MỤC LỤC MỤC LỤC 1LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI 2HÀNG HÓA ASEAN (HIỆP ĐỊNH ATIGA) 21 1 Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và sự ra đời của Hiệp định thương mại hàng[.]
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA ASEAN (HIỆP ĐỊNH ATIGA) 2
1.1 Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và sự ra đời của Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) 2
1.2 Ý nghĩa sự ra đời của ATIGA 4
CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN TRONG HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA ASEAN (ATIGA) 6
2.1 Khái quát chung về biện pháp phi thuế quan 6
2.1.1 Khái niệm 6
2.1.2 Đặc điểm 7
2.2 Các biện pháp phi thuế quan theo Hiệp định ATIGA 8
2.2.1 Áp dụng các biện pháp phi thuế quan 8
2.2.2 Dỡ bỏ chung các hạn chế số lượng 8
2.2.3 Xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan khác 10
2.2.4 Các hạn chế ngoại hối 11
2.2.5 Thủ tục cấp phép nhập khẩu 12
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN TRONG
HIỆP ĐỊNH ATIGA TỚI NỀN KINH TẾ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 13
3.1 Pháp luật Việt Nam hiện hành về các biện pháp phi thuế quan 13
3.2 Tác động tích cực của Hiệp định ATIGA tới nền kinh tế thương mại Việt Nam 14
3.3 Tác động tiêu cực của Hiệp định ATIGA tới nền kinh tế thương mại Việt Nam 16
Trang 2CHƯƠNG 4: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC BIỆN
PHÁP PHI THUẾ QUAN CỦA VIỆT NAM ĐỂ PHÙ HỢP VỚI XU THẾ
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 19
4.1 Phương hướng 19
4.2 Giải pháp hoàn thiện 19
KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), là tổ chức liên chính phủđược thành lập ngày 8/8/1967, là nhân tố quan trọng hàng đầu đối với việc duytrì môi trường hòa bình, an ninh và hợp tác vì phát triển ở Đông Nam Á, hỗ trợđắc lực cho mục tiêu an ninh và phát triển của từng nước thành viên cũng như cảHiệp hội
Với mục tiêu dỡ bỏ các rào cản để tạo điều kiện thuận lợi về lưu chuyểnhàng hoá trong nội khối ASEAN, tại Hội nghị Hội đồng AFTA lần thứ 21 và Hộinghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN lần thứ 39, các nước ASEAN đã quyết định xâydựng một hiệp định điều chỉnh toàn diện tất cả các lĩnh vực về thương mại hànghoá trong ASEAN, Hiệp định này thay thế Hiệp định chương trình ưu đãi thuếquan có hiệu lực chung để thực hiện Khu vực thương mại tự do ASEAN (CEPT/AFTA) đã ký năm 1992 Tuy nhiên, để tiến tới thiết lập một thị trường và cơ sởsản xuất đồng nhất để thực hiện Cộng đồng kinh tế ASEAN năm 2015 thì vớinhững quy định bất cập và số lượng nghị định thư sửa đổi, bổ sung quá nhiều,Hiệp định CEPT/AFTA tỏ ra không còn phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ mới
Vì vậy, Hiệp định ATIGA đã ra đời ATIGA được xây dựng theo nguyên tắc kếthừa quy định trước đây trong CEPT/AFTA đồng thời đưa vào những quy địnhphù hợp với thực tiễn hoạt động thương mại hàng hoá, chính vì vậy ATIGA rađời đã được đánh giá là văn bản hoàn chỉnh điều chỉnh toàn diện tất cả các lĩnhvực về thương mại hàng hoá trong ASEAN, phù hợp với tầm nhìn của một cộngđồng kinh tế ASEAN năng động và đồng thời khẳng định quyết tâm của cácthành viên ASEAN trong việc hướng tới mục tiêu cao nhất về hội nhập kinh tếcủa Cộng đồng kinh tế ASEAN bằng việc tạo ra một hành lang pháp lý cao nhấttrong tự do hoá thuế quan trong khu vực
Từ những mục tiêu ấy, những biện pháp phi thuế quan cũng là một phầnchế định được quy định trong Hiệp định ATIGA Theo đó đã có không ít ảnhhưởng tích cực cũng như tiêu cực tới các nước ASEAN nói chung và nền kinh tếthương mại của Việt Nam nói riêng Để làm rõ hơn về những quy định này, dưới
