1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng cung cấp nước sạch và quản lý số lượng chất lượng nước sạch nông thôn trên địa bàn tp hà nội

32 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng cung cấp nước sạch và quản lý số lượng chất lượng nước sạch nông thôn trên địa bàn TP Hà Nội
Trường học Hanoi University of Science and Technology
Chuyên ngành Quản lý Nước và Vệ Sinh Môi Trường
Thể loại Nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 75,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương I: Nước sạch nông thôn và vài trò của quản lý chất lượng nước sạch nông thôn (3)
    • 1. Khái niệm nước sạch (3)
    • 2. Vai trò của nước sạch đối với sức khoẻ cộng đồng khu vực nông thôn (3)
    • 4. Nội dung văn bản pháp luật liên quan………………………………………. Chương II: Thực trạng cung cấp nước sạch và quản lý số lượng, chất lượng nước sạch nông thôn trên địa bàn TP Hà Nội (10)
    • 1. Thực trạng cung cấp nước sạch khu vực nông thôn (11)
    • 2. Thực trạng quản lý số lượng, chất lượng nước sạch khu vực nông thôn (15)
    • 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất lượng nước sinh hoạt nông thôn (20)
  • Chương III: Các giải pháp tăng cường khả năng cung cấp nước sạch và quản lý số lượng, chất lượng nước sạch nông thôn (24)
    • 1. Giải pháp kĩ thuật (24)
    • 2. Giải pháp tăng cường truyền thông (27)
    • 3. Giải pháp về cơ chế tài chính huy động các bên tham gia cung cấp nước sạch nông thôn (27)
    • 4. Giải pháp giám sát đánh giá (29)

Nội dung

Lời nói đầu 1 Sự cấp thiết của đề tài Việt Nam trong những năm trở lại đây đã có bước ngoặt lớn trong việc phát triển kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiện tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là ô nhiễm[.]

Trang 1

Lời nói đầu

1 Sự cấp thiết của đề tài:

Việt Nam trong những năm trở lại đây đã có bước ngoặt lớn trong việc pháttriển kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiện tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là ônhiễm, sử dụng quá mức dẫn đến việc cạn kiệt nguồn tài nguyên nước sạch ngàycàng lớn Đặc biệt, vùng nông thôn tình trạng thiếu nước sạch hết sức đáng lo ngại.Hiện nay, ở nhiều vùng nông thôn, nguồn nước người dân sử dụng trong sinh hoạtchủ yếu từ ao, hồ, bể chứa nước mưa và nước ngầm lấy từ giếng khơi và giếngkhoan Hàng ngày, người dân vẫn tắm giặt, ăn uống bằng những nguồn nước này,

do không bảo đảm vệ sinh nên nguy cơ mắc các bệnh đường ruột, bệnh ngoài da làrất cao

Việc cải thiện dịch vụ về nước và vệ sinh môi trường và quản lý nguồn tàinguyên nước là một trong những thách thức lớn của Việt Nam, trong bối cảnh thayđổi khí hậu và hình thành các thói quen sinh hoạt xã hội và kinh tế mới hiện naygắn liền với sự phát triển nhanh chóng của đất nước những yếu tố tác động mạnhđến cân bằng tự nhiên về nước

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm phát triển hiện nay ở nước ta về quản

lý cung cấp nước sạch nông thôn là phải đi sâu vào kinh doanh nước sạch, pháttriển chuyên ngành trên cơ sở hình thành dịch vụ người bán - người quản lý vàngười mua nước, để dần dần loại bỏ bao cấp trong nước sạch và cơ bản hình thànhthị trường nước sạch nông thôn trên phạm vi toàn quốc vào năm 2020

Chính phủ đã có chủ trương về một số chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu

tư và quản lý, khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn, các dự án, công trìnhcấp nước sạch nông thôn phục vụ cho cộng đồng

Các tổ chức, cá nhân được hưởng ưu đãi về đất đai, về thuế, được hỗ trợ từngân sách nhà nước và huy động vốn, được hỗ trợ bù giá nước sạch nông thôn, các

mô hình quản lý cung cấp và khai thác nước sạch hợp lý, chuyển giao công nghệ Thay đổi chính sách và môi trường quản lý ngành, trong đó quản lý khai thác dịch

vụ nước sạch nông thôn là một vấn đề cấp thiết có ý nghĩa thực tiễn cần đượcnghiên cứu

Trang 2

2 Mục tiêu nghiên cứu:

- Đánh giá được tầm quan trọng của việc cung cấp nước đạt tiêu chuẩn cho sinhhoạt khu vực nông thôn

- Nghiên cứu thực trạng cung cấp nước sạch nông thôn trong giai đoạn vừa qua,đánh giá và so sánh với chiến lược quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nôngthôn đến 2020

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cung cấp nước đạt tiêu chuẩn antoàn cho khu vực nông thôn

- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý chất lượng nước sinh hoạt khuvực nông thôn

Trang 3

Chương I: Nước sạch nông thôn và vài trò của quản lý chất lượng nước sạch nông thôn:

1 Khái niệm nước sạch:

Nước là một chất lỏng thông dụng không màu, không mùi, là hợp chất hóahọc giữa hidro và oxi, có công thức hóa học là H20 Nước là dung môi phân cực,

nó được dùng để hòa tan nhiều chất, và được coi là dung môi quan trọng bậc nhấtđối với con người và các loài sinh vật

Trên phương diện pháp lý, nước là một thành phần của môi trường, nước làkhái niệm chỉ các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác sửdụng được, bao gồm: sông, suối, kênh, rạch, biển, hồ, đầm, ao, các tầng nước dướiđất, mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác

