MỤC LỤC Lời mở đầu 1 Phần 1 Cơ sở lý luận hoàn thiện cơ cấu bộ máy quản lý của doanh nghiệp 3 1 1 Cơ cấu bộ máy quản lý doanh nghiệp 3 1 1 1 Khái niệm 3 1 1 1 1 Tổ chức 3 1 1 1 2 Cơ cấu tổ chức 3 1 1[.]
Cơ sở lý luận hoàn thiện cơ cấu bộ máy quản lý của doanh nghiệp
Cơ cấu bộ máy quản lý doanh nghiệp
Thuật ngữ “Tổ chức” được nhiều ngành khoa học sử dụng với ý nghĩa không
Thuật ngữ “Tổ chức” được nhiều ngành khoa học sử dụng với ý nghĩa không giống nhau: giống nhau:
Triết học định nghĩa “Tổ chức, nói rộng là cơ cấu tồn tại của sự vật Sự vật
Tổ chức được định nghĩa trong triết học là cơ cấu tồn tại của sự vật, cho thấy rằng không có sự vật nào có thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định giữa các yếu tố nội tại Điều này khẳng định rằng tổ chức là thuộc tính cốt lõi của bản thân các sự vật Nói cách khác, mọi sự vật đều tồn tại dưới dạng tổ chức nhất định, phản ánh sự liên kết và cấu trúc của chúng.
Vậy tổ chức là một thuật ngữ được sử dụng rất linh hoạt:
Thứ nhất tổ chức là một hệ thống gồm nhiều người cùng làm việc vì mục đích chung trong hình thái cơ cấu ổn định ( danh từ tổ chức )
Thứ hai, tổ chức là quá trình triển khai các kế hoạch ( động từ tổ chức theo nghĩa rộng )
Tổ chức là một chức năng quản lý quan trọng, liên quan đến việc sắp xếp nguồn lực con người và các nguồn lực khác để thực hiện kế hoạch thành công Về bản chất, tổ chức bao gồm việc phân chia công việc, sắp xếp nguồn lực và phối hợp các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu chung.
Quá trình tổ chức hình thành cơ cấu tổ chức, tạo ra khuôn khổ cho việc phân chia các hoạt động, sắp xếp nguồn lực, và phối hợp con người cùng các bộ phận nhằm đạt được các mục tiêu kế hoạch.
Cơ cấu tổ chức là hình thức cấu tạo bên trong của một tổ chức, thể hiện mối quan hệ chính thức hoặc phi chính thức giữa các thành viên.
Sự phân biệt giữa mối quan hệ chính thức và phi chính thức trong tổ chức dẫn đến hai dạng cơ cấu: cơ cấu chính thức và cơ cấu phi chính thức Cơ cấu tổ chức được thiết lập để thực hiện chiến lược hoặc kế hoạch tác nghiệp, từ đó hình thành cơ cấu tổ chức bền vững mang tính chiến lược hoặc cơ cấu hiện thời mang tính tác nghiệp.
Cơ cấu tổ chức trong doanh nghiệp:
Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp là một hiện tượng phức tạp và không cố định Trong bối cảnh này, vai trò và ảnh hưởng của người quản lý đóng vai trò rất quan trọng.
Cơ cấu tổ chức quản trị doanh nghiệp là hình thức phân công lao động trong quản trị, ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống quản trị Nó không chỉ phản ánh cơ cấu sản xuất mà còn có tác động tích cực đến sự phát triển sản xuất.
Cơ cấu tổ chức là hệ thống các mối quan hệ chính thức giữa các công việc riêng lẻ và tập thể Nó bao gồm các bộ phận, cá nhân có mối liên hệ phụ thuộc, được chuyên môn hóa với trách nhiệm và quyền hạn cụ thể Cơ cấu này được sắp xếp thành các khâu và cấp bậc khác nhau để thực hiện chức năng quản trị và phục vụ mục tiêu chung của tổ chức.
1.1.2 Vai trò và chức năng của bộ máy quản lý
Bộ máy quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định sự sống còn của doanh nghiệp, nhờ vào những đặc điểm quản lý nổi bật.
Bố trí một bộ máy quản lý phù hợp giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất, tiết kiệm thời gian và nguyên liệu Một bộ máy nhẹ không chỉ giảm chi phí mà còn cho phép đưa ra quyết định nhanh chóng và chính xác Hơn nữa, việc phân công đúng người vào đúng việc sẽ phát huy tối đa khả năng của cá nhân và tập thể, trong khi sai lầm trong bố trí có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, thậm chí là sự phá sản của doanh nghiệp.
