Với nhận thức sâu sắc về vai trò của việc tích luỹ vốn phục vụ phát triển kinh tếđất nước, trong bài viết này nhóm em sẽ trình bày những lý luận kinh tế chính trị Mác-Lênin về tích lũy t
Trang 1BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT NAM
——————
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI: LÝ LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
VỀ TÍCH LŨY TƯ BẢN VÀ VẬN DỤNG VẤN ĐỀ NÀY TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY
Mã học phần: 0101000747 GVHD: Nguyễn Thị Hằng Nhóm thực hiện: Nhóm 16
TP Hồ Chí Minh – 2021
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập, phát triển năng động nhất từ trước đếnnay và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng cả về kinh tế, chính trị, nâng cao vị thế đấtnước trên thế giới Đó là những thành quả rất đáng tự hào mà mỗi chúng ta đều cảm nhậnđược, là kết quả của sự lựa chọn đúng đắn đường lối phát triển kinh tế thị trường địnhhướng XHCN và sự vận dụng sáng tạo các phương pháp, nguyên lý cơ bản của phát triểnkinh tế vào điều kiện Việt nam Với xuất phát điểm thấp, tiềm lực kinh tế rất yếu, tỉ lệ tíchlũy dưới 10% thu nhập, chúng ta đối mặt với thực tế trình độ kỹ thuật, năng suất lao độngthấp
Với mô hình nền kinh tế hiện đại, vốn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tăngtrưởng kinh tế Nhà kinh tế học hiện đại Samuelson cho rằng một trong những đặc trưngquan trọng của kinh tế hiện đại là "kĩ thuật công nghiệp tiên tiến hiện đại dựa vào việc sửdụng vốn lớn" Vốn là cơ sở để tạo ra việc làm, để có công nghệ tiên tiến, để tăng nănglực sản xuất của các doanh nghiệp và của cả nền kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển sảnxuất theo chiều sâu, Cơ cấu sử dụng vốn có tác động quan trọng vào chuyển dịch cơ cấukinh tế đất nước
Để giữ được nhịp độ phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững,một trong những khó khăn lớn nhất đặt ra là phương thức huy động vốn Nguồn vốn
có thể được huy động từ tích lũy trong nước và vốn vay nước ngoài Lý luận và thựctiễn cho thấy tích luỹ và huy động vốn từ trong nước là quan trọng nhất, đảm bảo sựbền vững của nền kinh tế và không bị phụ thuộc vào bên ngoài
Với nhận thức sâu sắc về vai trò của việc tích luỹ vốn phục vụ phát triển kinh tếđất nước, trong bài viết này nhóm em sẽ trình bày những lý luận kinh tế chính trị Mác-Lênin về tích lũy tư bản, các yếu tố quyết định quy mô tích lũy tư bản và vận dụng vấn
đề này trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay Do hạn chế về thời gian và trình độ, bàiviết sẽ khó tránh khỏi những sai sót trong quá trình nghiên cứu, nhóm em rất mongnhận được sự đánh giá, hướng dẫn của cô Nhóm em xin trân trọng cảm ơn
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 16
PHẠM DUY ĐỒNG – 2051010114
MỤC LỤC
Trang 4PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu 1
3 Phương pháp nghiên cứu 1
4 Ý nghĩa của đề tài 1
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TÍCH LŨY TƯ BẢN 2
2.1 Tích lũy tư bản là gì ? 2
2.2 Điều kiện của tích lũy tư bản 2
2.3 Bản chất và nguồn gốc của tích lũy tư bản 2
2.4 Quy luật chung của tích lũy tư bản 5
MỐI QUAN HỆ TÍCH LŨY-TÍCH TỤ-TẬP TRUNG TƯ BẢN 6
2.4 Vai trò của tích lũy tư bản trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 7
PHẦN 3: NHỮNG YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH QUY MÔ TÍCH LŨY TƯ BẢN 8
3.1 Trình độ bốc lột giá trị thặng dư 9
3.2 Năng suất lao động 9
3.3 Sự chênh lệch ngày càng cao giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng 10
3.4 Quy mô của tư bản ứng trước 10
PHẦN 4: VẬN DỤNG LÝ LUẬN TÍCH LŨY TƯ BẢN VÀO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY 11
4.1 Tại sao phải tích lũy tư bản? 11
4.2 Khái quát tình hình tích lũy vốn ở Việt Nam 11
4.3 Những giải pháp tăng cường vốn tích lũy ở Việt Nam 14