Nước sạch là nước được sử dụng trực tiếp hay sau khi lọc thỏa mãn các yêu

cầu chất lượng sau:

Không màu

Không mùi

Không vị lạ

Không chứa thành phần có thể gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người

Có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi

Định nghĩa này còn định tính, cần kết hợp với những quan sát các loại hình côngnghệ cấp nước như: giếng đào; giếng khoan; nước mưa; nước máy; nước sông,suối, ao, hồ,

 Theo Luật số 17/2012/QH13 của Quốc hội: LUẬT TÀI NGUYÊN NƯỚC

Khoản 12 điều 2 có quy định: Nước sạch là nước có chất lượng đáp ứng quy chuẩn

kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam

Khoản 13 điều 2 cũng có quy định về: Nguồn nước sinh hoạt là nguồn nước có thể

cung cấp nước sinh hoạt hoặc có thể xử lý thành nước sinh hoạt

2 Vai trò của nước sạch đối với sức khoẻ cộng đồng khu vực nông thôn:

Trang 4

2.1: Các nguồn cung cấp nước sạch:

Nguồn nước mưa:

Nước mưa là một nguồn nước tự nhiên quí báu, được nhiều nơi trên thế giới

sử dụng như một nguồn cấp nước sinh hoạt quan trọng, đặc biệt là tại các vùngnông thôn các nước đang phát triển Nhiều di tích khảo cổ đã chứng minh rằng conngười đã xây dựng nhiều hệ thống thu thập và lưu trữ nước mưa ở các bể chứa trên

4000 năm nay Nước mưa được thu từ mái nhà, trên các triền dốc tự nhiên và trênmột số đường phố Nước mưa có đặc điểm là rẻ tiền, dồi dào, nhất là trong mùamưa, chất lượng nước tương đối trong sạch Nhược điểm của việc khai thác nướcmưa là lượng mưa thường phân bố không đều, mưa tập trung chủ yếu vào mùamưa Việc thu hứng nước mưa tập trung ở một diện tíc rộng cũng rất khó Nướcmưa được xem như một nguồn cung cấp nước sinh hoạt ăn uống chính ở các vùngnông thôn Tuy nhiên, khi có hệ thống nước đường ống thì nguồn nước mưa chỉđược xem như một nguồn cung cấp phụ.Ta có thể thu hứng nước mưa từ mái nhà,mặt đất

Giếng khơi:

- Giếng đào cách xa chuồng gia súc, nhà tiêu ít nhất là 10m Thành giếng xâycao khoảng 0.8m, trong lòng giếng có thể xây gạch, đá hộc, đá ong, bê tông

- Sân giếng lát gạch hoặc xi măng dốc về phía rãnh thoát nước Miệng giếng

có nắp đậy, rãnh thoát nước có độ dốc vừa phải và dẫn ra xa hoặc đổ vào các

hố thấm nước thải Có thể bơm tay để lấy nước

Nước tự chảy:

- Nguồn nước lấy từ khe núi đá, mạch dẫn về thôn, bản , làng, nhà dân bằngmáy dẫn nước

- Máng dẫn nước có thể là tre, vầu, ống nhựa

- Tốt nhất nên xây 1 bể lọc từ nguồn, từ đó đặt hệ thống ống dẫn về thôn, bản,tại đây xây bể chứa Từng gia đình có thể lấy nước tại bể hoặc dùng ống cao

su dẫn về nhà

- Máng dẫn phải kín để tránh lá cây, bụi bẩn, phân súc vật rơi vào

- Cần rào xung quanh khu vực lấy nước và đóng cổng khi không có người lấynước

Nguồn nước sông suối, ao hồ:

Trang 5

Sông suối, ao hồ và cả đầm lầy là một trong những nguồn nước mà conngười đã chú ý từ đầu tiên đến định cư, lập nghiệp ở các vùng đất mới Hầu hết,các thành phố, khu dân cư, khu sản xuất, các trung tâm thương mại, khu côngnghiệp đều đặt vị trí cạnh các vùng có sông suối, ao hồ lớn Sông suối, ao hồ lànhững nguồn vừa mang cả chức năng cấp nước và vừa mang chức năng thoátnước, ngoài việc tưới tiêu, giao thông thủy, cảnh quan,…

Đặc điểm chính của dòng chảy sông suối là lưu lượng của chúng biến độngrất lớn theo mùa Mùa mưa lưu lượng dòng chảy lớn, độ đục cao, đầu mùa mưanước sông thường bị ô nhiễm do nước mưa chảy tràn cuốn trôi nhiều rác cỏ, cáctạp chất hữu cơ, xói mòn mạnh Gần cuối mùa mưa, nước ở cửa sông chảy mạnh

do lũ Mùa khô, hàm lượng các chất khoáng hòa tan có thể giảm Nước trong các

ao hồ có chất lượng không giống nhau, hoàn toàn phụ thuộc vào cư dân sinh hoạt

và sản xuất chung quanh chúng Mọi cơ sở lấy nước sông suối, ao hồ đều phảikiểm tra chất lượng nước kỹ lưỡng và thường phải có công trình xử lý nước

2.2: Vai trò của nước sạch đối với cộng đồng:

Nước rất cần thiết cho hoạt động sống của con người cũng như các sinh vật.Nước chiếm 74% trọng lượng trẻ sơ sinh, 55% đến 60% cơ thể nam trưởng thành,50% cơ thể nữ trưởng thành Nước cần thiết cho sự tăng trưởng và duy trì cơ thểbởi nó liên quan đến nhiều quá trình sinh hoạt quan trọng Muốn tiêu hóa, hấp thu

sử dụng tốt lương thực, thực phẩm đều cần có nước Nhiều nghiên cứu trên thếgiới cho thấy con người có thể sống nhịn ăn trong năm tuần, nhưng nhịn uốngnước thì không quá năm ngày và nhịn thở không quá năm phút Khi đói trong mộtthời gian dài, cơ thể sẽ tiêu thụ hết lượng glycogen, toàn bộ mỡ dự trữ, một nửalượng prô-tê-in để duy trì sự sống Nhưng nếu cơ thể chỉ cần mất hơn 10% nước là

