1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài cách mạng công nghiệp 4 0, những cơ hội và thách thức đối với sức cạnh tranh của nền kinh tế việt nam trong xu thế toàn cầu hóa

34 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cách mạng Công nghiệp 4.0, Những Cơ hội Và Thách thức Đối Với Sức Cạnh Tranh Của Nền Kinh Tế Việt Nam Trong Xu Thế Toàn Cầu Hóa
Tác giả Nhóm Sinh Viên
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Hằng
Trường học Học viện Hàng không Việt Nam
Chuyên ngành Kinh tế Chính trị Mác - Lenin
Thể loại Tiểu luận kết thúc học phần
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 4,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lí do chọn đề tài (7)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (8)
  • 3. Phương pháp nghiên cứu (8)
  • 4. Khái quát lí luận về sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội (8)
    • 4.1. Một sơ khái niệm cơ bản (8)
      • 4.1.1. Lực lượng sản xuất (8)
      • 4.1.2. Quan hệ sản xuất (11)
    • 4.2. Nhận thức rõ hơn mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất từ thực tiễn Việt Nam (12)
      • 4.2.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (12)
      • 4.2.2. Quá trình nhận thức và vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tại Việt Nam (13)
  • 5. Quy luật phát triển lực lượng sản xuất xã hội ở việt nam trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế (18)
  • 6. Khái quát thành tựu của các cuộc Cách mạng KHKT trong lịch sử nhân loại (24)
  • 7. Ý nghĩa và tác động của Cách mạng Khoa học – Kỹ thuật (25)
  • 8. Cơ hội nâng cao sức cạnh tranh của Việt Nam do cách mạng công nghiệp 4.0 (26)
  • 9. Một số khuyến nghị để khai thác cơ hội và vượt qua thách thức từ CM Công nghiệp 4.0 (30)

Nội dung

Mác viết: “Việc sản xuất ra những tư liệu sinhhoạt vật chất trực tiếp và chính mỗi một giai đoạn phát triển kinh tế nhất địnhcủa một dân tộc hay một thời đại tạo ra một cơ sở, từ đó mà n

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu và kiến thức từ môn Kinh tế Chính trị Mác - Lênin giúp phân tích đặc điểm chung của nền công nghiệp 4.0, từ đó nhận diện cơ hội và thách thức mà cuộc cách mạng này mang lại cho Việt Nam hiện nay Bài viết cũng đề xuất một số giải pháp nhằm ứng phó với những thách thức đó và đưa ra kết luận về vấn đề nghiên cứu Cuối cùng, cần nhấn mạnh ý thức trách nhiệm của mỗi công dân trong bối cảnh chuyển mình của đất nước.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích – tổng hợp lý thuyết

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nền kinh tế Việt Nam đang đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức ảnh hưởng đến sức cạnh tranh Cơ sở lý thuyết cho thấy rằng việc nắm bắt xu hướng toàn cầu sẽ giúp Việt Nam cải thiện vị thế kinh tế Tuy nhiên, để tận dụng tối đa những cơ hội này, cần phải vượt qua các thách thức như cạnh tranh quốc tế và sự thay đổi nhanh chóng của thị trường.

Khái quát lí luận về sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội

Một sơ khái niệm cơ bản

 Quan điểm của Các Mác về lực lượng sản xuất.

Lực lượng sản xuất là khái niệm quan trọng trong chủ nghĩa duy vật lịch sử, giúp hiểu rõ sự vận động và phát triển của quá trình sản xuất vật chất trong xã hội Việc nghiên cứu khái niệm này là cần thiết để nắm bắt toàn bộ lịch sử phát triển của loài người, và C Mác đã sớm chú trọng đến việc phân tích lực lượng sản xuất.

C Mác cho rằng hoạt động sản xuất vật chất của con người là điểm khởi đầu trong nghiên cứu lịch sử – xã hội Ông nhấn mạnh rằng con người khác biệt với động vật khi bắt đầu sản xuất tư liệu sinh hoạt để đáp ứng nhu cầu thiết yếu Theo ông, “Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể ‘làm ra lịch sử’”, và để sống, con người cần thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo, và các nhu cầu khác Hành vi lịch sử đầu tiên chính là sản xuất tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu này, tạo ra đời sống vật chất Đồng thời, quá trình này cũng dẫn đến sự sáng tạo các khía cạnh của đời sống xã hội Mác khẳng định rằng việc sản xuất tư liệu sinh hoạt vật chất không chỉ tạo ra cơ sở cho sự phát triển kinh tế mà còn hình thành các thể chế nhà nước, quan điểm pháp quyền, nghệ thuật, và cả những quan niệm tôn giáo Luận điểm này thể hiện tính triệt để trong quan niệm duy vật của C Mác.

Theo C Mác, sản xuất vật chất là hoạt động cốt lõi của con người, quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội Trong quá trình này, con người có hai mối quan hệ chính: một là với tự nhiên, hai là với nhau Mối quan hệ với tự nhiên thể hiện lực lượng sản xuất, nhưng không phải mọi mối quan hệ đều tạo ra lực lượng sản xuất Chỉ những quan hệ mà con người tác động vào tự nhiên để tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu và cải biến bản thân mới được coi là quan hệ tạo ra lực lượng sản xuất.