PHẦN 5: KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 5PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tích lũy tư bản là một yếu tố quan trọng quyết định đối với sự hình thànhphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, một hệ thống các nước tư bản đầu tiêntrên thế giới đã hình thành và phát triển vô cùng mạnh mẽ mà lịch sử đã cho thấyrằng cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, tích lũy nguyên thủy đã diễn ra sôi động ởcác nước phương Tây và nền kinh tế-xã hội của các nước này phát triển vô cùngmạnh mẽ Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng tích lũy tư bản còn là sự đòihỏi khách quan của bất cứ một giai đoạn phát triển nào ở bất cứ quốc gia nào trênthế giới Nếu không tích lũy và huy động nguồn lực tư bản cho quốc gia mình thìnền kinh tế xã hội quốc gia đó sẽ không phát triển mạnh mẽ và cường thịnh được.Đối với Việt Nam tích lũy luôn là điều kiện tiên quyết để tái sản xuất mở rộng
Có tích lũy mới có thể làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, đưa đấtnước vững vàng đi theo con đường chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đã lựa chọn.Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang tiến hành công cuộc côngnghiệp hóa-hiện đại hóa thì nhu cầu về vốn để xây dựng các công trình nền tảng
và cái tiến kỹ thuật áp dụng khoa học tiên tiến là càng cần thiết và quan trọnghơn bao giờ hết
2 Đối tượng nghiên cứu
- Lý luận kinh tế chính trị Mác-Lênin về tích lũy tư bản
- Các yếu tố quyết định quy mô tích lũy tư bản
- Vận dụng lý luận về tích lũy tư bản trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay
3 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin và các tài liệu tham khảo khác để địnhnghĩa khái niệm tích lũy tư bản và đánh giá ảnh hưởng của quá trình tích lũy tư bản lênnền kinh tế Việt Nam hiện nay
4 Ý nghĩa của đề tài
- Thấy được tầm quan trọng của tích lũy tư bản đến sự phát triển kinh tế Đồng thời thấyđược vốn là cơ sở để tạo ra việc làm, công nghệ tiên tiến để phát triển kinh tế đất nước
Trang 6PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TÍCH LŨY TƯ BẢN 2.1 Tích lũy tư bản là gì ?
- Tích lũy tư bản trong kinh tế chính trị Mác-Lênin là việc biến một bộ phận giá trịthặng dư trở lại thành tư bản, còn trong các lý luận kinh tế học khác nó đơn giản là sựhình thành tư bản (tăng lượng vốn dưới hình thức tư bản cố định và lưu kho của chínhphủ và tư nhân)
- Đặc trưng của tái sản xuất tư bản chủ nghĩa là tái sản xuất mở rộng Muốn vậy, cầnphát triển một bộ phận giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm Việc biến giá trị thặng
dư trở lại tư bản gọi là tích lũy tư bản Như vậy, thực chất của tích luỹ tư bản là tư bảnhóa giá trị thặng dư
- Tích lũy tư bản khác về bản chất với tích lũy nguyên thủy Nó gắn liền với quá trìnhphát triển của chủ nghĩa tư bản, gắn với quá trình bóc lột của tư bản đới với lao độnglàm thuê Tích lũy tư bản gắn liền với tái sản xuất mở rộng Do đó xét một cách cụ thểthì tích lũy tư bản chẳng qua chỉ là tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày càng mởrộng
2.2 Điều kiện của tích lũy tư bản
Theo C.Mác, muốn tiến hành tích lũy để tái sản xuất mở rộng phải có hai điều kiện:
- Một là: Phải có một phần sản phẩm thặng dư chuyển hóa thành tư bản Nhưng phần
sản phẩm này phải đảm bảo cho quá trình sản xuất và nuôi sống công nhân, tức là phảibao hàm cả tư liệu sản xuất lẫn tư liệu tiêu dùng
- Hai là: phải có lao động phụ thêm Chính nhờ có lao động mới làm cho các yếu tố đó
được thực sự hoạt động với với tư cách là tư bản Lao động phụ thêm có thể thực hiệnđược bằng hai cách: kéo dài thời gian lao động hoặc tăng cường độ lao động của sốcông nhân hiện có hoặc tuyển thêm lao động mới
2.3 Bản chất và nguồn gốc của tích lũy tư bản
- Từ khi xuất hiện con người đã tiến hành các hoạt động khác nhau như: kinh tế, xã hội,văn hóa, Để tiến hành các hoạt động nói trên trước hết con người cần phải tồn tại.Muốn tồn tại con người cần phải có thức ăn, đồ mặc, nhà ở, phương tiện đi lại và cácthứ cần thiết khác Để có những thứ đó con người phải lao động để tạo ra chúng, tức là
Trang 7là phải sản xuất và không ngừng sản xuất với qui mô ngày càng mở rộng Xã hộikhông thể ngừng tiêu dùng nên không thể ngừng sản xuất.