sự hướng dẫn của TS Dương Nguyệt Nga, chúng em xin lựa chọn đề tài “Các biện pháp phi thuế quan trong Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) - Thực tiễn tác động tới nền kinh tế thương mại Việt Nam” cho
chuyên đề Luật thương mại và kinh doanh các nước ASEAN
Trang 4CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI
HÀNG HÓA ASEAN (HIỆP ĐỊNH ATIGA)
1.1 Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và sự ra đời của Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA)
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast AsianNations-ASEAN) ra đời trong bối cảnh có nhiều biến động đang diễn ra trongkhu vực và trên thế giới, bao gồm cả những thay đổi từ bên ngoài tác động vàokhu vực cũng như những vấn đề nảy sinh từ bên trong mỗi nước Để đối phó vớicác thách thức này, xu hướng co cụm lại trong một tổ chức khu vực với một hìnhthức nào đó để tăng cường sức mạnh bản thân đã xuất hiện và phát triển trongcác nước thành viên tương lai của ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Áđược thành lập ngày 8/8/1967 tại Băng – cốc, Thái Lan trên cơ sở Tuyên bốBăng-cốc với 5 thành viên ban đầu, với mục tiêu tăng cường hợp tác chính trị, anninh, kinh tế và văn hoá - xã hội giữa các nước thành viên, tạo điều kiện hộinhập sâu hơn với khu vực và thế giới
ASEAN ra đời đã đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình phát triểncủa khu vực
Khi mới thành lập ASEAN gồm 5 nước là In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, lip-pin, Xin-ga-po và Thái Lan Năm 1984 ASEAN kết nạp thêm Bru-nây Da-ru-xa-lam làm thành viên thứ 6 Ngày 28/7/1995 Việt Nam trở thành thành viên thứ
Phi-7 của Hiệp hội Ngày 23/Phi-7/199Phi-7 kết nạp Lào và Mi-an-ma Ngày 30/4/1999,Căm-pu-chia trở thành thành viên thứ 10 của ASEAN, Ban thư ký ASEAN đượcđặt tại Jakarta, Indonesia , hoàn thành ý tưởng về một ASEAN bao gồm tất cảcác quốc gia Đông Nam á, một ASEAN của Đông Nam á và vì Đông Nam á
Cộng đồng ASEAN với ba trụ cột về chính trị-an ninh, kinh tế và văn
hóa-xã hội, có mục tiêu bao trùm là xây dựng Hiệp hội thành một tổ chức hợp tácliên Chính phủ liên kết sâu rộng hơn và vững mạnh hơn, nhưng vẫn mở rộng hợptác với bên ngoài, đồng thời hướng mạnh tới người dân, phục vụ và nâng caocuộc sống của người dân Cộng đồng Chính trị-An ninh ASEAN không nhằm
Trang 5tạo ra một khối phòng thủ chung, mà mục tiêu là tạo dựng một môi trường hòabình và an ninh cho phát triển ở khu vực Đông Nam Á thông qua việc nâng hợptác chính trị-an ninh ASEAN lên tầm cao mới, với sự tham gia và đóng góp xâydựng của cả các đối tác bên ngoài Cộng đồng Kinh tế ASEAN nhằm mục tiêutạo ra một thị trường chung duy nhất và cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có
sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động; từ đó nângcao tính cạnh tranh và thúc đẩy sự thịnh vượng chung cho cả khu vực; tạo ra sựhấp dẫn với đầu tư-kinh doanh từ bên ngoài Cộng đồng Văn hóa-Xã hộiASEAN với mục tiêu tổng quát là phục vụ và nâng cao chất lượng cuộc sống củangười dân ASEAN, sẽ tập trung xử lý các vấn đề liên quan đến bình đẳng vàcông bằng xã hội, bản sắc văn hóa, môi trường, tác động của toàn cầu hóa vàcách mạng khoa học công nghệ
Và với mục tiêu thành lập thị trường và cơ sở sản xuất đồng nhất vào năm