C Mác cho rằng, lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình cải biến giới tự nhiên Khi tiến hành sản xuất vật chất, con người dùng những công cụ lao động để tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất phục vụ những nhu cầu thiết yếu của mình Cũng trong quá trình đó, con người nắm bắt được những quy luật của tự nhiên, biến giới tự nhiên từ chỗ hoang sơ, thuần phác trở thành “thế giới thứ hai” với sự tham gia của bàn tay và khối óc của con người Sản xuất vật chất luôn thay đổi nên lực lượng sản xuất là một yếu tố động và là một quá trình luôn được đổi mới, phát triển không ngừng.

Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C Mác nhấn mạnh rằng lịch sử là sự kế thừa liên tục giữa các thế hệ, trong đó mỗi thế hệ sử dụng tài nguyên, tư bản và lực lượng sản xuất do các thế hệ trước để lại Điều này cho thấy mỗi thế hệ không chỉ tiếp tục các hoạt động đã được truyền lại mà còn thay đổi hoàn cảnh cũ thông qua những hoạt động mới.

Theo C Mác, lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất, nhằm tạo ra sức sản xuất vật chất nhất định.

Khi thảo luận về lực lượng sản xuất, C Mác nhấn mạnh hai yếu tố cơ bản cấu thành nên nó: người lao động và tư liệu sản xuất.

Theo lập trường duy vật về lịch sử, C Mác nhấn mạnh rằng lực lượng sản xuất phản ánh khả năng thực tiễn của con người trong việc tác động đến tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất Vì vậy, lực lượng sản xuất là thước đo sự phát triển của hoạt động sản xuất vật chất trong từng hình thái kinh tế – xã hội cụ thể.

Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa con người trong quá trình sản xuất vật chất, đóng vai trò là yếu tố chính của phương thức sản xuất và thể hiện mặt xã hội của nó Đây là quan hệ kinh tế đặc trưng cho một hình thái kinh tế – xã hội cụ thể, phản ánh bản chất và tính chất của quan hệ lao động Quan hệ sản xuất không phụ thuộc vào ý thức con người, mà mang tính khách quan và độc lập.

Quan hệ sản xuất bao gồm ba khía cạnh chính: quan hệ về quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong việc tổ chức và quản lý quá trình sản xuất, và quan hệ trong việc phân phối sản phẩm được sản xuất.

Kết cấu của quan hệ sản xuất :

Nhận thức rõ hơn mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất từ thực tiễn Việt Nam

4.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai yếu tố không thể tách rời trong phương thức sản xuất, chúng tương tác biện chứng và ảnh hưởng lẫn nhau Sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển xã hội.

Tác động của lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất là:

Sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và điều chỉnh quan hệ sản xuất cho phù hợp Khi một phương thức sản xuất mới xuất hiện, quan hệ sản xuất sẽ được điều chỉnh để tương thích với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định dẫn đến việc quan hệ sản xuất trở nên không còn phù hợp Điều này yêu cầu phải thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất Việc thay thế này không chỉ thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển mà còn đồng nghĩa với việc phương thức sản xuất cũ sẽ mất đi, nhường chỗ cho phương thức sản xuất mới.

Bên cạnh đó, quan hệ sản xuất lại tác động trở lại lực lượng sản xuất như sau:

Lực lượng sản xuất không chỉ quyết định quan hệ sản xuất mà còn có sự độc lập tương đối, ảnh hưởng trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Quan hệ sản xuất xác định mục đích và phương thức sản xuất, phân phối, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ của người lao động, năng suất, chất lượng và hiệu quả của quá trình sản xuất Sự tác động giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có thể diễn ra theo hai hướng: tích cực, khi nó thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, hoặc tiêu cực, khi nó kìm hãm sự phát triển này.

4.2.2 Quá trình nhận thức và vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tại Việt Nam. Ở Việt Nam, sau khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH (1954), Đại hội III của Đảng (9-1960) đã đề ra đường lối cách mạng XHCN mà nội dung chủ yếu là tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất; cách mạng khoa học, kỹ thuật; cách mạng tư tưởng, văn hóa; trong đó cách mạng khoa học, kỹ thuật là then chốt; coi công nghiệp hóa XHCN là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ Xây dựng công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học tiên tiến Ra đời các khu công nghiệp Thái Nguyên, Việt Trì, Thượng Đình, Nhà máy Thủy điện Thác Bà Khi đất nước thống nhất (30-4-1975), Đại hội IV của Đảng (12-1976), trong đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước đã tiếp tục phát triển quan điểm đó, nhấn mạnh mục tiêu, nhiệm vụ công nghiệp hóa XHCN và cách mạng khoa học, kỹ thuật để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất Chú trọng phát triển nguồn năng lượng, điện lực phải đi trước một bước (xây dựng Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, Trị An và các nhà máy nhiệt điện) Phát triển công nghiệp cơ khí, luyện kim, công nghiệp hóa chất, vật liệu xây dựng Rất coi trọng các ngành công nghiệp nặng.