đã nguy hiểm đến tính mạng và mất 20- 22% nước sẽ dẫn đến tử vong

Cũng như không khí và ánh sáng, nước không thể thiếu được trong đời sốngcon người Trong quá trình hình thành sự sống trên Trái đất thì nước và môi trườngnước đóng vai trò quan trọng Nước tham gia vào vai trò tái sinh thế giới hữu cơ(tham gia quá trình quang hợp) Trong quá trình trao đổi chất nước đóng vai tròtrung tâm Những phản ứng lý hóa học diễn ra với sự tham gia bắt buộc của nước.Nước là dung môi của nhiều chất và đóng vai trò dẫn đường cho các muối đi vào

cơ thể

Trang 6

Trong khu dân cư, nước phục vụ cho mục đích sinh hoạt (nhu cầu ăn uống,

vệ sinh cá nhân), nâng cao đời sống tinh thần cho dân (một ngôi nhà hiện đạikhông có nước khác nào một cơ thể không có máu)

- Nước sạch là một nhu cầu cơ bản đối với cuộc sống hàng ngày, là vấn đềđang ngày càng trở nên cấp thiết và cũng là trọng tâm của các mục tiêu pháttriển thiên niên kỷ

- Nước sạch góp phần vào việc nâng cao sức khỏe, giảm thiểu bệnh tật, tăngsức lao động và sản xuất cho con người

- Nước sạch cũng được coi là một nhân tố thiết yếu góp phần vào công cuộcxóa đói, giảm nghèo, cải thiện điều kiện sống và mang lại một cuộc sốngvăn minh, tiến bộ cho con người

Tóm lại, Nước có vai trò quyết định sự sống Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên

có tái tạo nhờ vòng tuần hoàn của nước Nước có vai trò cực kỳ quan trọng, do đóbảo vệ nguồn nước là rất cần thiết cho cuộc sống con người hôm nay và mai sau

3 Vai trò của quản lý Nhà nước đối với vấn đề nước sạch sinh hoạt, kinh nghiệm quản lý:

- Quản lý Nhà nước về mọi mặt là một chức năng quan trọng của Nhà nước, trong

đó có quản lý nguồn tài nguyên nước sạch Các bộ phận, cơ quan chuyên tráchQuản lý Nhà nước về nước sạch trên địa bàn nông thôn cả nước cũng cần phải thựchiện tốt chức năng quản lý của mình

- Nước sạch có vai trò quan trọng không chỉ với con người mà còn quan trọng đốivới toàn bộ hệ thống sinh thái tự nhiên và sự phát triển kinh tế của đất nước Bởivậy, Nhà nước cần có sự quản lý chặt chẽ và hợp lý để đảm bào phát huy hiệu quảvai trò của nguồn nước sạch đối với sự phát triển bền vững của đất nước cũng như

để bảo vệ nguồn nước sạch hữu hạn Trên thực tế, đây là vấn đề cần thiết không chỉ

ở tầm vĩ mô cả nước mà còn cấp thiết ở nhiều địa phương

- Tài nguyên nước vừa là vô hạn nhưng cũng là hữu hạn nếu chúng ta không biết

khai thác và sử dụng hợp lý

Nguồn tài nguyên nước của Tỉnh có thể thấy là rất phong phú nhưng nếu khôngbiết khai thác, sử dụng hợp lý thì nước sạch sẽ mau chóng trở thành vấn đề bức xúc

Trang 7

- Tài nguyên nước là tài sản thuộc sỏ hữu của toàn dân, do Nhà nước thống nhất

quản lý Bởi vậy các cơ quan quản lý của các vùng nông thôn cần phải thực hiệntốt công tác quản lý để đảm bảo nguồn nước không bị ô nhiễm và người dân cónước sạch phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày cũng như để phát triển sản xuất

- Công tác bảo vệ tài nguyên nước sạch là sự nghiệp của toàn dân, mang tính toàndiện và lâu dài, cần sự tham gia phối hợp của nhiều Bộ, Ngành, của các Cấp và cácthế hệ Vậy nên cần có Nhà nước đứng ra tổ chức, quản lý và điều hành những hoạtđộng to lớn đó

3.1 Vai trò:

Quản lý nhà nước về nguồn tài nguyên nước sạch là hoạt động chấp hành vàđiều hành của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, các cơ quan, đoàn thể, tổchức, cá nhân được Nhà nước ủy quyền, thay mặt nhà nước để tiến hành hoạt độngquản lý về tài nguyên nước

- Quản lý Nhà nước đối với nước sạch là biện pháp chỉ đạo, tổ chức các hoạtđộng nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên nước, đặc biệt là nước sạch thông quanhững việc làm sau:

Xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật về tài nguyên nước, các tiêu chuẩn

về chất lượng nước

Nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của nước, nâng cao ý thứctrong khai thác và sử dụng nguồn nước sạch; đồng thời hướng dẫn mọi người dânthực hiện các chương trình, kế hoạch bảo vệ nguồn tài nguyên nước

Các cơ quan nhà nước còn có vai trò quan trọng trong định hướng và điềutiết quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên nước nói chung và nguồn nước sạchnói riêng