- Bất cứ quá trình sản xuất xã hội nào nếu xét theo tiến trình đổi mới không ngừng của
nó, thì đồng thời cũng là quá trình tái sản xuất Quá trình này là tất yếu khách quantheo hai hình thức là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng Tái sản xuất giảnđơn không phải là tái sản xuất điển hình của CNTB mà hình thái điển hình của CNTB
là tái sản xuất mở rộng Muốn tái sản xuất mở rộng, nhà tư bản không thể sử dụng hếtgiá trị thặng dư cho tiêu dùng cá nhân, mà phải dùng một phần giá trị thặng dư để tăngquy mô đầu tư so với năm trước Chính phần giá trị thặng dư đó được gọi là tư bản phụthêm Việc sử dụng giá trị thặng dư làm tư bản hay chuyển hoá giá trị thặng dư trở lạithành tư bản gọi là tích luỹ tư bản Xét một cách cụ thể, tích luỹ tư bản nhằm tái sảnxuất ra tư bản với quy mô ngày càng mở rộng Sở dĩ giá trị thặng dư có thể chuyển hoáthành tư bản được là vì tư bản thặng dư đã mang sẵn những yếu tố vật chất của một tưbản mới Tích luỹ tư bản là là tất yếu khách quan do quy luật kinh tế cơ bản, quy luậtgiá trị và cạnh tranh của phương thức sản xuất TBCN quy định Nguồn gốc duy nhấtcủa tư bản tích luỹ là giá trị thặng dư và tư bản tích luỹ chiếm một tỷ lệ ngày càng lớntrong toàn bộ tư bản Như vậy thực chất của tích luỹ tư bản là biến một phần giá trịthặng dư thành tư bản phụ thêm (tư bản bất biến phụ thêm và tư bản khả biến phụthêm) để mở rộng sản xuất Trong quá trình sản xuất, lãi tiếp tục được bổ sung vàovốn, vốn càng lớn thì lãi càng lớn, do đó lao động của công nhân trong quá khứ lại trởthành phương tiện mạnh mẽ quay trở lại bóc lột chính họ
- Quyền sở hữu trong nền sản xuất hàng hoá đã biến thành quyền chiếm đoạt TBCNthông qua quá trình tích luỹ tư bản Khác với nền sản xuất hàng hoá giản đơn, trongnền sản xuất TBCN sự trao đổi giữa người lao động và nhà tư bản dẫn đến kết quả lànhà tư bản chẳng những chiếm không một phần lao động của công nhân mà còn làngười sở hữu hợp pháp lao động không công đó Sự thay đổi căn bản trong quan hệ sởhữu hoàn toàn không vi phạm quy luật giá trị
- Mục đích của nền sản xuất TBCN là sự lớn lên không ngừng của giá trị Để thực hiệnmục đích đó các nhà tư bản không ngừng tích luỹ và tái sản xuất mở rộng, xem đó là
Trang 8phương tiện căn bản để tăng cường bóc lột công nhân Mặt khác do tính cạnh tranhquyết liệt nên các nhà tư bản buộc phải không ngừng làm cho tư bản của mình tănglên Điều đó chỉ có thể thực hiện bằng cách tăng nhanh tư bản tích luỹ Do đó động cơthúc đẩy tích luỹ và tái sản xuất mở rộng TBCN chính là một quy luật kinh tế cơ bảncủa CNTB Trong buổi đầu của sản xuất TBCN, sự ham muốn làm giàu của các nhà tưbản thường chi phối tuyệt đối nhưng đến một trình độ phát triển nhất định, sự tiêudùng xa phí của các nhà tư bản ngày càng tăng lên theo sự tích luỹ tư bản Như vậykhông có nghĩa là có mâu thuẫn giữa phần tiêu dùng của nhà tư bản và phần tích luỹ
2.3.1 Tái sản xuất
- Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại thường xuyên và phục hồi khôngngừng Căn cứ theo phạm vi có: Tái sản xuất cá biệt và tái sản xuất xã hội Tái sảnxuất cá biệt là tái sản xuất diễn ra trong từng doanh nghiệp, tái sản xuất xã hội là tổngthể tái sản xuất cá biệt trong mối quan hệ hữu cơ với nhau Căn cứ theo quy mô có: Táisản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng Tái sản xuất giản đơn là quá trình sảnxuất được lặp lại với quy mô như cũ, tái sản xuất mở rộng là quá trình sản xuất đượclặp lại với quy mô lớn hơn trước
“Dù cho hình thái xã hội của quá trình sản xuất là như thế nào chăng nữa, thìbao giờ quá trình đó cũng phải có tính chất liên tục, hay cứ từng một chu kỳ một, phảikhông ngừng trải qua cùng những giai đoạn ấy Xã hội không thể ngừng tiêu dùng, thì
xã hội cũng không thể ngừng sản xuất Vì vậy, xét trong mối liên hệ không ngừng vàtrong tiến trình của nó, mọi quá trình sản xuất xã hội đồng thời cũng là quá trình sảnxuất”
(Trích: C.Mác bộ “Tư bản”, quyển I, tập 3, tr.8)
Tái sản xuất giản đơn
- Tái sản xuất giản đơn là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô như cũ
- Tái sản xuất giản đơn là đặc trưng chủ yếu của nền sản xuất nhỏ Trong tái sản xuấtgiản đơn năng suất lao động rất thấp, thường chỉ đạt mức đủ nuôi sống con người,chưa có sản phẩm thặng dư hoặc nếu có một ít sản phẩm thặng dư thì cũng chỉ sử dụngcho tiêu dùng cá nhân, chứ chưa dùng để mở rộng sản xuất
Tái sản xuất mở rộng
Trang 9- Tái sản xuất mở rộng là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô lớn hơn trước.
- Tái sản xuất mở rộng là đặc trưng chủ yếu của nền sản xuất lớn Để có tái sản xuất mởrộng thì năng suất lao động xã hội phải đạt đến một trình độ cao nhất định, vượtngưỡng của sản phẩm tất yếu và tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm thặng dư bởi vì sảnphẩm thặng dư dùng để đầu tư thêm vào sản xuất mới là nguồn lực trực tiếp của tái sảnxuất mở rộng
2.4 Quy luật chung của tích lũy tư bản
2.4.1 Quá trình tích lũy tư bản là quá trình tăng cấu tạo hữu cơ cảu tư bản
Tư bản tồn tại dưới dạng vật chất và giá trị Cấu tạo của tư bản gồm có cấu tạo kĩ thuật
và cấu tạo giá trị
Cấu tạo kĩ thuật của tư bản là tỷ lệ giữa khối lượng tư liệu sản xuất với số lượng laođộng cần thiết để sử dụng các tư liệu sản xuất đó
Nó biểu hiện dưới các hình thức của số lượng máy móc, nguyên liệu, năng lượng domột công nhân sử dụng trong một thời gian nào đó Cấu tạo kĩ thuật phản ánh đặcđiểm và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội
Cấu tạo giá trị là tỷ lệ giữa số lượng giá trị của tư liệu sản xuất và giá trị sức lao độngcần thiết để tiến hành sản xuất
2.4.2 Quá trình tích lũy tư bản là quá trình tích tụ và tập trung tư bản ngày càng tăng
- Tích tụ tư bản là việc tăng quy mô tư bản cá biệt bằng tích luỹ của từng nhà tư bảnriêng rẽ Tích tụ tư bản, một mặt là yêu cầu của việc mở rộng sản xuất, ứng dụng tiến
bộ kĩ thuật Mặt khác, khối lượng giá trị thặng dư tăng thêm lại tạo khả năng hiện thựccho tích tụ tư bản mạnh hơn
- Tập trung tư bản là sự hợp nhất một số tư bản nhỏ thành một tư bản cá biệt lớn Đây là
sự tập trung những tư bản đã hình thành, là sự thủ tiêu tính độc lập riêng biệt của chúng, là việc biến nhiều tư bản nhỏ thành một số ít tư bản lớn hơn
- Tích tụ tư bản làm cho tư bản cá biệt tăng lên, và tư bản xã hội cũng tăng theo Còn tậptrung tư bản chỉ làm cho tư bản cá biệt tăng quy mô còn tư bản xã hội vẫn như cũ