2015 với dòng lưu chuyển hàng hóa tự do đòi hỏi phải có sự kết hợp của nhữngbiện pháp hội nhập sẵn có và các biện pháp bổ sung tương ứng với thương mạihàng hóa trong khu vực Để đạt được điều này, các bộ trưởng kinh tế ASEANtrong tháng 8/2007 đã nhất trí thực hiên chương trình thuế quan ưu đãi có hiệulực chung cho khu vực thương mại tự do ASEAN (CEPT – AFTA) và biến nótrở thành công cụ pháp lý toàn diện hơn Chính điều này đã dẫn tới việc ký kếthiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) vào tháng 2 năm 2009
Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA – ASEAN Trade inGood Agreement) kí ngày 26/2/2009 tại Cha-am, Thái Lan Hiệp định này đượcxây dựng trên cơ sở kế thừa và thống nhất các quy định của các văn bản trước đó
về AFTA Cụ thể ATIGA ra đời trên cơ sở tổng hợp các cam kết đã được thốngnhất trong Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN và Hiệp định
về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung cho AFTA (CEPT) cùng cáchiệp định, nghị định thư có liên quan Đồng thời, trong ATIGA cũng có bổ sungcác nội dung mới nhằm điều chỉnh toàn diện và nâng cấp tất cả các lĩnh vực hợptác về thương mại hàng hóa trong ASEAN cho phù hợp với yêu cầu xây dựngCộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)
Như vậy, ATIGA không phải sự thay thế mà chỉ là sự tổng hợp, bổ sungcác văn bản trước đó về AFTA nhằm thúc đẩy tiến trình tự do hóa thương mạitrong AFTA
Trang 61.2 Ý nghĩa sự ra đời của ATIGA
ATIGA hợp nhất và đơn giản hóa tất cả các điều khoản của CEPT –AFTA đồng thời cũng bổ sung một số quyết định của các bộ trưởng và theo đóATIGA đã trở thành công cụ pháp lý chung hướng dẫn khu vực tư nhân và các
cơ quan chức năng có trách nhiệm thực thi và triển khai hiệp định này
Phụ lục ATIGA bao gồm lộ trình hoàn thiện cắt giảm hàng rào thuế quan
áp dụng với các quốc gia thành viên và loại bỏ dần các mức thuế cụ thể áp dụngvới từng loại hàng hóa khác nhau cho từng năm đến năm 2015 Do đó, lộ trìnhcắt giảm hàng rào thuế quan trở nên minh bạch hơn và có thể dự đoán trướcđược trong cộng đồng kinh tế
ATIGA bao gồm các điều khoản đảm bảo dòng chu chuyển tự do hànghóa trong ASEAN như: tự do hóa thuế quan, dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan, quytắc xuất xứ, lợi thế hóa thương mại, hải quan, tiêu chuẩn và tính hợp lý của tiêuchuẩn, biện pháp vệ sinh dịch tễ ATIGA còn bao gồm cả những cam kết toàndiện liên quan tới thương mại hàng hóa cùng những thỏa thuận và cơ chế giữacác tổ chức hỗ trợ cho quá trình thực hiện Điều này cho phép các cơ quan liênngành trong ASEAN có được hành động đồng nhất
Để thực hiện mục tiêu xóa bỏ hàng rào phi thuế quan, cần phải có các biệnpháp cụ thể để thực hiện các điều khoản của biện pháp phi thuế quan trongATIGA đồng thời cũng phải thiết lập cơ chế giám sát cam kết xóa bỏ rào cản phithuế quan
ATIGA cũng bao hàm cả hiệp định khung ASEAN về lợi thế hóa thươngmại Theo đó, ASEAN sẽ phát triển chương trình thuận lợi hóa thương mại giaiđoạn 2009 – 2015 và phát triển khả năng tối ưu hóa các chỉ số thuận lợi kinhdoanh của World Bank như là một cơ sở tiếp cận quá trình thuận lợi hóa thươngmại trong ASEAN
Chính thức có hiệu lực từ tháng 5 năm 2010, ATIGA đã mang lại rấtnhiều lợi ích cho nhà nhập khẩu cũng như xuất khẩu thông qua ưu đãi từ việc cắtgiảm hàng rào thuế quan và rào cản phi thuế quan Tương tự như vậy, người tiêudùng trong khối ASEAN cũng đang được hưởng lợi từ việc tiếp cận với rất nhiềuchủng loại hàng hóa có mức giá thấp
Trang 7Sau khi ATIGA có hiệu lực, một số thỏa thuận nhất định liên quan tớithương mại hàng hóa trong ASEAN như CEPT và một số nghị định khác sẽkhông còn hiệu lực nữa Tuy nhiên, những thỏa thuận này về mặt hành chính vẫnđược coi như một phụ lục của ATIGA cho đến khi những thỏa thuận hỗ trợtương ứng được sửa đổi, bổ sung và ký kết.