- Quản lý nhà nước về tài nguyên nước, nguồn nước sạch hiệu quả còn gópphần quan trọng vào sử dụng và khai thác tối ưu nguồn tài nguyên nước màkhông gây ra hậu quả nghiêm trọng Hoạt động quản lý Nhà nước giúp huyđộng nguồn nước đúng mức và hiệu quả; giúp huy động được các nguồn lựckhác vào các hoạt động nhằm duy trì và phát triển, phục hồi hoặc cải thiệnnguồn tài nguyên nước

Trang 8

- Hiện nay, vấn đề nước sạch là vấn đề được mọi địa phương trên cả nướcquan tâm Không chỉ bởi vai trò quan trọng của nước sạch đối với đời sốngcon người, mà còn vì thực trạng khai thác và sử dụng tài nguyên nước củachúng ta hiện nay còn nhiều bất cập và lãng phí Quản lý của các cơ quannhà nước là để bảo vệ nguồn tài nguyên nước vừa vô hạn vừa hữu hạn của

cả nước và của từng địa phương

- Vấn đề về tài nguyên nước không chỉ là vấn đề mà các địa phương có thểgiải quyết một mình, riêng lẻ Để quản lý hiệu quả, cần sự bắt tay của ngườidân và chính quyền của nhiều địa phương Quản lý nhà nước về tài nguyênnước, nguồn nước sạch vì vậy có vai trò quan trọng trong việc phối hợphành động giữa các địa phương, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau và cùng nhautiếp thu những kinh nghiệm hay trên thế giới

3.2 Kinh nghiệm quản lý:

Trách nhiệm cơ quan quản lý?

Lĩnh vực quản lý nước ở Việt Nam đã đạt được một số thành tựu cơ bản, đặcbiệt trong lĩnh vực thủy lợi, góp phần quan trọng phục vụ chính sách phát triểnnông nghiệp và kinh tế xã hội của quốc gia Theo ông Nguyễn Văn Tỉnh, Phó TổngCục trưởng Tổng cục Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đến nayNhà nước đã đầu tư xây dựng hàng nghìn hồ chứa, cống, hàng vạn trạm bơm, và

255 nghìn km kênh mương, qua đó giúp tưới nước cho 7,3 triệu ha lúa cùng 1,5triệu ha màu, tiêu nước cho 1,72 triệu ha đất nông nghiệp

Tuy nhiên, nhìn nhận về thực trạng quản lý nước ở Việt Nam, Thứ trưởngHoàng Văn Thắng thẳng thắn cho rằng dù đã đạt được những thành tựu trong xâydựng công trình, Nhà nước vẫn đứng trước nhiều thách thức trong việc nâng caonăng lực thể chế cho việc phát triển bền vững tài nguyên nước, và trong thời giantới cần đẩy mạnh triệt để nguyên tắc quản lý tổng hợp và quản lý theo đối tượng sửdụng

Trở ngại lớn nhất trong quản lý tài nguyên nước là thiếu sự phối hợp linhhoạt và đồng bộ giữa các cơ quan quản lý, và vẫn tồn tại những lối tư duy bất cập

theo lối ai đi trước thì được ưu tiên, ngành sử dụng nước nhiều cũng được ưu tiên,

GS Vũ Trọng Hồng đánh giá Hiện nay, hệ thống thủy lợi thuộc thẩm quyền quản

lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phụ trách, hệ thống sông ngòi

Trang 9

thuộc thẩm quyền Bộ Giao thông Vận tải, các thủy điện thuộc thẩm quyền BộCông thương, nước đô thị thuộc thẩm quyền Bộ Xây dựng Tuy nhiên, do chứcnăng quản lý không được phân định không rõ ràng nên giữa các cơ quan thiếu sựphối hợp, dễ lấn sân nhau, và mỗi ngành thường bị chi phối bởi mục tiêu và quyềnlợi riêng

Tình trạng thiếu sự phối hợp giữa các ngành Trung ương càng trở nên phổbiến hơn khi xuống tới các Sở, ngành ở địa phương Mỗi Sở thường phải chờ nghe

ý kiến từ vụ quản lý về nước ở Bộ chủ quản của mình trong quá trình phối hợp vớicác cơ quan liên quan khi giải quyết những vấn đề nước tại địa phương, và cónhững vấn đề mà người ta khó xác định được Sở nào có thẩm quyền và chịu tráchnhiệm chính

Theo chuyên gia Jenifer Sara, quản lý nước ở Việt Nam lâu nay vẫn tồn tạiphương thức tiếp cận riêng rẽ theo từng ngành, và chủ yếu thông qua hoạt độngđầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng về nước Cách tiếp cận này không gặp phảinhiều trở ngại trong quá khứ, nhưng ngày nay Việt Nam đang phải đối diện vớinhững vấn đề nan giải rõ rệt: sự gia tăng mâu thuẫn về nhu cầu nước giữa cácngành, nguy cơ thiên tai và tác động biến đổi khí hậu, sự suy giảm chất lượngnước, đòi hỏi cam kết đối với tăng trưởng xanh, và nhu cầu thỏa thuận, hợp tácgiữa các quốc gia trên cùng lưu vực Những thách thức này đòi hỏi một phươngthức tiếp cận các vấn đề quản lý nước một cách liên ngành, và sự linh hoạt để sẵnsàng đối phó với những diễn biến bất ổn định của biến đổi khí hậu Các quyết địnhcủa từng ngành không thể đưa ra một cách cục bộ, mà cần trải qua một quy trìnhtham vấn có tính ổn định và rõ ràng giữa các ngành, để đưa ra những lựa chọnthông minh phục vụ cho lợi ích lâu dài