Việt Nam và các nước XHCN trước đây đã tập trung vào việc xây dựng quan hệ sản xuất XHCN, với mục tiêu xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và thiết lập công hữu thông qua quốc doanh và tập thể Họ cũng xác lập cơ chế kế hoạch hóa kinh tế quốc dân, quản lý tập trung và hạn chế thị trường tự do, đồng thời thực hiện chế độ phân phối theo lao động, chủ yếu là phân phối bình quân và bao cấp Tuy nhiên, những yếu tố này dần bộc lộ hạn chế, không tạo ra động lực phát triển và thiếu sự sáng tạo, dẫn đến điểm nghẽn trong quan hệ sản xuất với nhiều yếu tố không hợp lý.

Vấn đề xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất đã không được nhận thức đúng, khi các nước XHCN ngay lập tức loại bỏ sở hữu tư nhân và coi công hữu là bản chất của CNXH Trong tác phẩm "Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản" (10-1847), Ph Ăngghen khẳng định rằng không thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức, vì lực lượng sản xuất hiện có không thể tăng lên ngay để xây dựng nền kinh tế công hữu Do đó, cuộc cách mạng của giai cấp vô sản sẽ cải tạo xã hội một cách dần dần, chỉ khi đã tạo ra đủ tư liệu sản xuất cần thiết thì mới có thể xóa bỏ chế độ tư hữu.

Chỉ dẫn của Ph.Ăngghen dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn, mang giá trị sâu sắc V.I.Lênin đã chỉ ra những đặc trưng của thời kỳ quá độ, trong đó có sự tồn tại lâu dài của nhiều thành phần kinh tế và sở hữu tư nhân Tuy nhiên, nguyên lý và các đặc trưng này đã không được nhận thức và áp dụng đúng cách ở các nước XHCN trước đây Cuối những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ XX, các nước XHCN đã rơi vào khủng hoảng và trì trệ kinh tế, dẫn đến bất ổn chính trị ở một số quốc gia.

Việt Nam đã trải qua khủng hoảng kinh tế – xã hội từ năm 1979, dẫn đến yêu cầu cần thiết phải đổi mới Đại hội VI Đảng vào tháng 12 năm 1986 đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, tập trung vào việc cải cách các chính sách kinh tế Đường lối này dựa trên việc đổi mới tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật và tự phê bình nghiêm túc Đại hội VI nhấn mạnh rằng Đảng cần xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, vì năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.

Nhiều quy luật trong thời kỳ quá độ chưa được nhận thức và áp dụng đúng cách, dẫn đến tác động tiêu cực đến sự phát triển Một trong những quy luật quan trọng là quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Hiện nay, lực lượng sản xuất ở Việt Nam còn rất kém phát triển, trong khi lại tập trung vào việc xây dựng quan hệ sản xuất ở trình độ cao Việc áp dụng quan hệ sản xuất tiên tiến để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển là một nhận thức và hành động sai lầm, thậm chí trái với quy luật Đại hội VI của Đảng đã chỉ ra vấn đề này một cách rõ ràng.

Quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa cần có bước đi và hình thức phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất Kinh nghiệm cho thấy, lực lượng sản xuất có thể bị kìm hãm không chỉ do quan hệ sản xuất lạc hậu mà còn do sự phát triển không đồng bộ Đại hội VI đã khẳng định chính sách phát triển nhiều thành phần kinh tế, bao gồm cả kinh tế tư bản tư nhân và sở hữu tư nhân, đánh dấu một sự điều chỉnh quan trọng trong quan hệ sản xuất Việc tuyệt đối hóa chế độ công hữu mà không thừa nhận sở hữu tư nhân trước đó là yếu tố cần được xem xét.

Trong sự nghiệp đổi mới từ năm 1986, Đảng đã xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường và được quản lý bởi Nhà nước theo định hướng XHCN Nhiều quy luật và đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã được nhận thức và xử lý dựa trên nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất vẫn là vấn đề cốt lõi trong việc đề ra các chính sách kinh tế Đảng và Nhà nước đang tập trung phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất theo đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa được nêu trong Nghị quyết Trung ương.

Từ năm 1996, Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ chuyển mình sang giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ, cùng với chiến lược giáo dục và đào tạo, được xác định là quốc sách hàng đầu theo Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII.

(1996) Lực lượng sản xuất đã phát triển đáng kể và đang phấn đấu đến năm

Đến năm 2030, Việt Nam sẽ cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại Sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là việc ứng dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, cùng với việc tăng cường hội nhập quốc tế, sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển lực lượng sản xuất với quy mô lớn, chất lượng và hiệu quả cao hơn.

Quy luật phát triển lực lượng sản xuất xã hội ở việt nam trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, lực lượng sản xuất không chỉ được xã hội hóa mà còn ngày càng được toàn cầu hóa và quốc tế hóa Toàn cầu hóa kinh tế chủ yếu là quá trình toàn cầu hóa lực lượng sản xuất, mà C.Mác đã gọi là quá trình tư bản hóa Ông nhấn mạnh rằng nhờ vào sự cải tiến nhanh chóng của công cụ sản xuất và sự tiện lợi của phương tiện giao thông, giai cấp tư sản đã kéo theo cả những dân tộc chưa phát triển vào dòng chảy văn minh Giá rẻ của sản phẩm từ giai cấp này đã phá vỡ mọi rào cản, buộc các dân tộc phải áp dụng phương thức sản xuất tư bản, nếu không sẽ bị tiêu diệt.