Trang 8CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN TRONG HIỆP ĐỊNH
THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA ASEAN (ATIGA)
2.1 Khái quát chung về biện pháp phi thuế quan
quan đến xuất khẩu và việc mua sắm nội bộ Chính phủ (như các nguyên tắc vềhàm lượng trong nước, các khoản trợ cấp, giảm thuế, các biện pháp biên giới vềphân biệt đối xử và biện pháp tư nhân chống cạnh tranh)
Tổ chức Thương mại thế giới WTO cũng đưa ra định nghĩa về các biện
pháp phi thuế quan và các hàng rào phi thuế quan của mình “ Biện pháp phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan, liên quan hoặc ảnh hưởng đến sự luân chuyển hàng hóa giữa các nước” Theo cách định nghĩa này thì WTO cũng
đã dựa trên cơ sở của thuế quan, từ đó, WTO xây dựng định nghĩa về hàng rào
phi thuế quan “ Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối với thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học hoặc bình đẳng”.
Hiệp định ATIGA cũng đưa ra định nghĩa “Hàng rào phi thuế quan nghĩa
là các biện pháp ngoài biện pháp thuế quan cấm hoặc hạn chế xuất nhập khẩu hàng hoá trong một Quốc gia Thành viên” (Điểm k, khoản 1 Điều 2).
Các biện pháp này được biểu hiện dưới hình thức như trợ cấp, giấy phépxuất nhập khẩu, hàng rào kỹ thuật…
Mỗi biện pháp phi thuế quan có thể có một hoặc nhiều thuộc tính như ápdụng tại biên giới hay nội địa, được duy trì một cách chủ động hay bị động,nhằm bảo hộ sản xuất hay không có mục đích bảo hộ…
Trang 92.1.2 Đặc điểm
- Các biện pháp phi thuế quan phong phú về hình thức
Nhờ đặc điểm này, biện pháp phi thuế quan tác động, khả năng và mức độđáp ứng mục tiêu của chúng rất đa dạng Do đó, nếu sử dụng hàng rào phi thuếquan hay các biện pháp phi thuế quan để phục vụ một mục tiêu cụ thể thì sẽ cónhiều sự lựa chọn, mà không bị bó hẹp trong khuôn khổ một công cụ duy nhấtnhư thuế quan Ví dụ để hạn chế nhập khẩu phân bón, có thể đồng thời áp dụngcác hạn ngạch nhập khẩu, cấp giấy phép nhập khẩu tự động
- Một biện pháp phi thuế quan có thể đồng thời đáp ứng nhiều mục tiêuvới hiệu quả cao
Mỗi quốc gia thường theo đuổi nhiều mục tiêu trong chính sách kinh tế,thương mại của mình, có thể là bảo hộ sản xuất trong nước, khuyến khích pháttriển một số ngành nghề, bảo đảm an toàn sức khỏe con người, động thực vật,môi trường, hạn chế tiêu dùng, đảm bảo cán cân thanh toán, đảm bảo an ninhquốc gia, trật tuej an toàn xã hội…Các biện pháp phi thuế quan có thể đồng thờiphục vụ hiệu quả nhiều mục tiêu khác nhau nên trên trong khi việc sử dụng công
cụ thuế quan không khả thi hoặc không hữu hiệu bằng
- Dự đoán việc áp dụng các hàng rào hay biện pháp phi thuế quan là rấtkhó khăn vì trên thực tế chúng thường được vận dụng trên cơ sở dự đoán chủquan, chẳng hạn để hạn chế hạn ngạch nhập khẩu phân bón trong một năm,người ta dự tính khả năng các đơn vị sản xuất phân bón trong nước có thể đápứng được tổng nhu cầu về phân bón của toàn ngành nông nghiệp
Trong bối cảnh kinh tế phức tạp và thường xuyên biến động hiện nay, việcđưa ra một dự đoán tương đối chính xác là rất khó khăn Hậu quả của việc dựbáo không chính xác sẽ rất nghiêm trọng trong nước vào thời vụ, đẩy giá tăngvọt hoặc trái lại dẫn đến tình trạng cung vượt quá cầu lớn trên thị trường làm giásụt giảm Điều này đồng nghĩa với việc các quyết định sản xuất và kinh doanh sẽchịu những rủi ro cao hơn
Các hàng rào phi thuế quan đôi khi cũng làm nhiễu tín hiệu của thị trường
mà người sản xuất dựa vào đó để ra quyết định Tín hiệu này chính là giá thịtrường Khi bị làm sai lệch, nó sẽ phản ánh không trung thực lợi thế cạnh tranhthật sự chỉ dẫn sai việc phân bổ nguồn lực trong nội bộ nền kinh tế, do đó, khả
Trang 10năng xây dựng kế hoạch đầu tư, sản xuất, kinh doanh hiệu quả trong trung và dàihạn của người sản xuất bị hạn chế.