Quản trị kinh doanh là hình thức thể hiện sự tác động có chủ đích của doanh nghiệp lên khách hàng, bao gồm nhiều nhiệm vụ mà chủ doanh nghiệp cần thực hiện trong quá trình hoạt động Chức năng của quản trị kinh doanh chính là lý do tồn tại cho các hoạt động này.
Chức năng định hướng là quá trình xác định nhiệm vụ, mục tiêu và các phương pháp tối ưu để thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu đó.
Định hướng trong doanh nghiệp là quá trình thiết lập môi trường làm việc hiệu quả cho các cá nhân, nhằm thực hiện nhiệm vụ một cách tốt nhất Nó bao gồm việc lựa chọn phương án hành động tương lai, xác định mục tiêu cho doanh nghiệp và từng bộ phận, cũng như các phương thức để đạt được những mục tiêu đó.
Chức năng tổ chức và phối hợp là yếu tố quan trọng trong sản xuất kinh doanh, khi nhiều người làm việc cùng nhau trong một nhóm Mỗi thành viên đảm nhận vai trò cụ thể, với công việc có mục đích và mục tiêu rõ ràng Họ cần hiểu rõ cách mà nhiệm vụ của mình liên kết với nỗ lực chung của nhóm, đồng thời có quyền hạn và công cụ thông tin cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ Sự cần thiết phải tổ chức và phối hợp các hoạt động cá nhân dẫn đến việc hình thành cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hợp lý và quy chế làm việc hiệu quả, thích ứng với biến động của môi trường cạnh tranh.
Chức năng điều khiển trong quản lý doanh nghiệp là quá trình tác động có chủ đích lên nhân viên, nhằm khuyến khích họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp Để thực hiện chức năng này hiệu quả, chủ doanh nghiệp cần đưa ra các quyết định quản lý hợp lý và tổ chức thực hiện chúng một cách tối ưu.
Phân tích thực trạng cơ cấu bộ máy quản lý ở cồn ty cổ phần dệt 10-10
Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần dệt 10-10
Công ty Cổ phần Dệt 10/10 trước đây là Xí nghiệp Dệt 10/10 được thành lập
Công ty Cổ phần Dệt 10/10, trước đây là Xí nghiệp Dệt 10/10, được thành lập chính thức vào ngày 10/10/1974 theo quyết định số 262 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, ban hành ngày 23/12/1973.
Nhiệm vụ chủ yếu của xí nghiệp là dệt vải tuyn, vải Valide, màn tuyn trên máy
Xí nghiệp chuyên sản xuất vải tuyn, vải Valide và màn tuyn bằng máy dệt kim đan dọc từ các loại sợi tổng hợp như poliete, petex và polyamit Mặc dù là một xí nghiệp nhỏ, đây là đơn vị đầu tiên tại miền Bắc ứng dụng công nghệ dệt kim đan dọc để sản xuất các sản phẩm từ sợi tổng hợp, đặc biệt là màn tuyn.
Quá trình xây dựng và phát triển của xí nghiệp từ năm 1974 cho đến nay được
Quá trình xây dựng và phát triển của xí nghiệp từ năm 1974 cho đến nay được chia thành 4 giai đoạn chính: chia thành 4 giai đoạn chính:
Giai đoạn từ đầu năm 1973 đến tháng 6/1975 gọi là “Ban nghiên cứu máy dệt
Giai đoạn từ đầu năm 1973 đến tháng 6/1975 gọi là “Ban nghiên cứu máy dệt KOKETT ”.
Cuối năm 1974 xí nghiệp đã hoàn thành phần lớn các công trình về xây dựng
Cuối năm 1974, xí nghiệp đã hoàn thành phần lớn các công trình xây dựng mặt bằng sản xuất, được chia thành 3 khu vực khác nhau.
+ Khu vực 1: Số 6 phố Ngô văn Sở : Văn phòng và phân xưởng may
+ Khu vực 1: Số 6 phố Ngô văn Sở : Văn phòng và phân xưởng may
+ Khu vực 2: Số 203 phố Minh Khai: Chứa nguyên vật liệu (sợi), phân xưởng
+ Khu vực 2: Số 203 phố Minh Khai: Chứa nguyên vật liệu (sợi), phân xưởng mắc dệt. mắc dệt.