Trình độ của lực lượng sản xuất được thể hiện qua các yếu tố như trình độ công cụ lao động, trình độ khoa học kỹ thuật, và trình độ của người lao động, bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, tri thức, cũng như khả năng tổ chức, quản lý và phân công.

Phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay cần tập trung vào việc nâng cao khoa học kỹ thuật và công nghệ, cải tiến công cụ lao động, mở rộng đối tượng lao động, và phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Điều này phải được thực hiện thông qua công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chấn hưng nền giáo dục Đảng ta khẳng định rằng việc phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học công nghệ cao là một chiến lược đúng đắn, đóng vai trò cốt lõi trong sự phát triển lực lượng sản xuất hiện nay.

Để phát triển sản xuất ở nước ta hiện nay, cần chú trọng không chỉ vào việc phát triển lực lượng sản xuất và sức sản xuất, mà còn phải xây dựng và hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất Điều này có nghĩa là cần phải điều chỉnh quan hệ sản xuất sao cho phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Hai yếu tố này không thể tách rời mà phải liên kết chặt chẽ, thống nhất trong phương thức sản xuất.

Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa con người trong quá trình sản xuất, đóng vai trò là hình thức của lực lượng sản xuất và là cơ sở kinh tế của đời sống tinh thần Theo các nhà kinh điển, xã hội hình thành từ sự tác động qua lại giữa con người, trong đó quan hệ sản xuất là nền tảng quyết định Sản xuất bao gồm sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người, ba quá trình này không thể tách rời, với sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển xã hội Do đó, trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, quan hệ sản xuất được coi là những quan hệ cơ bản và quyết định mọi quan hệ khác.

Quan hệ sản xuất bao gồm ba yếu tố chính: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối sản phẩm Ba yếu tố này liên kết chặt chẽ, tạo thành một hệ thống ổn định tương đối so với lực lượng sản xuất, trong đó quan hệ sở hữu đóng vai trò quyết định Tính chất của quan hệ sản xuất được xác định bởi chế độ sở hữu, quy định vị trí của các tập đoàn và giai cấp trong hệ thống sản xuất Quan hệ tổ chức quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, tốc độ và hiệu quả của sản xuất, trong khi quan hệ phân phối sản phẩm có tác dụng như chất xúc tác, thúc đẩy hoặc kìm hãm nhịp điệu sản xuất.

Trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay, việc vận dụng quy luật quan hệ sản xuất cần phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Điều này giúp tối ưu hóa hiệu quả kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh Sự kết hợp hài hòa giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất sẽ tạo ra động lực cho sự phát triển bền vững, đồng thời đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.

Sau năm 1975, sau khi giành độc lập và thống nhất đất nước, Việt Nam đã tiến lên xã hội chủ nghĩa với lực lượng sản xuất lớn nhưng còn non trẻ, đòi hỏi một chế độ kinh tế phù hợp, dẫn đến sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Tuy nhiên, do đề cao vai trò của quan hệ sản xuất và có quan niệm sai lầm về mối quan hệ này, chúng ta đã quên rằng Việt Nam đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội tư bản chủ nghĩa, dẫn đến sự nhầm lẫn giữa chế độ công hữu với chủ nghĩa xã hội và sự lẫn lộn giữa hợp tác hóa và tập thể hóa Việc không nhận thức rõ các bước quy luật trong quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội đã dẫn đến việc thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân một cách vội vàng.

Theo quan điểm về cải tạo xã hội chủ nghĩa, việc đưa quan hệ sản xuất đi trước để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển đã bị bác bỏ Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội mâu thuẫn với những phân tích trước đó Trong quá trình tìm kiếm lối thoát, nhiều hiện tượng tiêu cực như quản lý kém, tham ô, tham nhũng đã xuất hiện, phản ánh mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất và các hình thức kinh tế - xã hội không phù hợp Mặc dù việc khắc phục những vấn đề tiêu cực là cần thiết, nhưng thực tế cho thấy chúng ta chưa thực hiện tốt nhiệm vụ này.

Vấn đề hiện tại là giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nhằm khắc phục khó khăn trong nền kinh tế và thiết lập quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển Cần củng cố các đỉnh cao kinh tế trong tay nhà nước cách mạng, cho phép phục hồi và phát triển chủ nghĩa tư bản, đồng thời duy trì quan hệ có lợi với các bên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu nhấn mạnh rằng Việt Nam cần đào tạo người lính có khả năng cầm súng và làm kinh tế giỏi, không chấp nhận theo 6 con đường chủ nghĩa tư bản mà vẫn duy trì quan hệ với tư bản trên cơ sở cùng có lợi Đại hội VI khẳng định việc khôi phục và phát triển thành phần kinh tế tư bản theo chính sách của đảng và nhà nước, đồng thời nhận thức rõ vai trò của kinh tế nhà nước trong thời kỳ quá độ Để thực hiện điều này, cần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, đồng thời khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân và cá thể, với các biện pháp phù hợp để thúc đẩy sự phát triển của lực lượng lao động.

Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa với tiềm năng lao động lớn, cần cù và sáng tạo, nhưng công cụ lao động còn thô sơ Nguy cơ tụt hậu đang được khắc phục nhờ vào sự triển khai mạnh mẽ của Đảng về công nghiệp hóa, dựa trên cơ cấu sở hữu hợp quy luật và xã hội giai cấp Mặc dù có nhiều cơ hội, chúng ta cũng phải đối mặt với nhiều thách thức để hoàn thành sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh, công bằng và văn minh Điều quan trọng là nhận thức đúng đắn về quy luật sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện nay.

 Tác động của cách mạng công nghiệp Việt Nam đến sức cạnh tranh Việt Nam

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tại Việt Nam đang diễn ra với tốc độ phát triển nhanh chóng và phức tạp, ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực trong xã hội Cuộc cách mạng này đã tạo ra nhiều đột phá công nghệ, bao gồm sự phát triển của robot hiện đại, trí thông minh nhân tạo, khoa học vật liệu, công nghệ sinh học, công nghệ nano, công nghệ in 3D, và các giải pháp lưu trữ năng lượng cũng như lưu trữ tin học.

Cuộc cách mạng công nghiệp đã thúc đẩy sự kết nối công nghệ giữa các lĩnh vực như cơ – điện tử, lý – sinh, lý – hóa, hóa – sinh và cơ học – lý học Điều này dẫn đến sự hình thành các ngành nghề mới, nơi con người tương tác chặt chẽ với công nghệ và máy móc.

Cuộc cách mạng kinh tế đã ảnh hưởng đến tiêu dùng, giá cả và sản xuất tại huyện Nam Trà My, theo đánh giá từ trang thông tin điện tử của huyện Nhờ đó, người dân có cơ hội tiếp cận các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ chất lượng cao hơn với chi phí thấp hơn.

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm thay đổi sức cạnh tranh trên thị trường, dẫn đến sự xuất hiện của các công ty độc quyền về dịch vụ và sản phẩm Sự phát triển của máy móc và thiết bị hiện đại không chỉ nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh và sản xuất Tại Việt Nam, nhu cầu tuyển dụng trong các ngành công nghệ thông tin ngày càng tăng, cho thấy sức cạnh tranh trong lĩnh vực này đang gia tăng và mở ra nhiều cơ hội Ngược lại, các ngành thủ công ngày càng kém hấp dẫn do tốn thời gian và công sức, dẫn đến sức cạnh tranh yếu và cơ hội hạn chế Do đó, các trường đại học và cao đẳng hiện nay đã chú trọng hơn đến việc giảng dạy kiến thức cơ bản về máy tính và công nghệ, bao gồm các kỹ năng như Word, Excel, PowerPoint.

Khái quát thành tựu của các cuộc Cách mạng KHKT trong lịch sử nhân loại

Cuộc sống hiện đại đặt ra nhiều yêu cầu về kỹ thuật và sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của con người.

Trong những năm gần đây, nhân loại đang đối mặt với những thách thức lớn như bùng nổ dân số, cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường Những vấn đề này đòi hỏi khoa học và kỹ thuật phải phát triển các công cụ sản xuất mới với công nghệ cao, nguồn năng lượng mới và vật liệu tiên tiến.

- Do nhu cầu phục vụ chiến tranh của các nước đế quốc.

- Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.

- Thời gian phát minh khoa học đến ứng dụng vào sản xuất ngày càng rút ngắn.

- Đầu tư vào khoa học có lợi nhất.

- Khoa học đang trong thời kì bùng nổ thông tin.

Bốn đại diện chính của xu hướng phát triển công nghệ hiện đại bao gồm xe tự lái, công nghệ in 3D, robot cao cấp và vật liệu mới.

Xe tự lái đang ngày càng phổ biến, không chỉ bao gồm ô tô mà còn có xe tải, thiết bị bay không người lái, máy bay và tàu thủy Sự phát triển của cảm biến và trí tuệ nhân tạo đã nâng cao khả năng của các phương tiện tự hành này một cách nhanh chóng.

Công nghệ in 3D, hay còn gọi là chế tạo cộng, là quá trình tạo ra các đối tượng vật lý từ mô hình 3D đã được thiết kế trước Bắt đầu từ vật liệu rời, công nghệ này cho phép sản xuất sản phẩm ở dạng ba chiều dựa trên mẫu kỹ thuật số.

Khoa học robot cao cấp đang ngày càng phát triển, với việc sử dụng robot trong nhiều lĩnh vực từ nông nghiệp đến chăm sóc người bệnh Sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ robot đang thúc đẩy sự hợp tác giữa con người và máy móc trở thành hiện thực Hơn nữa, nhờ vào các tiến bộ công nghệ khác, robot ngày càng trở nên thích nghi và linh hoạt hơn, với thiết kế cấu trúc và chức năng được lấy cảm hứng từ các hệ thống sinh hoạt phức tạp.

