1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận môn kinh tế chính trị mác lê nin các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu này

21 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu này
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Hằng
Trường học Học viện Hàng không Việt Nam
Chuyên ngành Kinh tế chính trị Mác Lênin
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những hiểu biết còn hạn chế về môn Kinh tế chínhtrị Mác – Lênin và những hiểu biết về giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản, do đóchúng em không có tham vọng đưa ra những nhận định

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG KHOA VẬN TẢI HÀNG KHÔNG

-

-BÀI TIỂU LUẬN

MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊ NIN

Giảng viên hướng dẫn:

MÃ LỚP HỌC PHẦN:

TP HỒ CHÍ MINH – 2021

Trang 2

DANH SÁCH SINH VIÊN NHÓM 7

PHÂN CÔNG CỦA NHÓM SINH VIÊN

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU 

Theo đánh giá của Lê nin, lí luận giá trị thặng dư là “hòn đá tảng của học thuyếtkinh tế Mác” và học thuyết kinh tế Mác là nội dung căng bản của chủ nghĩa Mác.Trong xã hội tư bản, mối quan hệ giữa tư bản và lao động là mối quan hệ cơ bản, sâusắc nhất, xuyên qua tất cả các quan hệ sản xuất của xã hội đó Trong giai đoạn trướcđây, không chỉ riêng nước ta, ngay cả các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa, đãđồng nhất nền kinh tế thị thị trường chủ nghĩa tư bản, phủ định các phạm trù, các quyluật kinh tế tồn tại và hoạt động trong nền kinh tế thị trường Thì ngày nay, qua thựctiễn thì chúng ta càng hiểu rõ hơn về nền kinh tế thị trường không đối lập với Chủnghĩa xã hội Đó chính là thành tựu của nhân loại, đồng thời cũng rất cần thiết chocông cuộc phát triển kinh tế trong thời quá độ lên chủ nghĩa xã hội Và nền kinh tế thịtrường luôn gắn liền với quy luật và các phạm trù kinh tế của nó Hay nói cách khác

sự tồn tại của giá trị thặng dư là kết quả tất yếu

Việc nghiên cứu phạm trù giá trị thặng dư, các hình thức biểu hiện của giá trịthặng dư trong chủ nghĩa tư bản và ý nghĩa của chúng được cho là rất quan trọng, làchìa khóa dẫn đến những vấn đề khác trong phương thức sản xuất chủ nghĩa tư bản vàđặc biệt là trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Điều này có ýnghĩa với thực tiễn tại Việt Nam ngày nay, trong việc phát triển kinh tế đất nước xu

hướng toàn cầu hóa Chính vì thế, nhóm chúng em đã mạnh dạng chọn chủ đề 12 “ Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản, ý nghĩa lý luận

và thực tiễn của việc nghiên cứu này”.

Mục đích của nghiên cứu chúng em đề ra là: Nghiên cứu về bản chất, các hìnhthức biểu hiện của giá trị thặng dư, qua đó nhận thức đúng đắn về con đường xâydựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà Đảng và nhà nước ta đã lựa chọn Cung cấp cáinhìn tổng quát nhất về giá trị thặng dư cũng như thực trạng trong việc vận dụng quyluật ở Việt Nam thời gian qua Với những hiểu biết còn hạn chế về môn Kinh tế chínhtrị Mác – Lênin và những hiểu biết về giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản, do đóchúng em không có tham vọng đưa ra những nhận định mới mẻ, chỉ mong vận dụngđược một phần kiến thức để chỉ ra những biện pháp kinh tế linh hoạt, mềm dẻo cũngnhư đủ sức mạnh để thích nghi, cạnh tranh với tình hình kinh tế chính trị của thế giới.Với các phương pháp: Vận dụng nhưng kiến thức đã được học và tài liệu thamkhảo, đưa ra những quan điểm kết hợp với ví dụ để làm rõ thông tin Tra cứu tài liệntrên internet, phân tích thông tin, đưa ra những nhận xét và đánh giá

Và hơn hết, nhóm chúng em xin cảm ơn đến đội ngũ cán bộ giảng viên trongHọc viện hàng không Việt Nam và đặc biệt là cô Nguyễn Thị Hằng người đã trực tiếpgiảng dạy và hướng dẩn chúng em làm đề tài này

Trang 4

Tuy đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu và làm bài, vì kiến thứcchuyên môn còn hạn chế và nhóm chúng em cũng chưa có nhiều kinh nghiệm trongquá trình nghiên cứu và trình bày nên có nhiều sai sót không thể tránh khỏi Do đó,nhóm chúng em rất mong nhận những lời nhận xét, góp ý của thầy cô để cho bài làmđược hoàn thiện hơn.