+ Khu vực 3: Số 26 phố Trần quý Cáp: Phân xưởng Văng sấy (xử lý nhiệt)
+ Khu vực 3: Số 26 phố Trần quý Cáp: Phân xưởng Văng sấy (xử lý nhiệt) Giai đoạn 2:
Từ tháng 7/1975 đến cuối năm 1982 xí nghiệp bước sang giai đoạn sản xuất
Từ tháng 7/1975 đến cuối năm 1982, xí nghiệp đã bước vào giai đoạn sản xuất kinh doanh, thực hiện thành công kế hoạch nhà nước giao Trong giai đoạn này, kế hoạch sản xuất và tiêu thụ luôn được duy trì ổn định, giúp xí nghiệp hoàn thành các mục tiêu đề ra.
Là giai đoạn chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, hoạt động theo
Giai đoạn chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường đã gặp nhiều khó khăn, nhưng sản phẩm của xí nghiệp vẫn đạt chất lượng tốt và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước Xí nghiệp áp dụng hình thức gia công chế biến liên doanh liên kết, mua bán nguyên vật liệu và bán thành phẩm, đồng thời tự tìm kiếm khách hàng để đảm bảo hiệu quả và lợi nhuận, nhằm cạnh tranh với thị trường trong và ngoài nước.
Ngày 10/11/1982 Xí nghiệp được thành lập doanh nghiệp nhà nước theo quyết
Vào ngày 10/11/1982, Xí nghiệp được thành lập theo quyết định số 2768 Q§/UB, với số vốn được giao cụ thể.
Vốn kinh doanh : 4.294.760.000 đồng : 4.294.760.000 đồng
Vèn cổ phầnVèn cổ phần : 2.073.530.000 đồng : 2.073.530.000 đồng
Vốn lưu động : 2.044.900.000 đồng Vốn khác : 86.320.000 đồng
Vốn khác : 86.320.000 đồng Trong đó:
Vốn ngân sách : 2.778.540.000 đồng : 2.778.540.000 đồng
Vốn khác : 86.320.000 đồng : 86.320.000 đồng Giai đoạn 4:
Ngày 29/12/1999 Xí nghiệp Dệt 10/10 chuyển thành Công ty Cổ phần dệt
Ngày 29/12/1999 Xí nghiệp Dệt 10/10 chuyển thành Công ty Cổ phần dệt 10/10 theo quyết định số 5784/ Q§-UB của UBND thành phố Hà nội với số vốn
Theo quyết định số 5784/QĐ-UB của UBND thành phố Hà Nội, số vốn điều lệ được xác định là 8.000.000.000 đồng và được phân bổ cụ thể như sau:
Vốn cố định của Công ty
Vốn cố định của Công ty : 4.300.000.000 đồng : 4.300.000.000 đồng
Vốn lưu động : 3.700.000.000 đồng : 3.700.000.000 đồng
Vốn nhà nước (máy móc thiết bị) : 2.400.000.000 đồng chiếm 30%
Vốn nhà nước (máy móc thiết bị) : 2.400.000.000 đồng chiếm 30% Vốn của các cổ đông (là CBCNV) : 5.600.000.000 đồng chiếm 70%
Vốn của các cổ đông (là CBCNV) : 5.600.000.000 đồng chiếm 70% Công ty có đội ngũ công nhân viên lành nghề đáp ứng được nhu cầu của sản
Công ty sở hữu đội ngũ công nhân viên lành nghề, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất Từ khi thành lập với chỉ 71 cán bộ công nhân viên, số lượng đã tăng lên 502 người, bao gồm cả công nhân hợp đồng.
Có thể nói rằng hơn 27 năm qua Công ty Dệt 10/10 đã trưởng thành và lớn
Trong hơn 27 năm qua, Công ty Dệt 10/10 đã không ngừng phát triển và lớn mạnh nhờ vào nỗ lực của chính mình cũng như sự hỗ trợ từ Đảng và nhà nước Công ty tập trung vào việc phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, đồng thời luôn chú trọng đến sự hợp tác với các cổ đông.