Vật liệu mới đang được giới thiệu trên thị trường với những thuộc tính từng được coi là viễn tưởng, bao gồm tính nhẹ, độ bền cao, khả năng tái chế và dễ dàng thích ứng Hiện nay, các ứng dụng của chúng rất đa dạng, từ vật liệu thông minh tự phục hồi và tự làm sạch, đến kim loại có khả năng khôi phục hình dạng ban đầu, cũng như gốm sứ và pha lê có khả năng chuyển đổi áp lực thành năng lượng.

Ý nghĩa và tác động của Cách mạng Khoa học – Kỹ thuật

- Cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật có ý nghĩa vô cùng lớn lao, như một cột mốc lớn chói lọi trong lịch sử tiến hóa văn minh loài người

- Mang những tiến bộ phi thường, những thành tựu kì diệu.

- Tạo nên những đổi thay to lớn trong cuộc sống.

Cách mạng khoa học - kỹ thuật đã tạo ra những tiến bộ vượt bậc, mang đến những thành tựu kỳ diệu giúp nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của con người.

-Cho phép con người thực hiện những bước nhảy vọt chưa từng thấy về năng suất lao động.

Tỷ lệ dân cư lao động trong nông nghiệp và công nghiệp đang giảm dần, trong khi đó, tỷ lệ dân cư làm việc trong các ngành dịch vụ ngày càng tăng Sự thay đổi này phản ánh xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động trong nền kinh tế.

Nền văn minh thứ ba, phát triển sau thời kỳ công nghiệp hóa, được xây dựng trên nền tảng của công nghệ vi tính, điện tử, thông tin và khoa sinh hóa, sẽ đưa loài người tiến xa hơn trong kỷ nguyên mới.

-Làm cho sự giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học - kĩ thuật… ngày càng quốc tế hóa cao. b Hạn chế

-Chế tạo các loại vũ khí và các phương tiện quân sự có sức tàn phá và hủy diệt sự sống.

Ô nhiễm môi trường đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng, bao gồm ô nhiễm khí quyển, ô nhiễm đại dương và ô nhiễm sông hồ Bên cạnh đó, các sự cố như nhiễm phóng xạ nguyên tử, tai nạn lao động và tai nạn giao thông liên quan đến công nghệ mới cũng đang gia tăng Thêm vào đó, dịch bệnh và tệ nạn xã hội đang ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của con người.

Cơ hội nâng cao sức cạnh tranh của Việt Nam do cách mạng công nghiệp 4.0

Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, hay công nghiệp 4.0, đánh dấu sự phát triển vượt bậc của công nghệ kỹ thuật số thông qua kết nối Internet Công nghiệp 4.0 tạo ra các nhà máy, sản phẩm và chuỗi cung ứng thông minh, giúp hệ thống sản xuất và dịch vụ trở nên linh hoạt và đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng Những lợi ích mà công nghiệp 4.0 mang lại cho doanh nghiệp đã được nêu rõ, và trong tương lai, sự phát triển của công nghiệp 4.0 sẽ tiếp tục mạnh mẽ, yêu cầu các doanh nghiệp phải chuẩn bị cho sự chuyển mình liên tục để theo kịp các xu hướng hiện đại.

Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ và hội nhập sâu rộng với nền kinh tế toàn cầu thông qua các hiệp định thương mại lớn như TPP và FTA Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, dựa trên công nghệ số và tích hợp công nghệ thông minh, sẽ tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế và công nghiệp, đồng thời ảnh hưởng đến xu hướng phát triển bền vững Để tận dụng cơ hội từ cuộc cách mạng này, Việt Nam cần đánh giá các tác động và đưa ra biện pháp phát triển bền vững Đảng và Nhà nước đã xác định cách mạng công nghiệp 4.0 là mục tiêu hàng đầu, nhấn mạnh vai trò của kinh tế tri thức và khoa học công nghệ trong phát triển Các nghị quyết từ Đại hội Đảng và Bộ Chính trị đã chỉ ra tầm quan trọng của việc phát triển các ngành khoa học công nghệ mũi nhọn như điện tử và tin học, cũng như ưu tiên ứng dụng công nghệ tiên tiến để điện hóa nền kinh tế quốc dân.

Việt Nam có lợi thế trong việc thực hiện cách mạng công nghiệp 4.0 nhờ vào nguồn nhân lực trẻ, sáng tạo và cơ cấu dân số vàng Xã hội ngày càng tiên tiến, giúp người dân tiếp cận khoa học công nghệ nhanh chóng Điều này tạo cơ hội cho Việt Nam tận dụng hiệu quả việc "Đi tắt, đón đầu" trong công nghiệp hoá, phát triển công nghệ cao hơn Để đạt được điều này, cần chú trọng đào tạo nâng cao trình độ cán bộ kỹ thuật và quản lý, khuyến khích chuyển dịch lao động từ các trường đại học sang doanh nghiệp, đồng thời tăng cường chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng và dạy nghề, nhằm cung cấp nguồn lao động chất lượng cao cho thị trường Việc bắt kịp xu hướng và đáp ứng nhu cầu xã hội là rất quan trọng để không bị tụt lại phía sau.

Việt Nam có nhiều lợi thế trong việc thực hiện cách mạng công nghiệp 4.0, điều này không chỉ nâng cao khả năng cạnh tranh của quốc gia mà còn tạo ra những tác động tích cực trong nhiều lĩnh vực Đặc biệt, Việt Nam chú trọng và tích cực thúc đẩy hợp tác với Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF).

