CHO VAY NGẮN HẠN TẠI VIETTINBANK
Trang 1NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN
HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐĂK LĂK NĂM 2007-2008
GVHD: Th.S Trịnh Thị Trịnh SVTH : Lê Thị Hồng Thắng Ngành: Tài chính - Ngân hàng Lớp : 28K7
Buôn Ma Thuột, tháng 09 năm 2009
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đề tài này được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu vànhận được sự giúp đỡ,chỉ giáo tận tình của các thầy,các cô anh chị và các bạn Nhândịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Toàn thể ban Giám Hiệu Trường Đại Học Đà Nẵng,đã tạo điều kiện tốt cho
em được học tập tại trường
Toàn thể các thầycác cô giáoTrường Đà Nẵng,đã truyền đạt kiến thức quý báucho em trong suốt thời gian học tập trong thời gian qua
Cô Giáo Trịnh Thị Trinh, đã nhiệt tình hướng dẫn,dạy bảo trong suốt thờigian thực tập tốt nghiệp,cũng như trong thời gian học tập tại trường
Ban lãnh đạo cùng Tập thể cán bộ công nhân viên tại chi nhánh Ngân hàngCông Thương Đăk Lăk đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em thựchiện và hoàn thành Chuyên đề này
Tất cả các bạn sinh viên lớp 28 K7 đã luôn giúp đỡ và ủng hộ em trong suốt quátrình học tập và nghiên cứu
Sinh Viên
Lê Thị Hồng Thắng
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
- Trong các hoạt động của ngân hang thương mại, cho vay là là hoạt động chủ yếu,trong đĩ cho vay ngắn hạn chiếm tỉ trọng khơng nhỏ và đem lại thu nhập cho ngânhàng.Trong những năm gần đây, các ngân hàngthương mại đ mở rộng cho vay trung
và dài hạn, song cho vay ngắn hạn vẫn luơn là hoạt Việt Nam
Trong cho vay ngắn hạn, việc mở rộng quy mơ cho vay khơng thể tách rời việc nângcao chất lượng cho vay Do đĩ, nâng cao chất lượng cho vay là yêu cầu cấp thiết đốivới sự tồn tại và phát triển của NHTM, là yêu cầu của nền kinh tế
Tại chi nhánh NHCTđă lăk,chovay ngăn hạn là khoản mục cho vay tỉ trọng khơngnhỏ trong hoạt động cho vay của ngân hang Trong những năm vừa qua, thực hiện Đềán tái cơ cấu lại NHCT, chất lượng cho vay đã được cải thiện nhiều so với thời giantrước đây, tuy vậy cĩ những điểm chưa tốt.Hoạt động cho vay ngắn hạn mang lại lợinhuân cao, và đem lại thu nhập chính cho ngân hang đồng thời cũng làm phát sinh cáckhoản nợ sấu, gây ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng
Từ những vấn đề trên, em đã chọn đề tài: “ Nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạntại chi nhánh Ngân hang cơng thương Đăk Lăk “ Làm chuyên đề báo cáo tốt nghiệpcho em
- Qua tìm hiểu và nghiên cứu phân tích thực trạng cho vay ngắn hạn của chi nhánhNgân hang cơng thương Đăk lăk, từ đĩ đánh giá hiệu quả tín dụng và những mặt tồntại nhằm đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho hoạt động tín dụng ngắn hạn trong thờigian tới
Đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Những lý luận cơ bản về NHTM và hoạt động cho vay
ChươngII: Thực trạng cho vay ngắn hạn tại NHCT chi nhánh tại Đăk lăk
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn
Trang 4CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY
1.1 Khái quát về NHTM hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm hoạt động cho vay của NHTM
Cho vay là hoạt động cơ bản của NHTM Nó được hiểu là một giao dịch về tiềngiữa bên cho vay là ngân hàng và bên đi vay là các cá nhân và tổ chức, trong đó, bêncho vay chuyển giao tiền cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, bên đivay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạnthanh toán
để sử dụng vào mục đích và trong thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc
có hoàn trả cả gốc và lãi
1.1.3 Phân loại cho vay của NHTM
Cho vay có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu thức sao cho phù hợp với tínhchất, đặc điểm của nhu cầu vay và việc quản lý cho vay của ngân hàng Có một sốcách chủ yếu để phân loại cho vay như sau:
1.1.4 Theo đối tượng khách hàng
Cho vay được phân chia thành:
Trang 5- Cho vay doanh bhgiệp: là hoạt động cho vay đối với các đơn vị kinh doanhnhằm tài trợ cho các nhu cầu vốn để kinh doanh Cho vay đơn vị kinh doanh đượcthực hiện với nhiều phương thức khác nhau phù hợp với từng nhu cầu vốn cụ thể.
- Cho vay cá nhân: Là hoạt động cho vay đối với khách hàng là các cá nhânngười tiêu dùng với các mục đích mua sắm tài sản ,tiêu dùng hoặc kinh doanh
1.1.5 Theo mục đích sử dụng vốn vay
- Cho vay kinh doanh: Là hoạt động cho vay mà vốn vay được sử dụng cho mụcđích kinh doanh Đối tượng khách hàng vay kinh doanh có thể là cá nhân hoặc là đơn
vị kinh doanh, trong đó chủ yếu là các đơn vị kinh doanh
- Cho vay tiêu dùng: Là hoạt động cho vay mà vốn vay được sử dụng cho mụcđích tiêu dùng Đối tượng chủ yếu vay tiêu dùng là các cá nhân (vay để mua tài sản)
1.1.6 Theo phương thức cho vay
Về phương thức, cho vay có thể bao gồm các loại chính như sau:
- Cho vay từng lần: Là phương thức cho vay đối với các khách hàng không cónhu cầu vay thường xuyên, chỉ khi vào thời vụ kinh doanh hay mở rộng sản xuất mớixin vay Mỗi lần vay vốn, ngân hàng và khách hàng lại thực hiện thủ tục vay vốn cầnthiết và ký kết hợp đồng tín dụng
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là phương thức cho vay mà ngân hàng vàkhách hàng thoả thuận một hạn mức về số dư trong suốt kỳ hoặc số dư cuối kỳ.Đây làhình thức cho vay phù hợp đối với khách hàng vay mượn thường xuyên vốn vay thamgia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh
- Cho vay luân chuyển: Là phương thức cho vay mà ngân hàng thoả thuận tài trợdựa trên kế hoạch lưu chuyển hàng hoá và ngân quỹ của khách hàng Hình thức nàyphù hợp với các doanh nghiệp thương mại hoặc doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cóchu kỳ tiêu thụ sản phẩm ngắn
- Cho vay trả góp: Là phương thức cho vay trong đó ngân hàng trả gốc thànhnhiều lần trong thời hạn đã thoả thuận Phương thức này thường được áp dụng đối vớivay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định
- Cho vay thấu chi: Là phương thức cho vay mà ngân hàng thoả thuận bằng vănbản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của
Trang 6mình trong một thời hạn nhất định (gọi là hạn mức thấu chi) va trong một khoảng thờigian xác định.