Ban kiểm soát Hội đồng quản trị
Phó giám đốc sản xuất Phó giám đốc kinh tế
Phòng kỹ thuật cơ điện
Phòng đảm bảo chất lượng
Phòng hoạch kế sản xuất
Phòng tài vụ Phòng tổ chức bảo vệ
Phòng hành chính y tế các nhà máy dệt đã đáp ứng nhu cầu sản xuất, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Công ty đã nhận được nhiều huy chương và bằng khen từ chính phủ và nhà nước.
Một số chỉ tiêu những năm gần đây cũng phần nào cho thấy sự quan tâm của
Trong những năm gần đây, một số chỉ tiêu đã phản ánh sự quan tâm của nhà nước đối với Công ty Dệt 10/10, cũng như nỗ lực của ban lãnh đạo và toàn thể nhân viên Những cố gắng này nhằm giúp công ty duy trì vị thế vững chắc trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt của thị trường.
Cơ cấu quản lý điều hành sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần dệt 10-10
Bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Dệt 10-10 bao gồm các bộ phận sau:
Hội đồng quản trị là cơ quan quản trị cao nhất của Công ty giữa hai kỳ Đại hội cổ đông, gồm 5 thành viên do Đại hội cổ đông bầu hoặc miễn nhiệm Các thành viên được bầu với đa số phiếu theo số cổ phần thông qua hình thức bỏ phiếu kín Để trở thành thành viên, cá nhân phải là cổ đông hoặc đại diện hợp pháp cho cổ đông pháp nhân, sở hữu từ 2% vốn điều lệ trở lên Ngoài ra, thành viên Hội đồng quản trị không được đồng thời là thành viên của Hội đồng quản trị các tổ chức kinh doanh khác, nhưng có thể kiêm nhiệm các chức vụ điều hành trực tiếp sản xuất của Công ty.
Cơ quan thường trực của Hội đồng quản trị gồm Chủ tịch và hai Uỷ viên Hội đồng quản trị có nhiệm vụ giải quyết công việc hàng ngày
+ Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện cho Công ty trước pháp luật, có trách nhiệm và quyền hạn như sau:
- Triệu tập các phiên họp của Hội đồng quản trị.
- Chuẩn bị nội dung, chương trình và điều khiển các buổi họp để thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị.
- Lập chương trình công tác và phân công các thành viên thực hiện việc kiểm tra, giám sát hoạt động của Công ty.
- Được uỷ quyền và chịu trách nhiệm về sự uỷ quyền của mình.
- Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm Giám đốc Công ty (Điều 31 - Điều lệ Công ty).
+ Thành viên Hội đồng quản trị trực tiếp thực thi nhiệm vụ đã được Hội đồng
Thành viên Hội đồng quản trị phải trực tiếp thực hiện nhiệm vụ được phân công mà không được uỷ quyền cho người khác Nhiệm vụ và quyền hạn của các thành viên Hội đồng quản trị được quy định rõ ràng.
+ Nghiên cứu đánh giá tình hình, kết quả hoạt động và đóng góp vào việc xây
Nghiên cứu đánh giá tình hình và kết quả hoạt động của Công ty là rất quan trọng để xác định phương hướng phát triển trong từng thời kỳ Việc này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về hiệu quả kinh doanh mà còn đóng góp vào việc xây dựng chiến lược phát triển bền vững cho Công ty.
Các cán bộ chức danh trong Công ty có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu liên quan đến hoạt động của Công ty khi được yêu cầu, nhằm hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ của mình Họ cũng phải đảm bảo bảo mật thông tin tài liệu trước Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Tham gia phiên họp Hội đồng quản trị, thảo luận và biểu quyết các vấn đề liên quan, đồng thời chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật, Đại hội cổ đông và Hội đồng quản trị về hành vi của mình.
Thực hiện Điều lệ Công ty và các Nghị quyết của Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị sẽ phân công nhiệm vụ cho từng thành viên liên quan.
Cả 5 thành viên Hội đồng quản trị đều đã tốt nghiệp đại học hệ chính qui. Giám đốc công ty là người đại diện cho nhà nước nắm giữ số cổ phần của nhà nước(máy móc thiết bị) Tuy nhiên, trong cơ chế hiện nay, để nâng cao hiệu quả lãnh đạo thì đòi hỏi Hội đồng quản trị phải thường xuyên trau dồi, nâng cao kiến thức để quản trị Công ty được tốt hơn nữa.Hội đồng quản trị là cơ quan quản trị cao nhất của Công ty giữa hai kì Đại hội cổ đông.