Trang 102.4.3 Quá trình tích lũy tư bản là quá trình bần cùng hóa giai cấp vô sản
Cấu tạo hữu cơ của tư bản ngày càng tăng, làm cho cầu tương đối về sứclao động có xu hướng ngày càng giảm Đó là nguyên nhân chủ yếu gây ra nạnnhân khẩu thừa tương đối
Có ba hình thái nhân khẩu thừa:
Nhân khẩu thừa lưu động là loại lao động bị sa thải ở xí nghiệp này, nhưng lại tìmđược việc làm ở xí nghiệp khác Nói chung, số này chỉ mất việc kàm từng lúc
Nhân khẩu thừa tiềm tàng là nhân khẩu thừa trong nông nghiệp – đó là những ngườinghèo ở nông thôn, thiếu việc làm và cũng không thể tìm được việc trong công nghiệp,phải sống vất vả
Nhân khẩu thừa ngừng trệ là những người hầu như thường xuyên thất nghiệp, thỉnhthoảng mới tìm được việc làm tạm thời với tiền công rẻ mạt, tạo thành tầng lớp thấptrong xã hội
MỐI QUAN HỆ TÍCH LŨY-TÍCH TỤ-TẬP TRUNG TƯ BẢN
Quy mô của tư bản cá biệt tăng lên thông qua hai con đường là tích tụ và tậptrung tư bản:
Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô tư bản cá biệt bằng cách tư bản hoá mộtphần giá trị thặng dư Đây là kết quả trực tiếp của tích luỹ tư bản
Tập trung tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt có sẵn thành một tư bản cábiệt khác lớn hơn Tập trung tư bản diễn ra bằng hai phương pháp là cưỡng bức (các nhà tưbản bị thôn tính do phá sản) và tự nguyện (các nhà tư bản liên hiệp, tổ chức thành công ty
cổ phần) Tích tụ và tập trung tư bản có quan hệ biện chứng với nhau và tác động thúc đẩynhau nhưng lại không đồng nhất với nhau Đây không những là sự khác nhau về mặt chất
mà còn khác nhau về mặt lượng
Tích tụ tư bản làm tăng quy mô tư bản xã hội, nó phản ánh mối quan hệ trực tiếpgiữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản Tập trung tư bản không làm tăng quy mô tưbản xã hội mà chỉ phân phối lại và tổ chức lại tư bản xã hội, nó phản ánh quan hệ trựctiếp giữa các nhà tư bản Tập trung tư bản có vai trò rất lớn trong quá trình chuyển sản
Trang 11xuất nhỏ lên sản xuất lớn TBCN và quá trình chuyển chủ nghĩa tư bản từ giai đoạnthấp lên giai đoạn cao Nếu gạt bỏ tính chất TBCN, tích tụ và tập trung là hình thứclàm tăng thu nhập quốc dân và sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn vốn của xã hộitrong quá trình sản xuất
Quá trình tích luỹ tư bản tất yếu dẫn đến sự phân cực: một bên làm cho chủ nghĩa tưbản phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu thông qua sự tích tụ và tập trung của tư bản,thông qua việc nâng cao cấu tạo hữu cơ của tư bản và làm cho giai cấp tư sản ngày càng giàu
có xa hoa; Còn một bên là giai cấp những người lao động không tránh khỏi sự thất nghiệp vàbần cùng Đó là quy luật chung của tích luỹ tư bản
Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản dựa trên cơ sở dùng bạo lực để tước đoạt củanhững người sản xuất nhỏ, đặc biệt là nông dân Quá trình đó đã biến chế độ tư hữunhỏ dựa trên lao động cá nhân thành chế độ sở hữu TBCN dựa trên sự bóc lột lao độnglàm thuê, biến sản xuất nhỏ lạc hậu, phân tán thành sản xuất lớn, tập trung Đó là sựphủ định chế độ tư hữu của những người sản xuất nhỏ Nhưng khi phương thức sảnxuất TBCN đã hình thành thì quá trình tích luỹ và cạnh tranh