Cơ chế định giá nước theo thị trường

Việt Nam hầu như chưa có cơ chế định giá nước theo thị trường, mặc dù đây

là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp thúc đẩy việc lựa chọn những giải pháp côngnghệ đúng đắn và sử dụng nguồn lực của Nhà nước một cách hiệu quả TS SinaiaNetanyahu, Nhà khoa học trưởng, Bộ Bảo vệ Môi trường Israel khuyến nghị rằngviệc áp dụng mức giá nước theo giá thị trường, trong đó phản ánh đầy đủ nhữngchi phí sản xuất và tái xử lý nước, không chỉ giúp các nhà sản xuất nước có nguồnthu cần thiết để đảm bảo chất lượng sản phẩm nước được sản xuất và tái chế, mà

Trang 10

còn giúp người tiêu dùng nước có ý thức cao hơn, sử dụng nước một cách tiết kiệmhơn Nhờ đó, các đối tượng sử dụng nhiều nước là các ngành công nghiệp và cácnông trại mới có đủ động lực để đầu tư cho những giải pháp đổi mới công nghệgiúp dùng nước một cách hiệu quả và bền vững hơn.

Theo Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng, Việt Nam hiện nay vẫn áp dụng cơ chếbao cấp, giao kế hoạch cho các nhà sản xuất nước, và nhiều đối tượng được sửdụng nước miễn phí – như nước thủy lợi phục vụ nông dân – hoặc được sự hỗ trợquá nhiều từ Nhà nước Trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phải từng bước tiến tới cơchế định giá nước theo thị trường để cải thiện tính hiệu quả và thúc đẩy những giảipháp công nghệ, kỹ thuật tiên tiến trong khai thác, sản xuất và sử dụng nước “Nếukhông cải cách thể chế thì không cách gì chúng ta làm được”, ông nhận định Ôngcho biết tiến trình cải cách sẽ được bắt đầu từ cơ chế Nhà nước đặt hàng theo cácchỉ tiêu sản phẩm, sau đó tiến tới cơ chế đấu thầu công khai minh bạch Mặc dùvậy, Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng cho rằng tiến trình cải cách này vẫn cần đảmbảo sự hài hòa trong phát triển kinh tế - xã hội, và những người sử dụng nước ở cácđịa phương khó khăn vẫn cần được Nhà nước trợ cấp trong sử dụng nước với mức

ưu đãi cao hơn

4 Nội dung văn bản pháp luật liên quan:

- Luật tài nguyên nước năm 1998 do Quốc Hội ban hành

- Luật bảo vệ môi trường của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số52/2002/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005

- Các chỉ thị số của UBND về việc tăng cường Quản lý nhà nước về tài nguyênnước trên địa bàn tỉnh, vùng nông thôn

- Thông tư số 26/2009/TT-BTNMT quy định về định mức kinh tế - kĩ thuật điềutra, đánh giá tài nguyên nước

- Thông tư số 21/2009/TT-BTNMT quy định về định mức kinh tế - kĩ thuật điềutra, đánh giá hiện trạng xả nước thải và khả năng tiếp nhận nước thải của nguồnnước

- Thông tư số 15/2009/TT-BTNMT quy định về định mức kinh tế - kĩ thuật lập quyhoạch, điều chỉnh quy hoạch tài nguyên nước

Trang 11

- Thông tư số 20/2009/TT-BTNMT quy định về định mức kinh tế - kĩ thuật điềutra, đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước.

- Quyết định 216/QĐ-BTNMT về việc ủy quyền Cục trưởng cục quản lý tàinguyên nước kí thừa uỷ quyền

- Thông tư liên tịch số 118/2008/TTLT-BTC-BTNMT hướng dẫn việc quản lý, sửdụng và thanh quyết toán kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với hoạt động quản lý tàinguyên nước

- Quy định số 15/2008/QĐ-BTNMT quy định về tài nguyên nước dưới đất

- Quy định số 1035/QĐ-BTNMT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơcấu tổ chức của cục quản lý tài nguyên nước

- Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược quốc gia về tài nguyênnước đến năm 2020

- Nghị định số 34/2005/NĐ-CP của chính phủ quy đinh về xử phạt vi phạm hànhchính trong lĩnh vực tài nguyên nước

- Ngoài ra còn nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực quản lýnhà nước về nước sạch

Chương II: Thực trạng cung cấp nước sạch và quản lý số lượng, chất lượng nước sạch nông thôn trên địa bàn TP Hà Nội:

1 Thực trạng cung cấp nước sạch khu vực nông thôn:

Tình trạng suy thoái và ô nhiễm môi trường nước vẫn có xu hướng tăng,điều này thể hiện ở những điểm: vấn đề lạm dụng hóa chất trong sản xuất nôngnghiệp chưa kiểm soát tốt, việc phát triển các làng nghề chưa có quy hoạch, tiếng

ồn và nguồn chất thải là những nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng ô nhiễm môitrường, vấn đề xử lý nguồn nước thải và chất thải ở nông thôn chưa thực sự manglại hiệu quả… Bên cạnh đó, nhiều nơi nước sinh hoạt của người dân vẫn chủ yếu lànguồn nước tự nhiên từ hồ, ao, sông, suối Hiện, nguồn nước này cũng đã khan cạn

và nhiều vùng còn bị ô nhiễm nặng, cho nên người dân ngày đêm mong ngóngnhững công trình nước sạch

Trang 12

Tỷ lệ người dân khu vực nông thôn Hà Nội được sử dụng nước sạch hiệnđang thấp hơn tỷ lệ bình quân chung của cả nước, do công tác đầu tư không đồng

bộ, không hiệu quả, dẫn đến tình trạng một số công trình cấp nước đã được xâydựng nhưng không sử dụng được, gây lãng phí lớn Thành phố Hà Nội đang tìmgiải pháp để tháo gỡ hiện trạng này, cải thiện việc cấp nước cho người dân cáchuyện ngoại thành