+ Đến kì theo qui định Đại hội cổ đông triệu tập và họp bàn bầu ra ban kiểm
Đến thời điểm quy định, Đại hội cổ đông sẽ được triệu tập để thảo luận và bầu ra ban kiểm soát cùng hội đồng quản trị.
Ban giám đốc có trách nhiệm đánh giá hiệu quả công tác quản lý và đề xuất các biện pháp quản trị phù hợp.
Hội đồng quản trị họp nhất trí bầu ra ban giám đốc gồm:
Hội đồng quản trị họp nhất trí bầu ra ban giám đốc gồm:
Giám đốc Công ty, được bổ nhiệm bởi Hội đồng quản trị, là người quản lý điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và đại diện pháp nhân trong các giao dịch Giám đốc chịu trách nhiệm lãnh đạo bộ máy quản lý và làm việc cùng với hai phó giám đốc để đưa ra phương án kinh doanh cho phòng kinh doanh.
Giám đốc có quyền bổ nhiệm các Phó giám đốc theo đề nghị của mình và được Hội đồng quản trị phê duyệt Các chức danh khác trong bộ máy quản lý sẽ do giám đốc quyết định.
Phó giám đốc sản xuất có trách nhiệm phối hợp với phòng kế hoạch để xây dựng kế hoạch sản xuất, nhằm tư vấn cho giám đốc và hội đồng quản trị.
Phó giám đốc kinh doanh có trách nhiệm chỉ đạo các bộ phận do giám đốc ủy quyền và hỗ trợ phó giám đốc sản xuất trong việc giúp đỡ giám đốc.
+ Bộ phận quản lý lao động - tiền lương và công tác văn phòng.
+ Bộ phận quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh.
+ Bộ phận quản lý vật tư tài sản, thiết bị.
+ Bộ phận quản lý kế hoạch và marketing.
+ Bộ phận quản lý kĩ thuật, công nghệ sản xuất và quản lý chất lượng sản phẩm.
Nguyên tắc tổ chức và quản lý, điều hành Công ty được qui định rõ tại điều 6- Điều lệ Công ty Cổ phần dệt 10 - 10:
“Công ty hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ và tôn trọng pháp luật"
Cơ quan quyết định cao nhất của Công ty là Đại hội cổ đông.
Với mô hình quản lý tổ chức hiệu quả, Công ty đã nâng cao năng suất lao động, thể hiện qua việc tăng thu nhập cho người lao động Sự gia tăng này đã khơi dậy niềm đam mê trong công việc và tạo sự đoàn kết giữa các nhân viên, hướng tới mục tiêu chung của toàn Công ty.
2.2.2 Ban giám đốc stt Chức danh Chuyên môn Trình độ
1 Giám đốc Cử nhân kinh tế Đại học
2 Phó giám đốc kinh tế Cử nhân kinh tế Đại học
3 Phó giám đốc sản xuất Kỹ sư cơ khí chế tạo Đại học
Giám đốc là đại diện pháp nhân của Công ty, quản lý mọi hoạt động kinh doanh và được Hội đồng quản trị bổ nhiệm Người này không nhất thiết phải là cổ đông và có thể là thành viên của Hội đồng quản trị Giám đốc đóng vai trò trung tâm trong việc liên lạc thông tin và phối hợp với các thành viên để đạt được mục tiêu chung của Công ty.
Những đặc điểm kinh tế kỹ thuật của công ty ảnh hưởng đến công tác tổ chức cơ cấu bộ máy quản lý
2.3.1 Đặc điểm nhiệm vụ sản xuất và tính chất sản phẩm
Là một xí nghiệp chuyên môn hoá cao, có nhiệm vụ sản xuất ổn định, từ ngày
Xí nghiệp chuyên dệt các loại sợi tổng hợp như polyamit, polyeste, pê e, petex, với sản phẩm chủ yếu là vải tuyn và các loại màn tuyn như màn đôi, màn cá nhân, và màn chụp trẻ em Đặc điểm và kết cấu sản phẩm đã ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức sản xuất và lao động của công ty Sản phẩm có kết cấu đơn giản và gọn nhẹ, đáp ứng nhu cầu thị trường.