dẫn đến tư bản và sảnxuất được tập trung ngày càng lớn, do đó sản xuất được xã hội hoá cao hơn, lực lượngsản xuất được phát triển mạnh hơn Điều đó làm cho mâu thuẫn giữa tính chất xã hộicủa sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa phát triển Sự phát triển củamâu thuẫn này sẽ dẫn đến sự tất yếu thay thế chủ nghĩa tư bản bằng xã hội cao hơn,tiến bộ hơn Đây cũng là xu hướng lịch sử của tích luỹ tư bản, xu hướng tạo ra nhữngtiền đề vật chất và tiền đề xã hội cao cho sự phủ định đối với chủ nghĩa tư bản
2.4 Vai trò của tích lũy tư bản trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
2.4.1 Đối với sự tăng trưởng, phát triển kinh tế
Mối quan hệ giữa sự tăng trưởng kinh tế với tích tụ và tập trung tư bản rấtchặt chẽ Sự tăng trưởng vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của tích tụ và tậptrung tư bản Khi nền kinh tế đạt tăng trưởng cao, mức sống người dân thay đổi,doanh thu xí nghiệp tăng lại tạo điều kiện tích lũy tăng Ngược lại quá trình tích
tụ và tập trung hiệu quả trở thành đòn bẩy cho sự tăng trưởng kinh tế Tích tụ vàtập trung tư bản càng nhiều thì quy mô vốn đầu tư càng lớn hoạt động kinh tế
Trang 12diễn ra được nhanh chóng Do đó, con đường tích lũy tư bản trong nước có hiệuquả là bài toán cần tháo gỡ để tăng tốc nền kinh tế Việt Nam Khi nào các nguồnnhân lực: tiền bạc, của cải, trí tuệ con người, được tập trung tối đa vào dòngchảy của đầu tư để sản sinh ra những dòng lợi nhuận mới cao gấp nhiều lần sốvốn ban đầu, thì khi đó mỗi doanh nghiệp hay cả quốc gia chúng ta mới có thểđạt được những bước phát triển vượt bậc về kinh tế Tư bản là nhân tố vô cùngquan trọng để thực hiện quá trình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát triển
cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Nhờ
đó, đời sống nhân dân ngày một nâng cao, các nguồn lực về con người, tàinguyên và các mối bang giao cũng được khai thác có hiệu quả hơn Từ đó, tácđộng mạnh mẽ đến cơ cấu kinh tế của đất nước chuyển dịch nhanh chóng theohướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, tạo ra nền kinh tế có các ngành côngnghiệp và dịch vụ chiếm tỉ lệ cao và hướng mạnh ra xuất khẩu Chính điều đó sẽtạo nên một nền kinh tế có tốc độ nhanh và ổn định
Việt Nam sẽ có tốc độ tăng trưởng như thế nào trong những thập niên sắptới tùy thuộc vào khả năng áp dụng thành tựu khoa học kĩ thuật, cả tiến máy móc
mà cơ sở của nó là quá trình tích lũy tư bản
2.4.2 Đối với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theohướng tăng tỉ trọng công nghiệp, giảm tỉ trọng nông nghiệp, hiện đại hóa máymóc kỹ thuật, áp dụng các thành tựu khoa học tiên tiến trên cơ sở đó tăng năngsuất lao động, cải tiến chất lượng, đưa Việt Nam thành một nước có nền kinh tếphát triển Muốn làm được điều đó tất yếu cần một nguồn vốn lớn mà điều đó chỉ
có khi quá trình tích lũy trở nên mạnh mẽ trên tất cả mọi lĩnh vực và thực sự cóhiệu quả
PHẦN 3: NHỮNG YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH QUY MÔ TÍCH LŨY
TƯ BẢN
Quy mô của tích luỹ tư bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư và tỷ lệphân chia giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm và thu nhập