Từ nhiều năm nay, người dân ở thôn Ngọc Than, xã Ngọc Mỹ (huyện QuốcOai) phải dùng nước ao Sen để phục vụ sinh hoạt Để bơm nước từ ao đưa về nhà

sử dụng, nhiều hộ dân phải đầu tư từ năm triệu đến bảy triệu đồng để mua máybơm, lắp đặt đường ống dẫn nước dài hàng cây số, bể lọc tự chế tại nhà Nhưngnước ao Sen không phải khi nào cũng đầy mà thường xuyên bị thiếu hụt vào mùakhô (từ tháng 9 năm trước đến tháng 3 năm sau) Bởi vậy, người dân phải chuẩn bị

cả bể chứa nước mưa Trưởng thôn Ngọc Than Nguyễn Bá Hưng cho biết, thôn có2.000 hộ dân, nhưng chỉ có từ 15% đến 20% số hộ có giếng khoan, số còn lại đangphải sử dụng nước ao Sen phục vụ sinh hoạt Tương tự, đến xã Chàng Sơn, huyệnThạch Thất vào bất kỳ thời điểm nào cũng gặp cảnh người dân kéo xe cải tiến chởthùng đi mua nước Bà Nguyễn Thị Cần, người dân xã Chàng Sơn chia sẻ, từ hàngchục năm nay, gia đình bà phải mua nước sinh hoạt với giá từ 10 nghìn đến 15nghìn đồng/thùng (120 lít) Trung bình mỗi tháng, mỗi gia đình ở đây dùng tiếtkiệm cũng hết từ 300 nghìn đến 500 nghìn đồng tiền nước Xã Chàng Sơn có hơn2.000 hộ dân thì có đến 60% số hộ dân thiếu nước sinh hoạt

Nâng cao hiệu quả các trạm cấp nước

Trong khi nhiều địa phương chưa có nguồn nước sạch phục vụ sinh hoạt thìtại không ít nơi dù đã xây dựng được trạm cấp nước nhưng lại hoạt động chưa hiệuquả, chưa khai thác hết công suất hiện có Đơn cử, trạm cấp nước sạch Cự Đà, xã

Cự Khê, huyện Thanh Oai được đầu tư khôi phục với số vốn 6,9 tỷ đồng Đến8/2013, trạm hoàn thành với công suất 500m3/ngày đêm đủ cung cấp nước cho 420

hộ dân Tuy nhiên, hiện nay, cả xã Cự Khê mới chỉ có khoảng 350 hộ dân sử dụngnước sạch từ trạm cấp nước, số còn lại vẫn tận dụng nguồn nước mưa để sinh hoạthàng ngày Cũng trên địa bàn huyện Thanh Oai, trạm cấp nước sạch xã XuânDương được hoàn thiện và cung cấp nước sạch cho các hộ dân từ 1/2014 với côngsuất 150m3/giờ, đáp ứng nhu cầu sử dụng cho 1.600 hộ dân

Trang 13

Theo đó, mỗi hộ dân chi phí khoảng 1,5 triệu đồng đểlắp đặt đồng hồ nước và chi trả hàng tháng với giá 5.500đồng/m3 nước Ngoài việc sử dụng nước sạch trong nấu

ăn, các hộ gia đình đã có thói quen sử dụng nước sạch

để sinh hoạt tắm, giặt Tuy nhiên, do tâm lý tiết kiệm,các hộ dân vẫn tận dụng nguồn nước mưa và thông qua

hệ thống lọc để sinh hoạt Do đó, có nhiều hộ gia đìnhđăng ký lắp đặt đồng hồ và đường ống nước chờ nhưngchưa sử dụng

Theo ông Nguyễn Đăng Lên - Giám đốc Công ty

CP Đầu tư xây dựng VIETCOM, đơn vị tiếp nhận côngtrình trạm cấp nước sạch Xuân Dương, huyện ThanhOai, khi tiếp nhận công trình, một số tuyến ống trụcchính và các tuyến ống vào các ngõ xóm đã bị hỏng do quá trình làm đường giaothông nông thôn Công ty đã triển khai thi công toàn bộ mạng tuyến ống bị hỏng(tổng chiều dài 3.200m), thực hiện xúc xả, khử trùng toàn bộ tuyến ống và đấu lắpđồng hồ cho các hộ dân và các cơ quan, đơn vị hành chính trên địa bàn xã XuânDương Tuy nhiên, dù đã đi vào hoạt động được hơn 3 tháng với hơn 900 đồng hồđược lắp đặt, song mới chỉ có trên 200 hộ sử dụng nguồn nước sạch, số hộ còn lạivẫn dùng nước giếng khoan Do vậy, nguồn thu không đủ để công ty bù đắp chiphí sản xuất

Chất lượng nước sông

Khu vực thành phố Hà Nội nằm hai bên bờ sông Hồng có hệ thống sông, hồphong phú và đa dạng gắn với nhiều yếu tố: địa hình, địa chất, khí hậu, lịch sử, vănhóa… Chất lượng nước (CLN) các sông này bị ảnh hưởng rõ rệt do các yếu tố tựnhiên: chế độ thủy văn, đặc điểm thổ nhưỡng Đặc biệt CLN các sông hồ bị tácđộng rõ rệt do các nguồn gây ô nhiễm, do hoạt động sinh hoạt, công nghiệp, nông,ngư nghiệp, thủy lợi, tạo ra sự biến đổi rất mạnh mẽ về mức độ ô nhiễm theokhông gian và thời gian Vệ sinh môi trường không tốt, đặc biệt là nước thải và rác

Phó Chủ tịch UBND TP

Hà Nội Trần Xuân Việt

đã yêu cầu Sở KH&ĐT,

Trang 14

thải, đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn nước, đặc biệt là nước mặt Theo sốliệu nghiên cứu từ Sở Tài nguyên- Môi trường và Nhà đất Hà Nội, lượng nước thảicủa TP đang ngày càng tăng cả về lưu lượng và nồng độ các chất ô nhiễm Hầu hếtlượng nước thải chưa được xử lý đều đổ thẳng ra sông, hồ và trong năm 2010 làkhoảng 510.000m3/ngày.