2.3.2 Đặc điểm công nghệ chế tạo sản phẩm
Dây chuyền sản xuất của Công ty là một dây chuyền sản xuất khép kín.Các
Dây chuyền sản xuất của Công ty được thiết kế khép kín, với các phân xưởng liên kết chặt chẽ từ đầu đến cuối Quy trình sản xuất diễn ra một cách liên tục và đồng bộ, đảm bảo hiệu quả và chất lượng cao.
Mắc sợi Dệt vải Tẩy trắng Văng sấy Cắt
May Kiểm tra chất lượng Đóng gói
- Cụng đoạn mắc sợi: Sợi được đỏnh thành cỏc bôbin, cỏc bôbin mắc xong
- Cụng đoạn mắc sợi: Sợi được đỏnh thành cỏc bôbin, cỏc bôbin mắc xong chuyển sang bộ phận dệt. chuyển sang bộ phận dệt.
- Công đoạn dệt: Sợi được dệt thành vải tuyn khổ 1,8m sau đó vải được
Trong công đoạn dệt, sợi được dệt thành vải tuyn có khổ 1,8m Sau đó, vải sẽ được chuyển đến bộ phận tẩy trắng hoặc nhuộm màu và tiến hành văng sấy.
- Công đoạn văng sấy: vải tuyn được đưa vào, văng sấy có nhiệm vô định hình
Công đoạn văng sấy là bước quan trọng trong quy trình sản xuất vải tuyn, nơi vải được đưa vào và kéo từ 1,6 m lên 1,8 m Sản phẩm cuối cùng của giai đoạn này là vải tuyn, sau đó sẽ được chuyển sang công đoạn cắt may.
- Công đoạn cắt may: thực hiện hoàn chỉnh ra thành phẩm Màn thành phẩm
Công đoạn cắt may là bước quan trọng để hoàn thiện sản phẩm Sau khi hoàn thành, sản phẩm sẽ được chuyển đến bộ phận KCS để kiểm tra chất lượng và sau đó tiến hành đóng gói.
Sơ đồ công nghệ chế tạo sản phẩm
Sơ đồ công nghệ chế tạo sản phẩm
2.3.3 Đặc điểm về lao động:
Lao động là một trong ba yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất Số lượng lao động tại xí nghiệp có sự biến động qua từng kỳ Vào đầu năm 2003, tổng số cán bộ công nhân viên chức của xí nghiệp là 502 người.
Trực tiếp sản xuất 437 người
Trực tiếp sản xuất 437 người
Cán bộ quản lý kỹ thuật 41 người
Cán bộ quản lý kỹ thuật 41 người
Cán bộ quản lý hành chính 24 người
Cán bộ quản lý hành chính 24 người
Tỷ lệ lao động gián tiếp của xí nghiệp là 13%, do xí nghiệp phân tán thành ba địa điểm, dẫn đến lãng phí lao động gián tiếp Xí nghiệp có 41 người có trình độ đại học và 30 người có trình độ trung cấp, với bậc thợ bình quân đạt 3,5/5 Tuổi bình quân của nhân viên là 32, trong đó nữ giới chiếm 64,5% Lực lượng lao động ở độ tuổi thanh niên chiếm 75% tổng số cán bộ công nhân viên trong xí nghiệp.
2.3.4 Đặc điểm về nguyên vật liệu
Dây chuyền sản xuất của xí nghiệp là một hệ thống hoàn chỉnh, từ mắc sợi đến vải thành phẩm, được đóng thành kiện hoặc may thành sản phẩm hoàn chỉnh để xuất khẩu Thiết bị được trang bị hiện đại và đồng bộ, với trình độ cơ giới hóa cao đạt 90% Tuy nhiên, 10% còn lại do mặt bằng xí nghiệp chật hẹp không thể lắp đặt thiết bị và một số máy móc hư hỏng đang chờ sửa chữa hoặc thanh lý.
Vật tư kỹ thuật của xí nghiệp chủ yếu là sợi tổng hợp dùng để dệt vải tuyn, trong đó phần lớn phải nhập khẩu từ Đức, cùng với các loại sợi từ Nhật Bản, Hồng Kông và Hà Lan Các phụ tùng thay thế cho máy móc thiết bị như kim rãnh, kim lỗ, kim ép và flatin cũng được nhập từ Đức Một trong những khó khăn lớn của xí nghiệp là không gian nhà xưởng chật hẹp và quy trình cung ứng sợi phải qua nhiều khâu trung chuyển Hình thức cấp phát vật tư được thực hiện định kỳ, kết hợp với việc cấp phát đột xuất theo yêu cầu dựa trên các định mức tiêu hao vật tư kỹ thuật.