2.2 Các biện pháp phi thuế quan theo Hiệp định ATIGA
2.2.1 Áp dụng các biện pháp phi thuế quan
Việc áp dụng các biện pháp phi thuế quan đã được quy định cụ thể tại Điều
40 Hiệp định ATIGA
Từng Quốc gia Thành viên không được thông qua hoặc duy trì bất kỳ biệnpháp phi thuế quan về nhập khẩu bất kỳ mặt hàng nào từ bất kỳ Quốc gia Thànhviên nào khác hoặc việc xuất khẩu bất kỳ mặt hàng nào sang bất kỳ Quốc giaThành viên nào, trừ trường hợp các biện pháp này phù hợp với quyền và nghĩa
vụ trong WTO hoặc phù hợp với Hiệp định
Mỗi Quốc gia Thành viên phải đảm bảo minh bạch của các biện pháp phithuế quan nêu trong đoạn 1 phù hợp với điều của khoản của Điều 12 (Ban hành
và Quản lý các Quy định Thương mại) và phải đảm bảo rằng những biện pháptương đương không được chuẩn bị, thông qua hoặc áp dụng với mục đích tạo ranhững rào cản không cần thiết trong thương mại giữa các Quốc gia Thành viên Bất kỳ biện pháp mới nào hoặc điều chỉnh đối với các biện pháp hiện hànhphải được thông báo đầy đủ phù hợp với của Điều 11 (Các Thủ tục Thông báo)
Cơ sở dữ liệu về các biện pháp phi thuế quan áp dụng ở các Quốc giaThành viên sẽ được xây dựng và lưu trong Cơ sở dữ liệu Thương mại ASEANnhư nêu trong Điều 13 (Cơ sở dữ liệu thương mại ASEAN)”
2.2.2 Dỡ bỏ chung các hạn chế số lượng
Hạn chế về số lượng (hạn chế định lượng) được hiểu là “các lệnh cấm hoặchạn chế thương mại với các quốc gia thành viên khác, có thể thông qua hạnngạch, giấy phép hoặc các biện pháp khác với tác dụng tương tự, bao gồm cácbiện pháp và yêu cầu hành chính làm hạn chế thương mại”
Cả CEPT và ATIGA đều quy định việc dỡ bỏ chung đối với các hạn chế về
số lượng Điều 41 ATIGA quy định các quốc gia thành viên không được thôngqua hoặc duy trì bất cứ một biện pháp hạn chế về số lượng nào đối với cả hànghóa nhập khẩu và xuất khẩu (trừ các trường hợp ngoại lệ được quy định tại các
Trang 11điều 8, 9, 10, liên quan đến an ninh, bảo vệ sức khỏe con người, văn hóa, thuầnphong mỹ tục và bảo vệ cán cân thanh toán) Cụ thể:
“Mỗi Quốc gia Thành viên cam kết không thông qua hoặc duy trì bất kỳ biện pháp cấm hoặc hạn chế số lượng đối với nhập khẩu bất kỳ mặt hàng nào từ một Quốc gia Thành viên khác hoặc đối với việc xuất khẩu bất kỳ hàng hóa nào sang lãnh thổ của các Quốc gia Thành viên khác, trừ khi các biện pháp này phù hợp với quyền và nghĩa vụ của Quốc gia này trong WTO hoặc các quy định khác trong Hiệp định này Với mục đích này, Điều XI của GATT 1994 sẽ trở thành thành phần không thể tách rời của Hiệp định này, với sự điều chỉnh phù hợp.”