Ngoài ra, còn có nhiều phương thức cho vay khác như: cho vay theo dự án đầu
tư, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho vay hợp vốn, cho vay qua việc pháthành thẻ tín dụng
1.1.7 Theo thời hạn
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhậnvốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợpđồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng
Ngân hàng và khách hàng thoả thuận thời hạn cho vay căn cứ vào nhu cầu vốn,chu kỳsản xuất kinh doanh của khách hàng, thời hạn thu hồi vốn của dự án/phưong án đầu
tư, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn vay của NH
Theo thời hạn, cho vay được phân loại thành:
- Cho vay không có thời hạn: Là hình thức cho vay mà việc vay – hoàn trả củakhách hàng là thường xuyên, theo kế hoạch luân chuyển hàng hoá và kế hoạch doanhthu của khách hàng, không xác định cụ thể thời điểm trả nợ trên hợp đồng tín dụng
- Cho vay có thời hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn thu hồi nợ được xácđịnh cụ thẻ trong hợp đồng tín dụng Cho vay có thời hạn được phân chia thành:+ Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay dưới 12 tháng
+ Cho vay trung hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đếndưới 60 tháng
+ Cho vay dài hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay từ 60 tháng trở lên.Thông thường, hai hình thức cho vay trung hạn và dài hạn được ghép thành chovay trung và dài hạn
Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề tốt nghiệp chỉ giới hạn phạm vi nghiêncứu là hình thức cho vay ngắn hạn
1.2 Cho vay ngắn hạn của NHTM
Cho vay ngắn hạn là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay đến 12 tháng
Cho vay ngắn hạn có những đặc điểm sau:
Trang 7- Vốn vay ngắn hạn luân chuyển cùng chu kỳ sản xuất kinh doanh của kháchhàng Cho vay ngắn hạn chủ yếu để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt tạm thời vốn lưu độngtrong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc cho vay và thu nợ luôndiễn ra lúc bắt đầu và kết thúc của chu kì sản xuất kinh doanh Ngân hàng thường chovay khi khách hàng phát sinh nhu cầu vốn để mua vật tư,nguyên vật liệu, hoặc trangtrải các chi phí sản xuất Khi hàng hoá được tiêu thụ, khách hàng có thu nhập, cũng làlúc ngân hàng thu hồi nợ Xuất phát từ đặc điểm này các ngân hàng thường quy địnhthời hạn cho vay trên cơ sở chu kì sản xuất của người vay Do vậy, thời gian thu hồivốn trong cho vay ngắn hạn nhanh
- Thời hạn thu hồi vốn nhanh nên rủi ro của khoản cho vay ngắn hạn thấp hơnkhoản cho vay trung và dài hạn, mức lãi suất cho vay ngắn hạn thấp hơn mức lãi suấtcho vay trung và dài hạn
- Hình thức cho vay phong phú: Ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng các loạihình thức cho vay ngắn hạn, như: cho vay ngắn hạn từng lần, cho vay theo hạnmức,cho vay thấu chi, cho vay luân chuyển…Điều này vừa để đáp ứng nhu cầu đadạng của khách hàng, đồng thời giúp ngân hàng phân tán rủi ro
- Cho vay ngắn hạn là hoạt động chủ yếu của ngân hàng Đặc trưng của ngânhàng là kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, trong đó nhận tiền gửi ngắn hạn là hoạt độnghuy động vốn chủ yếu Cho nên, với sự phù hợp về lãi suất và thời hạn các ngân hàngchủ yếu cho vay ngắn hạn
1.3 Đối tượng cho vay ngắn hạn
1.3.1 NHTM cho vay ngắn hạn để tài trợ tài sản lưu động
Ngân hàng thương mại thường chia các khoản cho vay của mình thành cho vayngắn hạn và cho vay trung và dài hạn Tuỳ thuộc vào nhu cầu và nguyện vọng vaycủa khác hàng mà sẽ chọn thời hạn phù hợp nhất với mình Theo sự phân chia thờihạn thì những món vay dưới 1 năm được xếp vào món vay ngắn hạn, nó phù hợp vớitrường hợp tái trợ cho tài sản lưu động của doanh nghiệp Các trường hợp cụ thể là:
- Nhằm tài trợ cho nhu cầu vốn tăng thêm cho sản xuất và kinh doanh
Đối với doanh nghiệp sản xuất hàng hoá, doanh nghiệp kinh doanh thương mạidịch vụ, vốn tăng thêm này chủ yếu để mua nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, tăng dựtrữ, đầu tư vào tài sản lưu động ròng
Trang 8- Nhằm tài trợ cho hoạt động xuất, nhập khẩu, tài trợ thanh toán quốc tế đối vớicác doanh nghiệp xuất, nhập khẩu
Ngân hàng có thể tài trợ ngắn hạn cho nhà nhập khẩu thông qua nhiều hình thứckhi nhà nhập khẩu không có đủ khả năng thanh toán Cụ thể, ngân hàng cung cấp cácnghiệp vụ sau
+ Tín dụng cho người đặt hàng và hiệp định khung tài trợ nhập khẩu
+ Cho vay mở L/C
+ Tạm ứng cho nhà nhập khẩu
+ Chấp nhận của ngân hàng
+ Tín dụng chấp nhận hối phiếu dành cho nhà nhập khẩu
Ngân hàng cũng tài trợ xuất khẩu trong nhiều trường hợp Khi nhà xuất khẩu cókhó khăn trong thanh toán mà chưa thu được tiền từ xuất khẩu, NHTM thực hiện cácnghiệp vụ tín dụng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu có quy mô lớn và chiếm thịtrường rộng Cụ thể, ngân hàng cung cấp các nghiệp vụ như sau:
+ Tài trợ trong khuôn khổ nhờ thu kèm chứng từ
Thực hiện nghiệp vụ này, nhà xuất khẩu uỷ thác các chứng từ về hàng hoá, vậnđơn, bảo hiểm và các chứng từ khác cho ngân hàng phục vụ mình nhờ thu hộ Ngânhàng này sẽ chuyển tiếp chứng từ đến ngân hàng cần giao dịch với chỉ thị giao chứng
từ sau khi đã thanh toán, hoặc chấp nhận thanh toán Trong quá trình thanh toán sẽ cómột yếu tố rất quan trọng, đó là yếu tố thời gian Chính điều này nảy sinh nhu cầu vốnđối với nhà xuất khẩu Ngân hàng bên xuất khẩu hoặc bên nhập khẩu đều có thể thựchiện tài trợ ngắn hạn cho nhà xuất khẩu
+ Nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu
Khi thoả thuận giữa các bên tham gia xuất nhập khẩu chấp nhận có hối phiếu kỳhạn không huỷ ngang, khi chưa đến hạn thanh toán nhà xuất khẩu có thể mang hốiphiếu này đến ngân hàng phục vụ mình xin chiết khấu
+ Tài trợ trong khuôn khổ chứng từ
Hình thức tín dụng của ngân hàng trên cơ sở chiết khấu bộ chứng từ trước khiđến hạn thanh toán
+ Tạm ứng cho nhà xuất khẩu
Trang 9Dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa ngân hàng và nhà xuất khẩu, khách hàng có thể
đề nghị được cung cấp tín dụng giữa chừng trong khuôn khổ “clean payment” (thanhtoán trơn)
+ Bao toàn bộ thanh toán xuất khẩu – Factoring
Đây là hình thức tài trợ xuất khẩu ngắn hạn Bản chất Factoring là nghiệp vụchiết khấu các khoản phải thu của nhà xuất khẩu Ngân hàng thưong mại lớn tiếnhành lập các công ty chuyên môn để thực hiện các nghiệp vụ này
- NHTM cho vay ngắn hạn đối với mục đích tiêu dùng của cá nhân,doanhnghiệp
Hình thức tín dụng này trở thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởngnhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phảt triển Loại nghiệp vụ này giúp nâng caochất lượng cuộc sống cho các cá nhân và giúp các doanh nghiệp có các sản phẩmphục vụ quá trình sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp Hình thức này cũng gồmnhiều loại Ngân hàng có thể tài trợ cho khác hàng bằng tiền mặt,đúng như một khoảncho vay Ngân hàng cũng có thể cho vay trả góp bằng cách thanh toán cho nhà cungcấp hàng hoá thay cho khách hàng, và khách hàng trả nợ ngân hàng theo phương thứctrả góp nhiều lần
1.3.2 NHTM cho vay ngắn hạn để tài trợ tài sản cố định
Các ngân hàng thương mại thường cho các doanh nghiệp vay vốn ngắn hạn đểtài trợ cho tài sản lưu động Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt, đối tượng tàitrợ của cho vay ngắn hạn là tài sản cố định (máy móc, thiết bị, nhà xưởng) Trongtrường hợp này, không thể nói đến sự phù hợp giữa thời hạn của nguồn huy động vàtài sản mà chỉ xét đến lí do tại sao khách hàng lại vay vốn ngắn hạn để tài trợ cho tàisản cố định Những lí do mà khách hàng vay vốn là thiếu vốn tạm thời, duy trì cơ cấuvốn hợp lý, sử dụng đòn bẩy tài chính Từ những lý do trên mà khách hàng có thể lựachọn vay vốn ngắn hạn dể tài trợ cho tài sản cố định chứ không nhất thiết phải vayvốn trung và dài hạn
Trong trường hợp doanh nghiệp tạm thời thiếu vốn đầu tư cho máy móc,thiết bị
mà doanh nghiệp vẫn có khả năng hoàn trả trong ngắn hạn, thì vay ngắn hạn là giảipháp hiệu quả hơn so với vay vốn trung và dài hạn Vay ngắn hạn sẽ giúp doanhnghiệp tận dụng được lợi ích của việc sử dụng nợ, nhanh chóng có được khoản tiềncần thiết mà lại chịu chi phí vốn thấp hơn so với cho vay trung và dài hạn
Trang 10Vay ngắn hạn còn có một ưu điểm lớn nũa là tính chất kịp thời với chi phí hợp
lý, khi doanh nghiệp chưa đến kỳ thu nợ nhưng đang có nhu cầu sử dụng tiền Vayngắn hạn có thủ tục đơn giản hơn vay trung và dài hạn, tiết kiệm được thời gian chodoanh nghiệp trong khâu xét duyệt xin vay, khâu ký kết hợp đồng và quá trình giảingân Như vậy, xin vay ngắn hạn trong trường hợp này còn tiết kiệm được cả chi phí
cơ hội, mà trong kinh doanh, đây tuy là chi phí không nhìn thấy, nhưng có thể quyếtđịnh đến thành công hay thất bại của doanh nghiệp
Như vậy có thể nói cho vay ngắn hạn không chỉ là phương thức tài trợ chủ yếuđối với tài sản lưu động, mà còn là một giải pháp hiệu quả trong việc tài trợ tài sản cốđịnh
1.4 Các phương thức cho vay ngắn hạn chủ yếu
1.4.1 Cho vay thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chitrội (vượt) trên số tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trongmột khoảng thời gian xác định Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi
Để được thấu chi, khách hàng làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi và thờihạn thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng) Trong quá trình hoạtđộng,khách hàng có thể kí séc, lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ… vượt quá số dư tiền gửi
để chi trả (trong hạn mức thấu chi) Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi,ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi
Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về thời gian
và quy mô Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào dự đoán ngân quỹsong không chính xác Do vậy, hình thức cho vay này tạo điều kiện thuận lợi chokhách hàng trong quá trình thanh toán
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản phần lớn làkhông có bảo đảm, có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài ngày trong thángvài tháng trong năm dùng để chi lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng… Hìnhthức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với các khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhậpđều đặn và kì thu nhập ngắn
1.4.2 Cho vay trực tiếp từng lần
Trang 11Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngânhàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện đểđược cấp hạn mức thấu chi Các khách hàng này sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụngthương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mớivay ngân hàng, tức là vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất địnhcủa chu kì sản xuất kinh doanh.
Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụngvốn vay Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và kí hợp đồng cho vay, xác định quy
mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và các điều kiện bảo đảm nếucần Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ khác nhau
Số lượng cho vay = Nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh - Vốn chủ sở hữu thamgia – Các nguồn vốn khác
Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi Trong quátrình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sửdụng, nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng có thể thu hồi nợ trướchạn,hoặc chuyển nợ quá hạn Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tínhlãi
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản Ngân hàng có thể kiểm soáttừng món vay tách biệt Tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản đảm bảo
1.4.3 Cho vay theo hạn mức
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng hạnmức tín dụng Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì Đó là số dư tínhtại thời điểm tính
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầuvốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng Ngân hàng ước lượng các hạn mức tín dụngđối với các doanh nghiệp căn cứ vào phương án sản xuất kinh doanh và nhu cầu vayvốn của khách hàng, tỉ lệ cho vay tối đa trên tổng giá trị tài sản đảm bảo, khả năngnguồn vốn của ngân hàng
Trong kì, khách hàng có thể thực hiện vay trả nhiều lần, song dư nợ không đượcvượt quá hạn mức tín dụng Một số trường hợp ngân hàng quy định hạn mức cuối kì
Trang 12Dư nợ trong kì có thể lớn hơn hạn mức Tuy nhiên đến cuối kì,khách hàng phải trả nợ
để giảm bớt dư nợ cuối kì không được vượt quá hạn mức
Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp cácchứng từ chứng minh đã mua hàng hoá hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay Sau khikỉêm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ phát tiền cho kháchhàng
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thườngxuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh.Trongnghiệp vụ này ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ Khi khách hàng có thunhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lí ngân quỹ cho khách hàng Tuynhiên do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khókiểm soát được hiệu quả của từng lần vay Ngân hàng chỉ có thể phát hiện ra vấn đềkhi khách hàng nộp báo cáo tài chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút
1.4.4 Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoáDoanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn Ngân hàng có thể cho vay để mua hàng
và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng Đầu năm hoặc quí, người vay phải làm đơnxin vay luân chuyển Ngân hàng và khách hàng thoả thuận với nhau về phương thứcvay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu thụ Hạn mứctín dụng có thể được thoả thuận trong 1 năm hoặc vài năm Đây không phải là thờihạn hoàn trả mà là thời hạn ngân hàng xem xét lại mối quan hệ với khách hàng vàquyết định cho vay nữa hay không tuỳ mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàngcũng như tình hình tài chính của khách hàng
Việc cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá nên cả ngân hàng lẫn doanhnghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá để dự đoán dòng ngân quỹ trong thời gian tới
Người vay cam kết các khoản vay sẽ được trả cho người bán và mọi khoản thubán hàng đều dùng để trả vào tài khoản tiền vay trước khi được trích trích trả lại tàikhoản tiền gửi thanh toán của khách hàng
Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hóa đơn nhập hàng
và số tiền cần vay Ngân hàng cho vay và trả tiền cho người bán Giá trị những hàng
Trang 13hoá mua vào là đối tượng được ngân hàng tài trợ và thu nhập bán hàng đều là nguồn
để chi trả cho ngân hàng Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tuỳ theo khốilượng và chất lượng quan hệ nợ nần của người vay
Cho vay luân chuyển thường được áp dụng đối với các doanh nghiệp thươngnghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kì tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trảthường xuyên với ngân hàng
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng Thủ tục cho vay chỉ cầnthực hiện 1 lần cho nhiều lần vay Khách hàng được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, vìvậy việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn
1.5 Vai trò của cho vay ngắn hạn
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế đã hình thành nên những mối quan hệvay mượn giữa các cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế Cho vay ngắn hạn của ngânhàng đối với các cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế đã đóng góp rất nhiều vào sựphát triển của một đất nước Đây là nguồn vốn lớn của nền kinh tế.Nguồn vốn vayngắn hạn đã góp phần ổn định, duy trì và mở rộng sản xuất đối với doanh nghiệp nângcao đời sống của các cá nhân, là cơ sở cho một nền kinh tế nói chung, đối với cácdoanh nghiệp và ngân hàng Khi nói đến cho vay ngắn hạn, điều quan trọng khôngphải là giá trị của các khoản vay mà phải là chất lượng của các khoản vay Chất lượngcác khoản vay phản ánh chất lượng hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp và thể hiện tính ổn định và khả năng sinh lời của ngân hàng
1.5.1 Đối với nền kinh tế
Ngân hàng thưong mại là một trung gian tài chính quan trọng, là nơi tập trung,tích tụ và phân bố đầu tư có hiệu quả trong nền kinh tế Cho vay là một hoạt độngmang tính chất đầu tư cho nền kinh tế của NTHM Thị trường chứng khoán, các quỹđầu tư, công ty bảo hiểm, công ty tài chính là các tổ chức tài chính chủ yếu cung cấpnguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế Và trách nhiệm chính cung cấp vốn ngắnhạn cho nền kinh tế thuộc về NHTM
Quan hệ cho vay đã hình thành và phát triển trong nền kinh tế hàng hoá Cùngvới sự phát triển của nền sản xuất xã hội, cho vay ngày càng trở nên quan trọng Nógóp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển và đến lượt nền kinh tế với nhu cầu vốn liên
Trang 14tục gia tăng lại đòi hỏi cho vay phải nâng cao chất lượng Nâng cao chất lượng chovay mà ở đây đề cập đến chất lượng cho vay ngắn hạn là cần thiết vì:
- Nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn để đưa hoạt động cho vay thích nghiđối với nền kinh tế thị trường, đáp ứng được nhu cầu vốn gia tăng không ngừng củanền kinh tế
- Đảm bảo chất lượng cho vay ngắn hạn sẽ đảm bảo vòng quay vốn cho vay ởmức tính toán đảm bảo nguồn vốn sẵn sàng cho vay tại ngân hàng, tăng khả năng chovay của ngân hàng đối với nền kinh tế
- Nâng cao chất lượng cho vay làm đồng vốn cho vay thực hiện được mục tiêuvay vốn của doanh nghiệp Từ đó, thúc đẩy hoạt động đầu tư, tích cực chuyển tiếtkiệm thành đầu tư huy động tối đa vốn trong dân cư cho đầu tư phát triển Do đó sẽgiúp làm giảm lượng tiền thừa trong lưu thông, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn địnhtiền tệ
- Qua việc cho vay có hiệu quả vào các công trình thuộc nhiều ngành, lĩnh vực,nền kinh tế đã có những thành tựu phát triển nhất định Nước ta ngày càng có uy tíntrên trường quốc tế, cải thiện vị trí trong danh mục đầu tư của các nhà đầu tư nướcngoài
- Nâng cao chất lượng cho vay để tăng khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng.Các ngân hàng muốn tăng năng lực cạnh tranh thì ngay từ hoạt động cho vay, phảichú trọng nâng cao chất lượng Đồng thời, xu hướng cạnh tranh ngày nay còn là việc
áp dụng công nghệ ngân hàng hiện đại, tiếp cận dần công nghệ hiện đại của thế giới
- Nâng cao chất lượng cho vay còn thúc đẩy sự hợp tác giữa các ngân hàng trongnền kinh tế Khi nhu cầu vốn trở nên quá lớn đối với khả năng tài trợ của một ngânhàng, thì nhiều ngân hàng có thể cùng cho vay Sự hợp tác này vừa là cách hỗ trợ vốntốt nhất cho doanh nghiệp, vừa là sự hợp tác để hạn chế rủi ro cho các ngân hàng Thịtrường tài chính do vậy có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất hơn
1.5.2 Đối với doanh nghiệp
- Cho vay ngắn hạn là nguồn bổ sung kịp thời cho các nhu cầu về vốn ngắn hạncủa doanh nghiệp Nguồn vốn này giúp các doanh nghiệp tiếp tục quá trình sản xuấtkinh doanh, hoặc giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn tạm thời về tài chính Trongnhiều trường hợp, vay vốn ngân hàng còn là giải pháp tiết kiệm chi phí cho doanh
Trang 15nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp bắt kịp những cơ hội kinh doanh, tận dụngđược thời cơ phát triển sản xuất.