Phân tích quy trình hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công
Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức
2.4.1.1 Phân tích môi trường vĩ mô
2.4.1.1 Phân tích môi trường vĩ mô
Trong bối cảnh hình thành nhiều khu vực thương mại tự do với thuế suất ưu đãi thường ở mức 0%, các nước phát triển theo quy định của WTO có thể dành chế độ ưu đãi thuế quan cho các nước đang phát triển Là thành viên của WTO, các nước phải tuân thủ nguyên tắc không phân biệt đối xử, bao gồm quy chế tối huệ quốc (MFN) và quy chế đối xử quốc gia (NT) Tuy nhiên, Việt Nam chưa phải là thành viên của WTO, dẫn đến việc hàng hóa xuất khẩu của chúng ta phải chịu mức thuế cao tại nhiều nước do chưa được cấp quy chế MFN và NT, gây khó khăn cho các công ty và ngành Dệt may Việt Nam.
Việt Nam sẽ chính thức gia nhập WTO, mang lại cả cơ hội và thách thức Điều này giúp Việt Nam được đối xử bình đẳng với các nước thành viên khác, từ đó phát huy lợi thế tương đối trong ngành và mở rộng thị trường Tuy nhiên, sự gia nhập cũng đồng nghĩa với việc phải đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh hơn.
Theo quy định của chương trình ưu đãi thuế quan AFTA (CEPT), Việt Nam phải giảm thuế nhập khẩu xuống còn 0% đến 5% vào năm 2006 và thực hiện thuế suất 0% cho toàn bộ các mặt hàng vào năm 2015 Mặc dù quy định này đặt ra nhiều thách thức cho các công ty, nhưng cũng tạo động lực để họ khẳng định vị thế trong khu vực ASEAN và toàn cầu Đây là cơ hội để các công ty mở rộng thị trường.
Khi gia nhập WTO và thực hiện AFTA, Công ty cổ phần Dệt 10 - 10 đối mặt với sự gia tăng cạnh tranh cả về số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu Khách hàng chính của công ty là Vestergard Frandsen từ Đan Mạch, chuyên thu mua sản phẩm để xuất khẩu sang các nước Châu Phi như Kenya, Uganda, và Congo Tuy nhiên, công ty chưa có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng tại thị trường Châu Phi Tất cả yêu cầu về quy cách, phẩm chất, và mẫu mã hàng xuất khẩu đều do Đan Mạch quyết định Ngoài ra, công ty cũng xuất khẩu sang các nước Châu Âu và Châu Á khác, đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng để nâng cao chất lượng sản phẩm.
Sự biến động của thị trường dầu mỏ toàn cầu đã ảnh hưởng tiêu cực đến công ty, khi sản lượng khai thác dầu bị giảm và giá dầu tăng cao, dẫn đến sự gia tăng giá sợi.
Môi trường trong nước mang lại nhiều thuận lợi cho sự phát triển của công ty, với Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có sự ổn định chính trị tại Đông Nam Á Các chính sách vĩ mô của Nhà nước, như khuyến khích xuất khẩu và điều chỉnh linh hoạt tín dụng tiền tệ, cùng với việc sửa đổi luật đầu tư nước ngoài, đã tạo ra một môi trường kinh doanh thông thoáng cho công ty và các đối tác nước ngoài khi hoạt động tại Việt Nam.
Các yếu tố thể chế- luật pháp
Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo và là đảng cầm quyền duy nhất trong hệ thống chính trị nhất nguyên Tại Việt Nam, không có sự tồn tại của các đảng chính trị đối lập, điều này tạo ra một môi trường chính trị ổn định Sự ổn định về chính trị và xã hội là yếu tố quan trọng quyết định sự lựa chọn của các nhà đầu tư khi xem xét đầu tư vào Việt Nam.
Pháp luật ảnh hưởng đến doanh nghiệp
Công văn Số: 3758/VPCP-KTTH đã xem xét đề nghị của Bộ Tài chính liên quan đến các văn bản số 301/TTr-BTC và số 308/BTC-VP về việc bổ sung giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp khắc phục thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật gây ra tại một số địa phương.