Hiện nay sông, hồ trên địa bàn TP Hà Nội tiếp nhận hàng ngày khoảng hàngtriệu m3 nước thải công nghiệp, nước thải đô thị và nước thải từ đồng ruộng, cáckhu vực nuôi trồng thủy sản Lượng nước thải sinh hoạt trên địa bàn TP Hà Nội từ440.934 m3/ngày đêm vào năm 2020 Như vậy trong tương lai nguy cơ ô nhiễmnguồn nước sông, hồ ở TP Hà Nội không những không giảm mà còn gia tăngnhanh chóng, đặc biệt là ô nhiễm do chất thải công nghiệp, sinh hoạt Đây là cảnhbáo khẩn cấp cho công tác bảo vệ và phục hồi CLN ở TP Hà Nội phục vụ cấpnước an toàn cho sinh hoạt, thủy sản, du lịch và nông nghiệp

Bằng phương pháp đo đạc, phân tích liên tục CLN theo chiều dài các dòngsông, hồ kết hợp số liệu phân tích vào 2 mùa trong năm 2008 – 2009 tại 50 điểmđại diện Đề tài đã xác định rõ ràng sự phân bố các vùng nước bị axit hóa, bị ônhiễm do các chất hữu cơ, dinh dưỡng, dầu mỡ và vi sinh Các bản đồ (số hóa) vềdiễn biến các thành phần ô nhiễm này được xây dựng Đường cong biến đổi oxyhòa tan (DO, đặc trưng cho ô nhiễm hữu cơ) và các chất ô nhiễm khác dọc sôngHồng, sông Đuống, sông Nhuệ, sông Cầu và sông Cà Lồ, hồ Tây đã được xác lập.Đây là các tài liệu có giá trị cao phục vụ cho việc đánh giá diễn biến CLN hiện nay

và trong tương lai, phục vụ quản lý môi trường, cảnh báo ô nhiễm và cung cấpthông tin cho việc sử dụng nước

Bằng việc lựa chọn 10 thông số đặc trưng ( DO, BOD, TSS, T.Coliform, pH,tổng N, độ đục, dầu mỡ, Fe, tổng P) vận dụng và cải tiến các mô hình WQI (củaHoa Kỳ và Ấn Độ), Đề tài đã lập mô hình WQI phù hợp với đặc điểm môi trườngnước vùng TP Hà Nội (ký hiệu WQIA – HN1, WQIM – HN1, WQI – HN2) Trên

cơ sở số liệu phân tích CLN của đề tài, giá trị WQI của từng điểm trong 50 điểmkhảo sát đại diện trên các sông, hồ chính đã được tính toán Dựa theo thang điểmcủa Hệ thống WQI – HN, CLN của từng điểm đã được phân loại Kết quả nghiêncứu theo mô hình WQI – HN cho thấy không có điểm nào ở TP Hà Nội đạt loại I(rất tốt – ô nhiễm nhẹ), hầu hết các điểm trên sông Hồng đạt loại II (tốt – ô nhiễmnhẹ), một số điểm trên sông Hồng chảy qua khu vực nội thành Hà Nội đạt loại III,các điểm trên sông Đuống và sông Cầu đạt mức II vào mùa mưa và giảm xuốngloại III vào mùa khô, đối với sông Cà Lò các điểm chỉ đạt loại III (trung bình – ônhiễm trung bình) Sông Nhuệ phần thượng lưu chất lượng nước còn khá tốt và đạtloại II, tuy nhiên khi đi qua địa phận xã Cổ Nhuế chất lượng nước đã giảm và chỉđạt mức III-IV (kém – ô nhiễm nặng), ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng từ khu vực

Trang 15

quận Hà Đông trở về hạ lưu, chất lượng nước đạt loại V (rất kém – ô nhiễm rấtnặng) Các sông nội thành đều bị ô nhiễm nặng và đạt loại IV và V (rất kém – ônhiễm rất nặng), đối với các hồ không đạt loại I và II, chất lượng nước ổn địnhnhất là hồ Tây đạt loại III, các hồ bị ô nhiễm nặng như khu vực ven hồ Yên Sở, hồ

Ba Mẫu, hồ Bảy Mẫu đều chỉ đạt mức IV – V Kết quả phân loại CLN theo WQIđược tính bằng phần mềm có tính khách quan, do vậy có thể làm cơ sở cho côngtác quan trắc môi trường nước sử dụng nước và cải tạo ô nhiễm trong các năm tới

Đây là lần đầu tiên các sông, hồ ở khu vực TP Hà Nội được phân loại theoCLN, theo hệ thống WQI có tính quốc tế hóa

Mô hình WQI – HN2 được xây dựng trên giá trị giới hạn của QCVN:08:2008/BTNMT cũng có thể áp dụng Kết quả phân loại CLN theo mô hình WQI– HN1 và WQI – HN2 là tương đối thống nhất và có yếu tố bổ sung cho nhau trongviệc phân loại môi trường nước khu vực TP Hà Nội một cách chính xác, kháchquan