- Cho vay ngắn hạn đồng thời là động lực, yếu tố kích thích sản xuất, kinh doanhcủa doanh nghiệp Các điều kiện trong cho vay ngắn hạn tạo áp lực buộc doanhnghiệp kinh doanh có hiệu quả Khi doanh nghiệp vay vốn từ ngân hàng thì áp lực mà
họ phải chịu là thời hạn trả tiền và khoản lãi sẽ phải trả, chính vì điều này nên cácdoanh nghiệp cố gắng quay vòng vốn nhanh và tìm kiếm cơ hội kinh doanh tốt nhất vìmục tiêu lợi nhuận
1.5.3 Đối với sự tồn tại và phát triển của NHTM
- Chất lượng cho vay ngắn hạn làm tăng khả năng hoạt động của NHTM do tạođược vòng quay vốn lớn, đảm bảo được nguồn vốn lớn luôn sẵn sàng đáp ứng nhucầu của khách hàng
- Chất lượng cho vay ngắn hạn còn có tác động đến hoạt động tạo nguồn củangân hàng Chất lượng cho vay tốt, vốn của khách hàng được sử dụng hiệu quả sẽ tạo
ra hình ảnh tốt, tăng uy tín của ngân hàng, thu hút thêm được nhiều khách hàng, huyđộng được nhiều hơn
- Chất lượng cho vay ngắn hạn làm gia tăng khả năng sinh lợi của các sản phẩm,dịch vụ ngân hàng, giảm được sự chậm chễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lícác chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn Từ đó, cải thiện được tình hình tàichính, tăng thế cạnh tranh cho ngân hàng
- Chất lượng cho vay tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của ngân hàng, bởi vìchất lượng cho vay cho phép ngân hàng có những khách hàng trung thành và đáng tincậy Khi khách hàng có mối quan hệ tốt với ngân hàng, họ có xu hướng sử dụng nhiềuhơn các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng Họ không chỉ gửi tiền vào ngân hàng nhằmmục đích thanh toán mà có thể sử dụng dịch vụ khác như bao thanh toán, quản lí ngânquỹ … điều này tạo ra những khoản lợi không thể lượng hoá hết được Và theo các sốliệu thống kê thì doanh thu từ các khách hàng thường xuyên chiếm một tỉ lệ lớn trongtổng doanh thu của ngân hàng
1.6 Chất lượng cho vay ngắn hạn
1.6.1 Quan niệm về chất lượng cho vay
Quan điểm về chất lượng cho vay trước đây chỉ được giới hạn trong phạm vi antoàn cho vay, thể hiện tổn thất phát sinh từ những rủi ro cho vay Chất lượng cho vay
Trang 16được coi là cao khi các khoản vay không có tổn thất hoặc có tổn thất nhưng chỉ tronggiới hạn nhất định, và ngược lại khi tổn thất là lớn thì chất lượng cho vay được coi làthấp Chính vì thế, khi nói đến khía cạnh nâng cao chất lượng cho vay thì người tathường nghĩ ngay đến việc giảm những tổn thất trong quá trình cho vay.
Tuy nhiên, những chủ thể tham gia vào trong một món vay phải gồm hai bên:một bên là bản thân ngân hàng - phía cấp vốn, bên còn lại là khách hàng vay vốn -phía sử dụng vốn Ngoài ra còn có cơ quan quản lý Nhà nước Chính vì vậy, chấtlượng cho vay phải được hiểu rộng hơn chứ không chỉ bó hẹp trong phạm vi xem xéttổn thất từ phía ngân hàng
Một hoạt động cho vay được coi là có hiệu quả khi nó đáp ứng được các mụctiêu của cho vay Mục tiêu của ngân hàng khi cho vay là: một mặt, tài trợ vốn chokhách hàng một cách có hiệu quả, giúp khách hàng có vốn để thành lập, duy trì vàphát triển hoạt động kinh doanh; mặt khác, xét cho vay là hoạt động kinh doanh củangân hàng, mục tiêu là thu hồi nợ và có lãi Hoạt động cho vay có chất lượng phải đápứng được cả hai yêu cầu trên
Đối với các chủ thể khác nhau thì quan niệm về chất lượng cho vay sẽ khácnhau Đối với NHTM, chất lượng cho vay thể hiện qua quy mô cho vay, việc đảm bảocác nguyên tắc an toàn trong cho vay, việc mang lại thu nhập thông qua hoạt độngcho vay… Còn đối với doanh nghiệp thì chất lưọng cho vay lại thể hiện qua khả năngđáp ứng nhu cầu vốn kịp thời và đầy đủ, chi phí vốn hợp lý, hiệu quả mang lại từ việc
sử dụng vốn vay Đối với cơ quan quản lý Nhà nước thì chất lượng cho vay được thểhiện trên hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế, tính ổn định của thị trường tài chính vàhiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp
Chất lượng cho vay là một khái niệm vừa cụ thể vừa trừu tượng Có thể sử dụngmột số công thức và chỉ số để cụ thể hoá chất lượng cho vay, tuy nhiên đối với nhữngmặt không thể lượng hoá được thì sẽ sử dụng các chỉ tiêu định tính
Do giới hạn của đề tài chỉ tập trung vào phía ngân hàng nên khái niệm chấtlượng cho vay được hiểu từ cái nhìn của ngân hàng và được cụ thể bằng các chỉ tiêuđịnh tính và định lượng chính
thực hiện đúng những cam kết đã kí trong hợp đồng tín dụng Nếu một khoảnvay mà ngay từ mục đích vay vốn khách hàng đã không tuân thủ theo đúng cam kếtthì khoản vay đó không được coi là có chất lượng Hoặc khoản vay mà không được
Trang 17hoàn trả đúng thời hạn, khách hàng khất lần nhiều lần thì cũng không đạt được chấtlượng Các nhóm chỉ tiêu định tính trên đây đã có thể phản ánh một phần của chấtlượng cho vay Đây là những chỉ tiêu gần như bắt buộc phải có để một khoản cho vayđược coi là có chất lượng Tuy vậy, muốn xem xét cụ thể, cẩn thẩn và toàn diện thìcần phải xét đến các chỉ tiêu định lượng.
1.6.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay:
Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phán ánh độ thích nghi củaNHTM với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó có thể hiện sức mạnh của mộtngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển Do đó, đế có thể đánhgiá được ngân hàng mạnh hay yếu thì phải đánh giá được chất lượng tín dụng tốt haykhông vì chất lượng tín dụng là thước đo chủ yếu Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá chấtlượng Trong bài viết này, em sẽ tập trung nghiên cứu một số chỉ tiêu chủ yếu đánhgiá chất lượng của ngân hàng như sau:
1.6.3 Tổng dư nợ
Tổng dư nợ phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nền kinh tế tại một thờiđiểm Tổng dư nợ bao gồm dự chop vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn Chỉ tiêu nàycho biết ngân hàng cho vay được nhiều hay ít, mối quan hệ giữa ngân hàng và kháchhàng ra sao Tổng dư nợ thấp hơn chứng tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng yếukém, không có khả năng mở rộng, trình độ cán bộ công nhân viên chức thấp Mặc dùvậy, chỉ tiêu này cao chưa hẳn chất lượng khoản vay tốt Vì tổng dư nợ được coi làhợp lý khi nó phù hợp với nguồn vốn của chính của ngân hàng đó Nếu tổng dư nợtăng liên tục qua các năm thì cho thấy chiều hướng tăng lên của tín dụng
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Trang 18Để đánh giá chính xác chỉ tiêu này, người ta chia tỷ lệ nợ quá hạn ra làm hailoại: Tỷ lệ nợ quá hạn có kha năng thu hồi và tỷ lệ nợ quá hạn không có khả năng thuhồi.