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Trang 5

………

………

………

……

………

………

…………

MỤC LỤC CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ 1

1.1 Khái niệm và các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư 1

1.1.1 Khái niệm 1

1.1.2 Các phương thức sản xuất 2

1.1.3 Nguồn gốc 3

1.1.4 Bản chất của giá trị thặng dư 4

1.1.5 Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư 5

1.1.5.1 Lợi nhuận: 5

1.1.5.2 Lợi tức: 5

1.1.5.3 Địa tô 7

1.2 Ý nghĩa của giá trị thặng dư 7

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN CỦA HỌC THUYẾT VÀ VẬN DỤNG TẠI VIỆT NAM 9

2.1 Nghi vấn về học thuyết giá trị thặng dư của Mác 9

2.2 Vận dụng thực tiễn tại Việt Nam 11

KẾT LUẬN 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 6

Recommandé pour toi

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ

1.1 Khái niệm và các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư

1.1.1 Khái niệm

- Tư bản bất biến (kí hiệu: c): là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu

sản xuất mà giá trị không biến đổi trong quá trình sản xuất Tư bản bất biến không tạo

ra giá trị thặng dư nhưng là điều kiện cần thiết để cho quá trình tạo ra giá trị thặng dư được diễn ra

- Tư bản khả biến (kí hiệu: v): dùng để chỉ về một bộ phận tư bản dùng đểmua sức lao động (trả lương, thuê mướn công nhân), đại lượng của nó thay đổi trongquá trình sản xuất và tạo ra giá trị thặng dư

Trong quá trình kinh doanh, nhà tư bản bỏ ra tư bản dưới hình thức tư liệu sảnxuất gọi là tư bản bất biến và bỏ ra tư bản để thuê mướn lao động gọi là tư bản khảbiến Tuy nhiên, người lao động đưa vào hàng hóa một lượng giá trị lớn hơn số tư bảnkhả biến mà nhà tư bản trả cho người lao động Phần dư ra đó gọi là giá trị thặng dư

Số tiền ứng ra ban đầu với mục đích thu được giá trị thặng dư trở thành tư bản Tiềnbiến thành tư bản khi được dùng để mang lại giá trị thặng dư Tư bản là giá trị mang

lại giá trị thặng dư (Kí hiệu: m)

Mục đích trong lưu thông tư bản là giá trị lớn hơn vì nếu không thu được giá trị l

ớn hơn thì sự lưu thông này không có ý nghĩa Do vậy, tư bản vận động theo công thức: T – H - T’ (đây là công thức chung của tư bản) Các hình thái đều vận động theocông thức này Trong đó,

Ví dụ:

Bây giờ chúng ta nghiên cứu một cách ngắn gọn quá trình sản xuất tư bản chủnghĩa trong sự thống nhất của nó như là quá trình lao động và quá trình tăng thêm giátrị qua ví dụ về sản xuất sợi Giả định sản xuất 10 kg sợi cần 10 kg bông, giá 10

kg bông là 10 đôla Để biến số bông đó thành sợi, một công nhân phải lao động trong

6 giờ và hao mòn máy móc là 2 đôla; giá trị sức lao động trong một ngày của ngườicông nhân là 3 đôla; trong một giờ lao động người công nhân đã tạo ra một giá trị là0.5 đôla; cuối cùng, ta giả định rằng trong quá trình sản xuất sợi đã hao phí theo thờigian lao động xã hội cần thiết

Với giả định như vậy, nếu như quá trình lao động kéo dài đến cái điểm mà ở đó

bù đắp được giá trị sức lao động (6 giờ), tức là bằng thời gian lao động cần thiết thìchưa có sản xuất giá trị thặng dư, do đó tiền chưa biến thành tư bản

Trong thực tế quá trình lao động không dừng lại ở điểm đó Giá trị sức lao động

mà nhà tư bản phải trả khi mua và giá trị mà sức lao động có thể tạo ra cho nhà tư bản

1

Suite du document ci-dessous

Trang 7

Chuỗi cung ứng Công ty thực phẩm sữa TH True Milk

Trang 8

là hai đại lượng khác nhau mà nhà tư bản đã tính đến điều đó trước khi mua sức laođộng Nhà tư bản đã trả tiền mua sức lao động trong ngày Vậy việc sử dụng sức laođộng trong ngày đó thuộc về nhà tư bản.

Chẳng hạn, nhà tư bản bắt công nhân lao động trong 1 giờ một ngày thì :

(20 kg sợi)

- Tiền mua bông là 20 đôla

- Hao mòn máy móc là 4 đôla

- Tiền mua sức lao động trong một

1.1.2 Các phương thức sản xuất

Hiện có 2 phương pháp chủ yếu để thu được giá trị thặng dư:

- Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư bằng cách kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không đổi

- Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối: Là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động

2

Trang 9

nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên trong điều kiện ngày lao động, cường độ lao động không đổi.