Thế giới số và siêu kết nối thông minh mở ra cơ hội khởi nghiệp và sáng tạo cho mọi người, giúp họ tiếp cận nguồn lực, thông tin và thị trường mới, từ đó thúc đẩy phát triển bao trùm Môi trường này cũng cách mạng hóa giao dịch, thanh toán và logistics, tạo điều kiện cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu Việt Nam cần tận dụng hợp tác quốc tế để nắm bắt cơ hội và vượt qua thách thức, nhằm phát triển bền vững và thu hẹp khoảng cách phát triển Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Việt Nam sẽ đối mặt với cả cơ hội và thách thức, cùng với những nguy cơ tiềm ẩn.

Thách thức lớn nhất của Việt Nam là sự yếu kém trong nền kinh tế thị trường, với khoảng cách phát triển kinh tế giữa nước ta và thế giới còn rất lớn.

Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển và thu hồi vốn trong một khoảng thời gian nhất định là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp và cá nhân.

Các nguồn lực tài chính hiện nay phân bổ không đồng đều, chủ yếu tập trung ở một số trung tâm tài chính lớn tại các nước công nghiệp phát triển hàng đầu Điều này dẫn đến việc quá trình hội nhập và toàn cầu hóa không chỉ thúc đẩy dòng vốn chảy mạnh mẽ và dễ dàng hơn, mà còn gia tăng nguy cơ đối mặt với các rủi ro tiềm ẩn.

Nguy cơ Việt Nam tụt hậu so với các nước trên thế giới trong tương lai gần là điều có thể xảy ra Để phát huy lợi thế so sánh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Việt Nam cần học hỏi từ những quốc gia đã thành công trong việc tận dụng hội nhập thương mại và thị trường tài chính quốc tế Ngược lại, các nước không thể toàn cầu hóa và hội nhập sẽ đối mặt với nguy cơ thụt lùi về trình độ phát triển, khó có khả năng phục hồi và thoát khỏi tình trạng yếu kém so với các quốc gia khác.

Xu hướng tự do hóa thương mại quốc tế ngày càng phát triển, dẫn đến cạnh tranh quốc tế trở nên khó khăn và nguy hiểm hơn Để thành công, chúng ta cần cạnh tranh ngay từ đầu trên các sàn thương mại lớn, đồng thời nỗ lực trau dồi kinh nghiệm để theo kịp các quốc gia phát triển mạnh hơn.

Tại Kỳ họp thứ 6 của Quốc hội khoá XI, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nhấn mạnh rằng sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam và nền kinh tế hiện đang thua kém so với nhiều quốc gia xung quanh, điều này tạo ra bất lợi lớn cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Chúng ta cần phân tích tính hai mặt của toàn cầu hóa để hiểu rõ các xu hướng, tác động và quy luật vận động của nó Dựa trên những phân tích này, cần chủ động tìm ra giải pháp và biện pháp phù hợp trong quá trình hội nhập, nhằm tiếp tục xây dựng con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong tương lai.

Toàn cầu hóa mở ra nhiều cơ hội phát triển cho nền kinh tế Việt Nam cũng như cho các quốc gia tham gia vào quá trình này.

Tạo cơ hội giao lưu quốc tế giúp chúng ta khám phá và học hỏi những điều mới mẻ từ các quốc gia khác Mặc dù chúng ta có nguồn nhân lực phong phú, nhưng nếu không tích cực hội nhập, việc khai thác nguồn lực trong nước sẽ trở nên lãng phí, kém hiệu quả và không đạt được năng suất mong muốn.

Toàn cầu hóa mang đến nhiều cơ hội đầu tư mới cho doanh nghiệp và cá nhân, giúp tăng nhanh lượng vốn và đa dạng hóa các loại hình đầu tư từ nhỏ đến lớn Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả đầu tư mà còn giảm thiểu rủi ro không cần thiết.

Một số khuyến nghị để khai thác cơ hội và vượt qua thách thức từ CM Công nghiệp 4.0

Trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra toàn cầu, Việt Nam cần xây dựng chiến lược phát triển công nghệ cao trong 10 năm tới với 5 nội dung chính.

- Hợp tác mạnh mẽ giữa khoa học công nghệ và sản xuất, kinh doanh.

- Đẩy mạnh đổi mới công nghệ trong khu vực doanh nghiệp tư nhân.

- Triển khai ứng dụng mạnh mẽ và rộng rãi các công nghệ mới.

- Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ.

- Ưu tiên tài trợ cho các tổ chức, cá nhân có thành tích khoa học công nghệ xuất sắc.

CMCN lần thứ 4 mang đến nhiều cơ hội cho các nước, đặc biệt là Việt Nam, trong việc nâng cao năng suất và thu hẹp khoảng cách phát triển Khi Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu thông qua các hiệp định thương mại tự do lớn như TPP và FTA với EU, việc tiếp cận các thành tựu của cách mạng sản xuất mới là rất cần thiết Điều này giúp Việt Nam tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu và thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Công nghệ số và các công nghệ thông minh đang được tích hợp để tối ưu hóa quy trình sản xuất, tạo ra những tác động lớn đến nhiều lĩnh vực Những công nghệ mới không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất mà còn có tác động sâu rộng đến đời sống xã hội, lao động, việc làm, an ninh và chính trị.