1.6.5 Chỉ tiêu hiêu suất sử dụng vốn vay
Tổng dư nợ Tổng vốn huy động
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả haykhông của ngân hàng
tỏ nguồn vay ngân hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiêu chu kỳ sản xuất,lưu thông hàng hóa Hay nói cách khác, ngân hàng đã ứng được nhu cầu về vốn chocác doanh nghiệp và có khả năng tiếp vốn tín dụng càng tốt, chất lượng tín dụng càngcao
1.6.7 Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động cho vay
Lãi từ hoạt động tín dụng Tổng thu nhập
Trang 19Nguồn vốn thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu của ngân hàng Khiđánh giá chất lượng tín dụng không thể bỏ qua chỉ tiêu này vì mục đích cuối cùng củaNHTM là tăng khả năng sinh lời Nếu ngân hàng chỉ căn cứ vào chỉ tiêu nợ quá hạn
và cố gắng duy trì tỷ lệ nợ quá hạn thấp thì điều đó chưa thể khẳng định chất lượngtín dụng ngân hàng cao Do đó, chất lượng tín dụngchỉ thực sự có ý nghĩa khi có khảnăng sinh lời của ngân hàng
Ngoài ra, NHNN còn có qui định các chỉ tiêu có tính chất bắt buộc đối với cácNHTM như: thủ tục, hồ sơ vay vốn, thời gian tối đa để ra quyết định đối với khoảnvay, giới hạn cho vay sđối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự cócủa tổ chức tín dụng, trừ trường hợp đối với những khoản cho vay từ nguồn vốn ủythác của Chính phủ, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
Trang 20CHƯƠNGII: THỰC TRẠNG CHO VAY NGẮN HẠN TẠI NHCT CHI
NHÁNH TẠI ĐĂK LĂK
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn và hoạt động kinh doanh của chi nhánh Ngân hàng Cơng Thương Đăk Lăk
2.1.1 Đặc điểm kinh tế trên địa bàn
Tỉnh Đăk Lăk nằm trên địa bàn Tây nguyên, cĩ đường biên giới dài khoảng 70kmchung với nước campuchia, cĩ quốc lộ 14C chạy dọc theo hai nước rất thuận lợi choviệc phát triển kinh tế vùng biên giới, kết hợp với bảo an ninh quốc phịng Thành phốBuơn Ma Thuột là trung tâm chính trị, kinh tế văn hố xã hội của tỉnh và cả vùngTây Nguyên, trung tâm thành phố là điểm giao cắt giữa quốc lộ 14 (chạy xuyên suốttỉnh theo chiều từ Bắc xuống Nam),với quốc lộ 26 và quốc lộ 27 nối Buơn ma Thuột
với các thành phố Nha Trang, Đà Lạt, và Gia Lai,hiện nay đường Hồ Chí minh được
xây dựng cùng với đường hàng khơng, thì tỉnh Đăk Lăk sẽ là đầu mối giao lưu quantrọng nối liền với các trung tâm kinh tế giữa các tỉnh như: Đà Nẵng, Thành Phố HồChí Minh Đây là động lực lớn thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh cũng như tồn vùngTây Nguyên phát triển
Tỉnh Đăk Lăk cĩ diên tích tự nhiên 13.125km2, trong đĩ chủ yếu là phần lớn là diệntích cao nguyên là đất Bazang phù hợp với các loại cây trồng cơng nghiệp như: càphê, cao su, tiêu, điều dân số tỉnh Đăk lăk gần 1,8 triệu người, cĩ 44 dân tộc, trong
đĩ đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 30%, cĩ 4 tơn giáo chính trên 40 vạn đồng bào
theo đạo, chiếm 24%, cĩ 13 huyện, 1 thành phố, 283 xã phường, thị trấn.
Sau một năm gia nhập WTO, mặt dù bị tác động bởi một số yếu tốt bất lợi, nhưng
nên kinh tế tỉnh Đăk lăk vẫn khởi sắc và cĩ nhiều tiến bộ vượt bậc,GDPtăng 17,1%,
kim ngạch xuất khẩu đạt trên 580 triệu USD, tăng 44,3%, tộng thu nhậpngân sách đạt
1.669tỷ đồng, tăng 38,1%, tỷ lệ lộ nghèo giảm 4,5% so với năm 2007 Cơ cấu kinh tếtiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng ngành cơng nghiệp, dịch vụ,giảm dần tỷ trọng nơng lâm nghiệp
Trang 212.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của NH Công thương Đăk Lăk
Chi nhánh Ngân hàng Công thương ĐăkLăk được thành lập vào ngày12/02/1999 theo quyết định của số 021/QĐ- HĐQT- NHCT1 của chủ tịch HĐQTNgân hàng Công thương Việt Nam
Là chi nhánh của Ngân hàng thương mại quốc doanh ra đời trong thời kì giá cà phê vàcác mặt hàng nông sản khác liên tục sụt giảm, tình hình sản xuất kinh doanh của cácthành phần kinh tế và dân cư tại địa phương hết sức khó khăn hoạt động của Ngânhàng Công Thương Đăk Lăk không hề thuận lợi, việc huy động vốn tại địa phươngkhó khăn, tỷ lệ nợ quá hạn cao
Trước thực tế đó lãnh đạo của chi nhánh đã tìm mọi biện pháp để tháo gỡ kịp thời khókhăn như : tiếp tục cho vay đầu tư chăm sóc cây cà phê, cho vay thu mua xuất khẩuđối với những đơn vị có khả năng khắc phục; thành lập ban thu nợ quá hạn để tạothuận lợi cho việc phân tích, phân loại nợ và có biện pháp thu hồi phù hợp Với cáchlàm này, chi nhánh đã giúp nhiều khách hàng vượt qua khó khăn, từng bước làm ăn
có lãi và thanh toán được vốn vay cho chi nhánh
Từ nền tảng đó, chi nhánh đề ra phương châm “Phát triển an toàn và hiệu quả”bằng cách tiếp tục đổi mới phong cách giao dịch, nhiệt tình với khách hàng, coi côngviệc của khách hàng là của mình, thành công của khách hàng cũng chính là thànhcông của mình Chi nhánh còn tích cực chuyển hướng hoạt động kinh doanh, từngbước cơ cấu lại dư nợ tín dụng, tăng dần tỉ trọng cho vay trung và dài hạn, mở rộngđối tượng cho vay là các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, cho vay tiêu dùng, chovay các dự án lớn như thủy điện, xe buýt, khách sạn …