Dựa vào kết quả phân vùng CLN kết hợp khảo sát thực địa ý kiến thu thậpqua các bảng câu hỏi và các QCVN, TCVN về chất lượng nước Đề tài đã đánhgiá và đề xuất khả năng sử dụng nước ở TP Hà Nội Theo đó mức độ phù hợp (độ

an toàn) cho cấp nước sinh hoạt, thủy sản, du lịch, thủy lợi ở từng đoạn sông đãđược đánh giá Kết quả cho thấy một số đoạn ở sông Hồng, sông Đuống, sông Cầu

có thể cấp nước cho các nhà máy nước nhưng yêu cầu phải xử lý đạt tiêu chuẩn vềnước uống của Bộ Y tế Các đoạn sông này cũng phục vụ tốt cho thủy lợi, thủy sảnnước ngọt và du lịch Phần lớn các đoạn sông Nhuệ đều bị ô nhiễm nặng, khôngthể sử dụng cho các mục đích trên Nguồn nước sông Đuống có thể đáp ứng nuôitrồng thủy sản, nông nghiệp Ngoại trừ hồ Tây, các sông, hồ khu vực nội thànhkhông thể sử dụng cho các mục đích trên

2 Thực trạng quản lý số lượng, chất lượng nước sạch khu vực nông thôn:

Hiện mới chỉ có 84% dân số nông thôn Hà Nội được sử dụng nước hợp vệsinh, trong đó tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tếchỉ chiếm 32% Thế nhưng nghịch lý là hiện có hàng chục công trình nước sạch tạivùng nông thôn ngoại thành có giá trị tiền tỷ đang bị đắp chiếu Nguyên nhân là docông tác quản lý sau đầu tư chưa thực sự tốt

Theo quy hoạch cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn TP Hà Nội đếnnăm 2020 và định hướng đến năm 2030, Hà Nội phấn đấu đến năm 2015, 100%dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó, 60% sử dụng nướcsạch theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế; 100% hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh; 80%

Trang 16

hộ chăn nuôi có chuồng trại hợp vệ sinh Tuy nhiên so với mục tiêu đặt ra, kết quảđạt được và kinh phí đầu tư cho chương trình còn ở mức rất hạn chế…

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến hết năm

2013, hầu hết các chỉ tiêu thực hiện đảm bảo tiến độ theo kế hoạch, mục tiêuChương trình, kết quả thực hiện năm sau cao hơn năm trước, tỷ lệ dân số nôngthôn sử dụng nước sạch là 35,26%, đã có 95/123 trạm cấp nước sạch nông thônhoạt động ổn định Nhiều hộ dân sử dụng hiệu quả thiết bị xử lý nước hộ gia đình

do nhà nước hỗ trợ đầu tư, trong hai năm (năm 2012, 2013) đã lắp đặt được 10.000thiết bị xử lý nước cho các hộ gia đình chính sách, hộ nghèo tại một số xã chưa cótrạm cấp nước sạch tập trung thuộc các huyện Ứng Hòa, Phú Xuyên, Thanh Oai,Thường Tín, giải quyết được nhu cầu sử dụng nước sạch cho khoảng 45.000 người,đóng góp vào tỷ lệ chung dân số nông thôn được sử dụng nước sạch

Tuy nhiên, bên cạnh một số trạm cấp nước sạch nông thôn hoạt động ổnđịnh, phát huy hiệu quả đầu tư, Thành phố còn 24 công trình đầu tư dở dang, hiệuquả đầu tư thấp, nhiều công trình đầu tư kéo dài nhiều năm, một số công trình đầu

tư lãng phí Nguyên nhân chính là do công tác đầu tư không gắn với mô hình quản

lý, vận hành, khai thác sau đầu tư; đầu tư chưa đồng bộ, phần lớn dự án dở dangkhông khai thác được là do mới chỉ thực hiện đầu tư xong phần vốn ngân sách nhànước, việc huy động vốn góp của dân thực hiện mạng lưới ống dịch vụ gặp nhiềukhó khăn, có nơi không huy động được Một số trạm đã hoạt động ổn định doUBND xã, Hợp tác xã nông nghiệp, cộng đồng (tổ tự quản) quản lý và khai thácthiếu tính chuyên nghiệp nên việc sửa chữa chưa kịp thời, chất lượng dịch vụ, chấtlượng nước chưa tốt, một số nơi không trích lập quỹ khấu hao tài sản để phục vụduy trì, sửa chữa, bảo dưỡng

Mới đây, trong đợt khảo sát 6 công trình cấp nước tại 2 huyện Gia Lâm vàỨng Hòa của Ban Kinh tế và Ngân sách HĐND Thành phố cho thấy: có 4/6 côngtrình chưa hoàn thành công tác quyết toán (Gia Lâm đã phê duyệt quyết toán 2/3công trình); 6/6 trạm chưa xác định giá trị còn lại của tài sản, chưa hoàn thiện thủtục về đất, chưa được cấp giấy chứng nhận đầu tư hoặc xác nhận ưu đãi đầu tư dùmột số trạm đã được doanh nghiệp bổ sung đầu tư và bước đầu đã cung cấp nướcsạch cho nhân dân Công tác phối hợp giữa các sở, ngành Thành phố, UBND cáchuyện còn chưa chặt chẽ Công tác thống kê, tổng hợp thông tin chưa được thựchiện đầy đủ, chưa cập nhật kịp thời, nhất là về những vướng mắc, khó khăn cụ thểcủa từng công trình, dự án để có biện pháp tháo gỡ dứt điểm và hiệu quả Kinh phíđầu tư từ ngân sách nhà nước gặp nhiều khó khăn Trong 2 năm 2012-2013, ngânsách Thành phố mới bố trí 72,3 tỷ đồng thực hiện Chương trình, đạt 10,6% kếhoạch

Ngày đăng: 24/05/2023, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w