Cùng với đó, những quy định tại Điều 11 của GATT 1994 sẽ gắn liền vớiHiệp định ATIGA, cụ thể:
“Điều 11: Thời hạn áp dụng và việc xem xét lại thuế chống phá giá và các cam kết về giá
11.1 Thuế chống phá giá chỉ áp dụng trong khoảng thời gian và mức độ cần thiết để chống lại các trường hợp bán phá giá gây thiệt hại trong nước 11.2 Các cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét lại yêu cầu tiếp tục duy trì thuế chống phá giá trong trường hợp các cơ quan thấy cần thiết hoặc trên cơ sở đề nghị của các bên có liên quan đã cung cấp các thông tin tích cực đủ để đề nghị xem xét lại, với điều kiện là khoảng thời gian hợp lý đã hết kể từ khi chính thức
áp dụng thuế chống phá giá Các bên có liên quan có quyền đề nghị các cơ quan
có thẩm quyền xem xét việc tiếp tục áp dụng thuế chống phá giá có cần thiết nữa hay không, liệu các tác hại của việc bán phá giá có còn tiếp diễn hay lại xảy ra hay không nếu thuế chống phá giá được điều chỉnh hay loại bỏ hoàn toàn Sau khi đã xem xét theo các thủ tục nêu ra tại khoản này, các cơ quan hữu quan có thể quyết định việc áp dụng thuế chống phá giá là không còn cần thiết và loại thuế này sẽ được ngừng áp dụng ngay.
11.3 Ngoại trừ các quy định của khoản 1 và 2, thuế chống phá giá sẽ chấm dứt hiệu lực không muộn hơn 5 năm kể từ khi được áp dụng (hoặc kể từ ngày tiến hành rà soát gần nhất theo khoản 2 nếu việc rà soát này bao gồm cả cả việc xem xét có phá giá hay không và có thiệt hại hay không, hoặc theo khoản này), trừ phi các cơ quan hữu quan ra quyết định rằng việc hết hạn hiệu lực của thuế chống phá giá có thể dẫn tới sự tiếp tục cũng như tái phát sinh hiện tượng phá
Trang 12giá và các thiệt hại, sau khi tự tiến hành rà soát trước ngày này trên cơ sở đề nghị hợp lý do ngành sản xuất trong nước hoặc các đề nghị lập theo uỷ nhiệm của các ngành sản xuất này trong một khoảng thời gian hợp lý trước khi hết hạn Thuế chống phá giá có thể tiếp tục áp dụng tùy theo kết quả của việc rà soát này.
11.4 Các quy định trong Điều 6 về các bằng chứng và thủ tục cần thiết sẽ được áp dụng đối với tất cả các lần rà soát theo Điều này Các cuộc rà soát này
sẽ được tiến hành nhanh gọn và hoàn tất trong vòng 12 tháng tính từ ngày bắt đầu rà soát.
11.5 Các qui định trong Điều này sẽ được áp dụng với các cam kết giá được chấp nhận theo Điều 8”.
2.2.3 Xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan khác
Điều 42 Hiệp định ATIGA đã quy định cụ thể về việc xóa bỏ hàng rào phithuế quan khác
“Các Quốc gia Thành viên phải rà soát những biện pháp phi thuế quan trong cơ sở dữ liệu trong đoạn 4 của Điều 40 (Áp dụng các biện pháp phi thuế quan) để xác định các rào cản phi thuế quan (NTBs) ngoài các hạn chế định lượng để xóa bỏ Việc xóa bỏ các NTBs được xác định sẽ được xử lý trong khuôn khổ Ủy ban Điều phối thực hiện Hiệp định ATIGA (CCA), Ủy ban Tham vấn SSEAN về Tiêu chuẩn và Chất lượng (ACCSQ), Ủy ban ASEAN về Vệ sinh
và Kiểm dịch (AC-SPS), các cơ quan công tác trong khuôn khổ Hội nghị các Tổng Cục trưởng Hải quan ASEAN và các cơ quan ASEAN liên quan khác, nếu thích hợp, phù hợp với các quy định của Hiệp định này Các cơ quan này sẽ đệ trình khuyến nghị về các hàng rào phi thuế quan được xác định cho Hội đồng AFTA thông qua SEOM “
Trừ những trường hợp được Hội đồng AFTA đồng ý, những hàng ràothuế quan được xác định phải được xóa bỏ theo ba (3) giai đoạn như sau
(a) Brunei, Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan phải loại bỏ theo
ba giai đoạn bắt đầu từ 1 tháng 1 năm 2008, 2009 và 2010;
(b) Philippines phải loại bỏ theo 3 giai đoạn bắt đầu từ 1/01/2010, 2011 và2012;