Xác định được tầm quan trọng của việc huy động vốn, chi nhánh đã chủ động tìmbiện pháp để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ các thành phần kinh tế và trong dân cưnhư: Tăng cường công tác tiếp thị, mở rộng các sản phẩm dịch vụ hợp tác liên kết vớicác đơn vị nhằm thu hút nguồn vốn từ bên ngoài.Tuy nhiên, ngân hàng Công thươngĐăk Lăk cũng xác định thực hiện nghiêm túc theo tinh thần chỉ đạo của Ngân hàngCông thương Việt Nam trong việc chống lại trào lưu tăng lãi suất ảo
* Sơ đồ tổ chức bộ máy của Ngân hàng công thương Đăk Lăk
GIÁM ĐỐC
Trang 22Ngoài ra chi nhánh Ngân hàng Công thương Đăk Lăk đã mở thêm 2 phòng giaodịch ở Tp Buôn Ma Thuột và thị trấn Buôn Hồ thuộc huyện krông Buk
- Tổ Tài trợ thương mại và Tổ quản lý thẻ
Số cán bộ trong Ngân hàng có trên 70 người đều có chuyên môn và nghiệp vụ
PHÓ GIÁM ĐỐC
PHỤ TRÁCH KD
PHÓ GIÁM ĐỐC PHỤ TRÁCH KẾ TOÁN
Phòng
Kinh
doanh
Phòng Kế toán
Phòng Hành chính
Phòng Hành chính
Tổ QLRR
Tổ Tài trợ thương mại
Phòng Kho quỹ
Trang 232.1.3 Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng có những điểm rất đặc biệt Qua 10 năm xâydựng và phát triển nên cơ cấu tổ chức và quan hệ giữa các phòng ban rất chặc chẽ vớinhau thể hiện ở mặt nhân sự và khách hàng chức năng và nhiệm vụ các phòng bannhư sau :
- Phòng hành chính : Là phòng luôn thực hiện các công việc hành chính của
ngân hàng và luôn nắm bắt các thông tin nghị quyết của cấp trên, các văn bản chỉ thịcần triển khai trong công tác hoạt động của ngân hàng
- Phòng kế toán: Là phòng nghiệp vụ thực hiện giao dịch trực tiếp với khách
hàng, tổ chức hạch toán kế toán theo quy định của Nhà nước và của Ngân hàng Côngthương Việt Nam
- Phòng Kinh doanh: Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là
các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ và hộ cá thể có nhu cầu vốn ngắn, trung và dài hạn
từ ngân hàng, với chức năng khai thác và sử dụng vốn tối ưu nhằm mục tiêu lợinhuận
- Tổ tài trợ thương mại và tổ quản lý thẻ : Là phòng nghiệp vụ, tổ chức thực
hiện các nghiệp vụ về tài trợ thương mại: thực hiện thanh toán L/C xuất nhập khẩu,các nghiệp vụ nhờ thu, chiết khấu chứng từ, bảo lãnh thanh toán… Phòng còn có chứcnăng nghiệp vụ mua bán và thu đổi ngoại tệ Ngoài ra còn thực hiện chức năng quản
lý toàn bộ thẻ ATM của Ngân hàng Công Thương Đăk Lăk
- Phòng tiền tệ kho quỹ: là phòng nghiệp vụ quản lý an toàn kho quỹ, quản
lý quỹ tiền mặt theo quy định của NHNN và Ngân hàng Công thương Việt Nam,
tổ chức điều chuyển tiền giữa Quỹ nghiệp vụ của Ngân hàng với NHNN, các chinhánh khác trong cùng hệ thống trên địa bàn, các Quỹ tiết kiệm, các điểm giao dịchtrong và ngoài quầy,thu chi tiền mặt giao dịch có giá trị lớn
- Tổ xử lý rủi ro : Là Tổ nghiệp vụcó chức năng thẩm định rủi ro nhằm làm Hạnchế, giảm thiểu các tổn thất có thể xảy ra từ các hoạt động tác nghiệp, tăng thêmnguồn vốn đưa vào hoạt động kinh doan Bảo vệ uy tín của NHCT, đạt mục tiêuhoạt động kinh doanh an toàn, hiệu quả
2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Trang 24Năm 2007– 2008, nền kinh tế nước ta nói chung và ĐăkLăk nói riêng gặp không
ít khó khăn do ảnh hưởng từ sự biến động của giá dầu mỏ, vàng và các loại ngoại tệmạnh với biên độ cao trong năm, dịch cúm gia cầm diễn biến phức tạp.Đăk Lăk làtỉnh có chỉ số tăng giá cao nhất toàn quốc thì nay đã thì nay đã giảm với CPI năm
2008 chỉ tăng 0.37% so với năm 2007
2.2.1 Tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHCT Đăk Lăk
2.2.1.1 Về huy động vốn
Huy động vốn là một hoạt động chủ đạo, có ý nghĩa then chốt và luôn được đặtlên hàng đầu trong chiến lược kinh doanh của ngân hàng Trong tổng nguồn vốn thìvốn huy động chiếm tỷ trọng cao, đầy là cơ sở hoạt động của ngân hàng.Vì vậy cóđược nguồn vốn ổn định, chi phí hợp lý, quy mô lớnlà một ưu thế cạnh tranh của ngânhàng Trong những năm gần đây, các ngân hàng đã quan tâm đến nghiệp vụ quantrọng này, chính vì vậy mà sự cạnh tranh trên thị trường vốn huy động vốn rất mạnh
mẽ Nhiều ngân hàng đã đưa ra các chính sách rất hấp dẫn để thu hút nguồn vốn huyđộng, và NHTC Đăk Lăk cũng không nằm ngoài mục tiêu đó
Qua các năm, số vốn của NHCT Đăk Lăk đều tăng mạnh, đáp ứng được nhucầu sử dụng vốn của ngân hàng, tránh tình trạng bị động về vốn,cũng như khả năngthanh khoản Với các chính sách linh hoạt về lãi suất, thời hạn và các chương trình ưuđãi khác, hiệu quả công tác huy động vốn được nâng cao lên rõ rệt, kết quả thể hiệnnhư sau:
Bảng 1: Tình hình huy động vốn của chi nhnh NHCT Đăk Lăk
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Tổng vốn huy động 87.284 197.310
Tiên gửi doanh nghiệp 41.480 47,5 58.260 29,5
Tiền gửi dân cư 43.898 50,3 124.280 62,9Tiền gửi khác 1.906 2,2 14,770 7,4Phân loại theo chủ thể:
- Dựa vào các số liệu ở bảng trên đã cho thấy tổng nguồn vốn huy động tại chổ của chi nhánh qua các năm ngày tăng, cụ thể qua năm: Tiền gửi doanh nghiệp, năm 2008
Trang 25so với năm 2007 tăng 16.780 triệu đồng, năm 2008 chiếm 29,5%, Tổng nguồn vốn huy động.