Nhóm giải pháp kết nối theo chiều dọc:

Để nâng cao hiệu quả trong việc tích hợp công nghệ thông tin, cần phát triển các giải pháp CNTT mới, kết hợp từ nhiều nhà cung cấp khác nhau, bao gồm cảm biến, hệ thống điều khiển, mạng truyền thông, cùng với các ứng dụng kinh doanh và chăm sóc khách hàng.

Khoa học phân tích và quản lý dữ liệu sẽ trở nên quan trọng trong kỷ nguyên CMCN lần thứ 4, khi mà lượng dữ liệu khổng lồ được tạo ra Việc thu thập, phân tích và xử lý dữ liệu lớn không chỉ giúp tạo ra tri thức mới mà còn hỗ trợ quyết định và mang lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Ứng dụng điện toán đám mây đang mở ra cơ hội lớn cho việc lưu trữ và quản lý hiệu quả dữ liệu lớn trong CMCN lần thứ 4 Các giải pháp dựa trên đám mây sẽ ngày càng trở nên thiết yếu trong bối cảnh phát triển của CMCN lần thứ 4.

Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 mang đến cơ hội mới để nâng cao hiệu quả hoạt động Việc phân tích và đánh giá dữ liệu từ máy móc và cảm biến giúp đưa ra quyết định nhanh chóng, từ đó cải thiện an toàn, tối ưu hóa quy trình làm việc, nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo trì.

- Tổ chức học hỏi: Các doanh nghiệp phải trở thành các tổ chức học hỏi.

Nhóm giải pháp tích hợp theo chiều ngang:

Để tối ưu hóa mô hình kinh doanh, các công ty cần phát triển kỹ năng mới cho cả cá nhân và tổ chức Việc chỉ tiếp cận vấn đề từ một phía có thể dẫn đến phản ứng tiêu cực trong hệ thống, trong khi tiếp cận từ hai phía sẽ tạo ra tác động tích cực đối với người lao động.

Chuỗi cung ứng thông minh sẽ được hình thành từ CMCN lần thứ 4, tạo ra mô hình mới gắn kết chặt chẽ với nhu cầu khách hàng Mô hình này sẽ thiết lập một cơ sở dữ liệu duy nhất, giúp chuỗi cung ứng trở nên thông minh, minh bạch và hiệu quả hơn ở mọi giai đoạn, từ phát sinh nhu cầu đến giao hàng.

Hậu cần thông minh là yếu tố quan trọng trong thời đại số, yêu cầu các quy trình hậu cần phải nâng cao tính thông minh trong mạng lưới chuỗi giá trị toàn cầu Điều này bao gồm cả quản lý cung ứng vật tư và phân phối sản phẩm, nhằm tối ưu hóa hiệu quả và đáp ứng nhanh chóng nhu cầu thị trường.

Quản lý an ninh mạng trở nên ngày càng quan trọng trong bối cảnh CMCN lần thứ 4, khi mà mức độ chia sẻ thông tin gia tăng đáng kể, dẫn đến nhu cầu cao về bảo vệ an toàn thông tin.

Hệ thống quản lý sở hữu trí tuệ cần được cải cách để thích ứng với CMCN lần thứ 4 Sự xuất hiện của các mô hình kinh doanh và hợp tác mới đòi hỏi các giải pháp hiệu quả hơn trong việc bảo vệ sở hữu trí tuệ trong kỷ nguyên số.

Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng và tâm thế chủ động, Việt Nam có khả năng tận dụng những cơ hội từ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Điều này sẽ giúp xây dựng một đội ngũ ngày càng đông đảo và chất lượng, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Cuộc cách mạng công nghệ hiện nay đang thay đổi cơ bản lối sống, phong cách làm việc và giao tiếp của con người, theo GS Klaus Schwab, Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế Thế giới Davos Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 không xảy ra "chỉ trong một đêm" mà là một quá trình tất yếu của tự động hóa, tạo ra sản phẩm phong phú hơn với giá thành thấp hơn Các công ty sản xuất đang đứng trước cơ hội chuyển đổi sang mô hình Công nghiệp 4.0, và những ai bỏ lỡ cơ hội này có thể bị loại khỏi thị trường Trí tuệ nhân tạo đã có những bước tiến ấn tượng nhờ vào sức mạnh điện tử và nguồn dữ liệu phong phú, dẫn đến sự kết hợp giữa thế giới thực, ảo và sinh vật Tuy nhiên, sự phát triển này cũng đi kèm với rủi ro, khi các tổ chức và chính phủ có thể chưa sẵn sàng để áp dụng công nghệ mới một cách toàn diện.

 https://123docz.net//document/6544666-bai-tieu-luan-ve-cuoc-cach- mang-4-0.htm

 https://sentayho.com.vn/cach-mang-4-0-la-gi.html

 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư bối cảnh, các xu hướng lớn và những sản phẩm điển hình, Tạp chí Tự động hóa ngày nay, 5/2016.

Tôi không biết!

Ngày đăng: 24/05/2023, 09:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w