1.1.3 Nguồn gốc

Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải mua sức lao động và tư liệu sản xuất Vì t

ư liệu sản xuất và sức lao động do nhà tư bản mua, nên trong quá trình sản xuất, ngườ

i công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản và sản phẩm làm ra thuộc sở h

ữu của nhà tư bản

Hàng hoá đó phải là m ột thứ hàng hoá đặc biệt mà giá trị sử dụng của nó có đặctính là ngu ồn g ốc sinh ra giá trị Thứ hàng hoá đó là sức lao động mà nhà tư bản đã t

ìm th ấy trên thị trường Như vậy, sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại tron

g cơ th ể con người, thể lực và trí lực mà người đó đem ra vận dụng trong quá trình sả

n xuất ra một giá trị sử dụng Không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá, màsức lao động ch ỉ biến thành hàng hoá trong những điều kiện lịch sử nhất định C.Mác

đã nhấn mạnh sức lao động chỉ trở thành hàng hoá khi có đủ hai điều kiện tiền đề: Mộ

t là, người lao động phải tự do về thân thể, phải làm chủ được sức lao động của mình

và có quyền đem bán cho người khác Vậy người có sức lao động phải có quyền sở hữ

u sức lao động của mình Hai là, người lao động phải tước hết tư liệu sản xuất để trở thành người vô sản và bắt buộc phải bán sức lao động, vì không còn cách nào khác đểsinh sống Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu dẫn đến chỗ sức lao độngbiến thành hàng hoá là điều kiện chủ yếu quyết định của sự chuyển hoá tiền thành tưbản Cũng như những hàng hoá khác, hàng hoá - sức lao động cũng có hai thuộc tính l

à giá trị và giá trị sử dụng

Hàng hóa sức lao động là loại hàng đặc biệt, giá trị sử dụng có tính năng mà khô

ng hàng hóa thông thường nào có được, đó là trong khi sử dụng nó, không những giá t

rị của nó được bảo tồn mà còn tạo ra được lượng giá trị lớn hơn Người mua hàng hóasức lao động mong muốn thỏa mãn nhu cầu có được giá trị hàng hoá sức lao động lớnhơn Mà giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động được thể hiện trong quá trình sử dụng sức lao động Số tiền chuyển hoá thành tư bản không thể tự làm tăng giá trị mà phải thông qua hàng hoá được mua vào (T-H)

Bằng lao động cụ thể của mình, công nhân sử dụng các tư liệu sản xuất và chuyể

n giá trị của chúng vào sản phẩm; và bằng lao động trừu tượng, công nhân tạo ra giá t

rị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó được gọi là giá trị thặng dư.Giá trị hàng hóa ( ) được sản xuất ra gồm hai phầnW :

c: giá trị những tư liệu sx đã được tiêu dùng, là bộ phận lao động quá khứ đã

được kết tinh trong máy móc, nguyên nhiên vật liệu

(v+m): bộ phận giá trị mới của hàng hoá, do hao phí lao động tạo ra

3

Trang 10

Như vậy, hao phí lao động là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư.

1.1.4 Bản chất của giá trị thặng dư

Giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mang bản chấtkinh tế - xã hội (là quan hệ giai cấp) Trong đó, giai cấp các nhà tư bản làm giàu dựatrên cơ sở thuê mướn lao động của giai cấp công nhân

Mục đích của nhà tư bản trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không chỉdừng lại ở mức có được giá trị thặng dư, mà quan trọng là phải thu được nhiều giá trịthặng dư, do đó cần có thước đo để đo lường giá trị thặng dư về lượng

Để hiểu sâu hơn bản chất của giá trị thặng dư, C.Mác Đã làm rõ hai phạm trù tỷ suất

và khối lượng giá trị thặng dư

Tỷ suất giá trị thặng dư

Để nghiên cứu yếu tố cốt lõi để tạo nên giá trị thặng dư trong quá trình sản xuấtcủa các nhà tư bản thì C.Mác đã chia tư bản ra hai bộ phận : Tư bản bất biến và tư bảnkhả biến

Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo tồn vàchuyển vào sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất được C.Mác gọi là tư bản bất biến và gọi là kí hiệu là c

Còn bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình thức giá trị sức lao động trong quá trìnhsản xuất đã tăng thêm về lượng gọi là tư bản khả biến và kí hiệu là v

Như vậy, ta thấy muốn cho tư bản khả biến hoạt động được thì phải có một tư bả

n bất biến đã được ứng trước với tỉ lệ tương đương Và qua sự phân chia ta rút ra tư b