Công văn Số: 3940/VPCP-KTTH được ban hành dựa trên văn bản số 207/TB-VPCP ngày 20 tháng 5 năm 2014 của Văn phòng Chính phủ, thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng về việc hỗ trợ các doanh nghiệp khắc phục thiệt hại và nhanh chóng trở lại sản xuất kinh doanh Công văn số 3758/VPCP-KTTH cũng liên quan đến vấn đề này.
Vào ngày 26 tháng 5 năm 2014, Văn phòng Chính phủ đã ban hành một số giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp khắc phục thiệt hại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội được giao nhiệm vụ khẩn trương bổ sung hướng dẫn hỗ trợ cho người lao động bị ngừng việc tại các doanh nghiệp chịu thiệt hại do các hành vi vi phạm pháp luật tại một số địa phương.
Các yếu tố kinh tế
Tình hình kinh tế Việt Nam
Theo giá so sánh năm 2010, GDP năm 2011 tăng 6,24%, năm 2012 tăng 5,25% và năm 2013 tăng 5,42%, với mức tăng bình quân 5,6%/năm trong 3 năm Mặc dù chưa đạt kế hoạch đề ra và chỉ tiêu điều chỉnh, mức tăng này vẫn chấp nhận được và cao hơn một chút so với mức bình quân của các nước ASEAN (5,1%/năm trong giai đoạn 2011-2013, theo IMF) Tuy nhiên, khu vực sản xuất vật chất đang có xu hướng giảm dần tốc độ tăng trưởng.
Nền kinh tế năm 2013 khá ổn định, vượt hơn năm 2012 dựa vào các chỉ số quan trọng:
Lạm phát được duy trì ở mức thấp 6,04% so với mục tiêu 7-8%.
Lãi suất có xu hướng giảm thấp và ổn định, không còn tình trạng chạy đua lãi suất phức tạp như những năm trước.
Tỷ giá đã duy trì sự ổn định trong thời gian dài, mặc dù có những thời điểm tỷ giá phi chính thức biến động vượt quá trần biên độ Đặc biệt, sự điều chỉnh tỷ giá chính thức của NHNN lên 1% vào giữa tháng 6/2013 đã ảnh hưởng đến tình hình này.
Cán cân thương mại được cải thiện đáng kể từ mức thâm hụt nặng nề trước đây nay cơ bản thăng bằng.
Dự trữ ngoại hối: cũng được cải thiện đáng kể, từ mức đủ trang trải 2,2 tháng nhập khẩu trong quý 1/2012 lên gần 3 tháng nhập khẩu trong quý 3/2013.
Mức đầu tư đã được cải thiện với hiệu quả sử dụng vốn cao hơn, thể hiện qua việc hệ số ICOR giảm từ 6,7 giai đoạn 2008 - 2010 xuống còn 5,53 giai đoạn 2011 - 2013 Môi trường kinh doanh ngày càng thuận lợi, với vốn FDI đăng ký mới và thực hiện năm sau cao hơn năm trước, chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tập trung vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghệ cao Trong chín tháng, vốn FDI đăng ký tăng 36,1%, vốn thực hiện tăng 6,4%, trong khi vốn ODA ký kết tăng 8,83% và giải ngân tăng 8,68% Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2013 ước đạt 29,1% GDP nhờ vào các nguồn vốn khác đang được huy động.
Năng suất lao động năm 2013 tăng 10,1% so với năm 2010.
Xu hướng kinh tế giai đoạn tới
Kinh tế Việt Nam đang trên đà phục hồi với các chỉ báo kinh tế vĩ mô ổn định hơn so với năm 2013, tuy nhiên vẫn chưa thoát khỏi giai đoạn trì trệ.
Với mức tăng trưởng trong năm 2012 và 2013 chỉ quanh mức 5%, các nhà hoạch định chính sách đang đặt mục tiêu cao hơn trong năm 2014.
Năm 2014 được dự báo là năm kinh tế tiếp tục phục hồi với GDP tăng khoảng 5.7-5.8% và lạm phát từ 7-9% Lãi suất có khả năng giữ nguyên, trong khi lãi suất cho vay có thể giảm từ 1-1.5% và lãi suất huy động giảm từ 0.5-1% nếu việc xử lý nợ xấu diễn ra thuận lợi.
Tình hình xu hướng hoạt động của doanh nghiệp hiện nay