- Tiền gửi dân cư chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số tiền gửi, điều này chứng tỏ tiềngửi của dân cư đóng vai trò chủ đạo trong tổng nguồn vốn huy động Bởi các tầng lớpdân cư rất tin tưởng vào sự hoạt động của chi nhánh Năm 2007 đạt 43.898 triệu đồngchiếm tỷ lệ 50,3% trong tổng tiền gửi,tăng 13.453 triệu đồng, năm 2008 đạt 124.280triệu đồng so với năm 2007 Ngoài ra để nay mạnh việc huy động tiền gửi trong dân
cư chi nhánh đã phát động nhiều chương trình nhằm tạo sự chú ý khách hàng như đadạng về hình thức phát hành thẻ, lãi suất hấp dẫn có tính cãnh tranh cao trên địa bàn,
có các chinh sách khuyến mãi, trong đó đặc biệt thu hút vào các dịp lễ tết
- Mặc dù tiền gửi của TCKT chưa chiếm tỷ trọng cao,nhưng có xu hướng ngày càngtăng nhanh,năm 2007 tiền gửi của TCKT là 1.906 triệu đồng, chiếm 2,2% trong tổng
số tiền gửi Năm 2008 đạt 14.770 triệu đồng,chiếm 7,4% trong số tiền gửi, tăng12.864 triệu đồng so với năm 2007 Qua các năm, tốc độ tăng vốn huy động từ TCKTcủa chi nhánh tăng dần lên, điều này thể hiện một xu hướng phát triển đúng đắn có lợiđối với chi nhánh, bởi vì các doanh nghiệp gửi tiền với mục đích chủ yếu là thanhtoán nên chi phí cho tiền gửi thấp qua đó ngân hàng ngày càng mở rộng được các tiệních tăng các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng
- Phân theo tiền gửi: Tỷ trọng của VNĐ vẫn chiếm ở mức chủ yếu trên 89% có tốc độtăng tương đối cao qua các năm chứng tỏ đồng nội tệ là d0ồng tiền được sử dụng chủyếu của khách hàng đối với chi nhánh, nó phù hợp với đặc trưng hoạt động của ngânhàng là phục vụ khách hàng truyền thống là chủ yếu Qua các năm lượng huy độngbằng ngoại tệ cũng tăng
Thông qua phân tích những mặt trên, cho thấy NHCT Đăk Lăk đã thực hiện tốt côngtác huy động vốn, nguồn liên tục tăng trưởng và ổn định qua các năm, đáp ứng nhucầu sử dụng, tạo lợi nhuận cao, bền vững cho chi nhánh NHCT Đăk Lăk
2.2.1.2 Các hoạt động kinh doanh khác
Về việc kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng là một hình thức hết sức cần thiết và
nó mang lại nhuận cao cho ngân hàng.vì Nhu cầu ngoại tệ khách hàng mua để trả nợ,nhận nợ vay và thanh toán với nước ngoài là rất lớn, ngân hàng đã cố gắng rất nhiềutrong việc tìm nguồn ngoại tệ, áp dụng các chính sách tỷ giá mua chuyển khoản bằng
tỷ giá bán ra của ngân hàng để khuyến khích doanh nghiệp, cá nhân bán ngoại tệ cho
Trang 26ngân hàng đảm bảo cho tăng trưởng tín dụng và thanh toán xuất nhập khẩu, đồng thời
để tăng thêm doanh thu cho ngân hàng
Bảng 2: Số liệu hoạt động kinh doanh ngoại tệ năm 2007
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh các năm 2007-2008
Trong những năm qua nền kinh tế nước ta đang phát triển không ngừng, việc sử dụngVND không còn là thiết yếu nữa, mà đồng USD cũng là một phương thức hữu hiệudùng để trao đổi mua bán với các quốc gia khác,thông qua việc xuất nhập khẩu hànghoá, hoặc sự biếu tặng từ các tổ chức tín dụng nước ngoài.Qua bảng số liệu trên chothấy việc mua bán ngoại tệ của năm 2007 so với năm 2008 đạt tỷ lệ thấp, chỉ bằng4.68%.Các hoạt động này ngoài nguyên nhân khách quan mà chủ yếu còn do yếu tốchủ quan, chưa chủ động tìm kiếm nguồn khách hàng kinh doanh ổn định, việc tổchức bộ máy kinh doanh ngoại tệ còn kiêm nhiệm, hiệu quả hoạt động chưa cao,nhưng đến 2007 thì tình hình kinh doanh tương đối thuận lợi tình hình cho vay ngoại
tệ nhưng giải ngân bằng VND cũng góp phần làm khối lượng ngoại tệ mua vào tăngkhá nhanh
So với các tổ chức tín dụng khác trên địa bàn thì hoạt động kinh doanh ngoại tệcủa chi nhánh vẫn còn chiếm tỷ trọng thấp
Mặc dù khối lượng và doanh số ngoại tệ chưa tăng cao lắm nhưng công tác kinhdoanh ngoại tệ của Ngân hàng luôn được thực hiện đúng chế độ Quản lý ngoại hốicủa Ngân hàng Nhà nước
Đến năm 2007 thì sự tín nhiệm của khách hàng với sự phục vụ ân cần và chu đáongân hàng đã thu hút khách hàng và số lượng thẻ phát hành là 6.400 thẻ, chiếm 142%tổng số thẻ phát hành tại chi nhánh làm doanh số tăng lên 96 tỷ đồng
Ngân hàng thực hiện tốt công tác quản lý tài chính, nộp đầy đủ kịp thời cáckhoản thuế với Nhà nước
2.2.1.3 Tình hình sử dụng vốn
Trang 27Song song với hoạt động vốn thì việc sử dụng vốn với nhiều hình thức khác nhau màcác ngân hàng đều chú trọng, đặc biệt là hoạt động cho vay và đầu tư là nghiệp vụ sửvốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và sinh lời của ngân hàng Lợinhuận của ngân hàng có được chủ yếu là từ cho vay vốn tín dụngb (thường chiếmkhoảng 90%) Do đó chi nhánh đã chú trọng và hết sức quan tâm tới nghiệp vụ kinhdoanh tín dụng Cũng như các NHTM trên địa bàn, NHCT Đăk Lăk chủ trương cấptín dụng cho tất cả các thành phần kinh tế Nhiều doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả trởthành khách hàng truyền thống của ngân hàng.
Bảng 3: Tình hình sử dụng vốn của chi nhánh NHCT Đăk Lăk
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008
Số tiền Tăng % Số tiền Tăng %
Doanh số cho vay 950.542 34.452 3,7 1.150.000 192.458 20,9
- Về doanh thu nợ: Doanh thu nợ cũng liên tục tăng qua các năm.Năm 2007 doanh thu
nợ đạt 1.162.349 triệu đồng tăng 161.349 triệu đồng tương đương 61,1% với năm2008
- Về dư nợ tín dụng: Dư nợ tín dụng trong những năm qua nhìn chung sự tăngtrưởng còn hạn chế Điều nay cho thấy thực trạng hoạtđdộng tín dụng của chi nhanhtrong những năm qua đdang con kho khăn Điều đdang khích lệ la cơ cấu dư nợchuyen dich theo huong tich cực như kế hoạch de ra của chi nhanh, tăng trưởng dư nợcho vay trong lĩnh vực nơng lm nghiệp, tăng cường cho vay cc ngnh cơng thươngnghiệp, tăng tỷ lệ cho vay cĩ ti sản bảo đảm
Thực tế vốn tín dụng của chi nhánh NHCT Đăk Lăk các năm qua đã đáp ứng nhu cầusản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế trên địa bàn, tỉnh đầu tư máy móc