ản khả biến tạo ra giá trị thặng dư vì nó dùng để mua sức lao động Còn tư bản bất biế

n có vai trò gián tiếp trong việc trong việc tạo ra giá trị thặng dư Từ đây ta có kết luận: "Giá trị của một hàng hoá của một hàng hoá bằng giá trị tư bản bất biến mà nó chứ

a đựng, cộng với giá trị của tư bản khả biến (Tức là giá trị thặng dư đã được sản xuất ra) Nó được biểu diễn bằng công thức : Giá trị = c + v + m

Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bản khảbiến để sản xuất ra giá trị thặng dư đó

Trang 11

Trong đó: là thời gian lao động tạo ra thặng dư

là thời gian lao động cần thiết

Khối lượng giá trị thặng dư

(c) và thuê lao động (v), như vậy, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là k = c + v.

Khi đó, giá trị hàng hóa sẽ biểu hiện ra dưới hình thái khác là W = k + m Sự hìnhthành phạm trù chi phí sản xuất cùng với việc giá cả sức lao động biểu hiện ra dướihình thái chuyển hóa là tiền công, là nguyên nhân làm cho giá trị thặng dư biểu hiện

ra dưới hình thái chuyển hóa là lợi nhuận (p) Khi xuất hiện phạm trù lợi nhuận thì giá

trị hàng hóa sẽ biểu hiện thành W = k + p

C.Mác nêu ra định nghĩa lợi nhuận: “Giá trị thặng dư, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận”

Lợi nhuận của tư bản thương nghiệp: Sự hình thành lợi nhuận thương nghiệp do chênh lệch giữa giá bán với giá mua hàng hoá của tư bản thương nghiệp Lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được tạo ra trong sản xuất do nhà tư bản công nghiệp “nhường” cho nhà tư bản thương nghiệp

Z: tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức và số tư bản tiền tệ cho vay trong mộtthời gian nhất định Giới hạn vận động của z’: 0<z’< p’

P: tỷ xuất lợi nhuận bình quân

5

Trang 12

Tư bản cho vay:

Là một khái niệm của kinh tế chính trị Mác - Lenin và là tư bản tiền tệ tạm thờinhàn rỗi mà người chủ của nó cho nhà tư bản khác sử dụng trong thời gian nhất định

để nhận được số tiền lời nào đó (gọi là lợi tức) Tư bản cho vay là một hình thức tưbản xuất hiện từ trước chủ nghĩa tư bản Điều kiện tồn tại của tư bản cho vay là sảnphẩm trở thành hàng hóa và tiền tệ đã phát triển các chức năng của mình Trước chủnghĩa tư bản, hình thức đặc trưng của tư bản cho vay là tư bản cho vay nặng lãi (chovay với lãi suất cắt cổ, lãi mẹ đẻ lãi con)

Và khi sử dụng thì giá trị của nó không mất đi mà còn tăng lên giá cả của nó không

do giá trị mà do giá trị sử dụng của tư bản cho vay, do khả năng tạo ra lợi tức của nóquyết định Lợi tức chính là giá cả của hàng hóa tư bản cho vay

- Tư bản cho vay là tư bản được "sùng bái" nhất và cũng được che giấu kín đáonhất: Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa vận động theo công thức T – T’ (T’= T+Δt).Nhưng công thức của sự vận động của tư bản cho vay này chỉ biểu hiện mối quan hệgiữa nhà tư bản cho vay và nhà tư bản đi vay, gây ấn tượng bởi hình thức tiền đẻ ratiền Ta có thể thấy, quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa được che giấu một cách kín đáonhất, tư bản cho vay trở nên thần bí và được sùng bái nhất

- Tư bản cho vay không thể tách rời sự vận động của tư bản công nghiệp: sựhình thành tư bản cho vay là kết quả của sự phát triển quan hệ hàng hóa - tiền tệ đếnmột trình độ nhất định làm xuất hiện một quan hệ là: có nơi tiền tệ tạm thời nhàn rỗi,

có nơi lại thiếu tiền để hoạt động

- Tư bản cho vay ra đời góp phần vào việc tích tụ, tập trung tư bản, mở rộng sảnxuất, cải tiến kỹ thuật, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển của tư bản Do đó nó góp phầnlàm tăng thêm tổng giá trị thặng dư trong xã hội

Hình thức vận động của tư bản cho vay:

Tín dụng là hình thức vận động của tư bản cho vay, phản ánh quan hệ kinh tếgiữ chủ thể sở hữu và chủ thể sử dụng tư bản cho vay dựa trên các nguyên tắc hoàntrả, có kì hạn và có lợi tức Và có 2 hình thức vận động chính:

6

Ngày đăng: 24/05/2023, 09:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w