từ bên ngoài.

Tên giao dịch là: Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh ĐăkLăk

Tên viết tắt: Vietinbank Đăk Lăk

Trụ sở chính tại: 35 Nguyễn Tất Thành, TP Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk

Qua hơn 10 năm thành lập và phát triển, khoảng thời gian chưa phải là dàinhưng cũng đủ để thấy một ngân hàng Công Thương Việt Nam chi nhánh Đăk Lăktăng trưởng mạnh mẽ và vững chắc, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xãhội trên địa bàn tỉnh nhà [7]

3.1.2 Cơ cấu tổ chức của chi nhánh Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Đăk Lăk

Sơ đồ 3.1: Bộ máy tổ chức của Ngân hàng Công thương Việt Nam chi nhánh

Đăk Lăk

GIÁM ĐỐC

Kiểm tra Kiểm toán nộibộ

-PGĐ phụ trách

Trang 26

* Ghi chú: : Quan hệ trực tuyến

+ Phó Giám Đốc phụ trách bên mảng công tác kế toán

Là người thay mặt giám đốc giải quyết công việc khi giám đốc đi vắng có uỷ

quyền của giám đốc, chịu trách nhiệm trước giám đốc và pháp luật đối với những

công việc được phân công

228 Cấp phòng:

+ Trưởng phòng khách hàng+ Trưởng phòng kế toán

+ Trưởng phòng tổ chức tài chính

+ Trưởng phòng quản lí rủi ro+ Trưởng phòng giao dịch+ Trưởng phòng tiền tệ kho quỹ

• Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng có những điểm rất đặc biệt Qua 10 năm xây

dựng và phát triển nên cơ cấu tổ chức và quan hệ giữa các phòng ban rất chặt chẽ

với nhau thể hiện ở mặt nhân sự và khách hàng Chức năng và nhiệm vụ các

phòng ban như sau :

Phòng giao

dịch

PhòngKhách hàng

PhòngTC-HC

Phòng Kếtoán

Phòng tiền

tệ kho quỹPhòng

QLRR

Ngày đăng: 21/05/2014, 10:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. TS. Tô Kim Ngọc, Giáo trình lý thuyết tiền tệ ngân hàng, Nxb Thống kê Hà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý thuyết tiền tệ ngân hàng
Tác giả: TS. Tô Kim Ngọc
Nhà XB: Nxb Thống kê Hà
6. Trịnh Doãn Bộ - Trường Đại học kinh tế TP.Hồ Chí Minh, chuyên đề tốt nghiệp "Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Ngân hàng Công thương Đồng Nai", năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa vànhỏ tại chi nhánh Ngân hàng Công thương Đồng Nai
7. Trang web: www.viettinbank.com.vn 8. Trang web: www.dantri.com.vn Link
1. Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2008, 2009, 2010 của Ngân hàng Công thương Việt Nam chi nhánh Đăk Lăk Khác
2. Báo cáo tình hình hoạt động năm 2008, 2009, 2010 của Ngân hàng Công thương Việt Nam chi nhánh Đăk Lăk Khác
3. TS. Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB Thống kê, TP. Hồ Chí Minh, năm 2008 Khác
5. GS-TS. Dương Thị Bình Minh – TS. Sử Đình Thành, Lý thuyết tài chính tiền tệ, NXB Thống kê TP. Hồ Chí Minh, năm 2008 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Các tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ - Tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương
Bảng 2.1 Các tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ (Trang 12)
Sơ đồ 3.1: Bộ máy tổ chức của Ngân hàng Công thương Việt Nam chi nhánh - Tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương
Sơ đồ 3.1 Bộ máy tổ chức của Ngân hàng Công thương Việt Nam chi nhánh (Trang 25)
Bảng  3.2: Tình hình  lao động tại chi nhánh trong 3 năm 2008, 2009, 2010 - Tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương
ng 3.2: Tình hình lao động tại chi nhánh trong 3 năm 2008, 2009, 2010 (Trang 28)
Bảng 3.3: Tình hình huy động vốn qua các năm 2008, 2009, 2010 - Tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương
Bảng 3.3 Tình hình huy động vốn qua các năm 2008, 2009, 2010 (Trang 30)
Bảng 3.4: Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng các năm 2008, 2009, - Tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương
Bảng 3.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng các năm 2008, 2009, (Trang 32)
Bảng 4.1: Doanh số cho vay các năm 2008, 2009, 2010 - Tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương
Bảng 4.1 Doanh số cho vay các năm 2008, 2009, 2010 (Trang 37)
Bảng 4.2: Tình hình cho vay theo thời hạn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ - Tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương
Bảng 4.2 Tình hình cho vay theo thời hạn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (Trang 38)
Bảng 4.3: Tình hình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ - Tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương
Bảng 4.3 Tình hình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ (Trang 40)
Bảng 4.4: Tình hình trích lập dự phòng rủi ro - Tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương
Bảng 4.4 Tình hình trích lập dự phòng rủi ro (Trang 42)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w