1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TiU luân cuối kỳ  môn tư tưởng hồ chí minh đề tài tư tưởng hồ chí minh về độc lập dân tộc

27 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Độc Lập Dân Tộc
Tác giả Trương Thị Hồng Diễm, Lưu Mỹ Hoa, Nguyễn Bửu Diệu Ngọc, Mai Văn Toàn, Nguyễn Trần Huỳnh Vy
Người hướng dẫn Thầy Huỳnh Quốc Thịnh
Trường học Học Viện Hàng Không Việt Nam
Chuyên ngành Tư tưởng Hồ Chí Minh
Thể loại Tiểu luận cuối kỳ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 3,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về các vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam đồng thời nó vừa là sự kết tinh giữa tinh hoa v

Trang 1

HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT NAM

3 Nguyễn Bùi Diệu Ngọc – 2051010094

4 Mai Văn Toàn – 2051010090

5 Nguyễn Trần Huỳnh Vy – 2051010076

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng năm 2022

Trang 2

HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT NAM

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC

Giảng viên hướng dẫn: thầy Huỳnh Quốc Thịnh

Mã lớp học phần: 010100001607

Nhóm sinh viên thực hiện:

1 Trương Thị Hồng Diễm – 2051010086

2 Lưu Mỹ Hoa – 2051010079

3 Nguyễn Bùi Diệu Ngọc – 2051010094

4 Mai Văn Toàn – 2051010090

5 Nguyễn Trần Huỳnh Vy – 2051010076

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng năm 2022

Trang 4

MỤC LỤC

1 PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 1

2.1 Mục đích 1

2.2 Nhiệm vụ 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 2

4.1 Cơ sở lý luận 2

4.2 Một số phương pháp cụ thể 2

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 3

5.1 Ý nghĩa lý luận 3

5.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

2 PHẦN NỘI DUNG 5

Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC 5

1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc 5

1.1 Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 5

1.2 Thực tiễn Thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 5

1.3 Chủ nghĩa Mác – Lênin về quyền tự quyết của các dân tộc 6

2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc 7

2.1 Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc 7

2.2 Độc lập dân tộc phải gắn liền tự do, cơm no, áo ấm và hạnh phúc của nhân dân 8

2.3 Độc lập dân tộc phải là nền độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để 8

2.4 Độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ 9

3 Về cách mạng giải phóng dân tộc 9

3.1 Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản 9

Trang 5

3.2 Cách mạng giải phóng dân tộc, trong điều kiện của Việt Nam, muốn thắng

lợi phải do Đảng cộng sản lãnh đạo 11

3.3 Cách mạng giải phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy liên minh công - nông làm nền tảng 12

3.4 Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo, có khả năng dành thắng lợi trước cách mạng vô sản chính quốc 12

3.5 Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng phương pháp bạo lực cách mạng 13

Chương 2 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀO TRONG ĐỜI SỐNG 14

1 Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc 14

1.1 Giá trị lý luận 15

1.2 Giá trị thực tiễn 15

2 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam 15

2.1 Vấn đề biển đảo của Việt Nam hiện nay 15

2.2 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào bảo vệ chủ quyền biển đảo 16

3 Liên hệ sinh viên 19

3 PHẦN KẾT LUẬN 20

4 TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 6

1 PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về các vấn đề

cơ bản của Cách mạng Việt Nam đồng thời nó vừa là sự kết tinh giữa tinh hoa văn hóa dân tộc và trí tuệ thời đại, vừa thể hiện được tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Người trong việc vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng thuộc địa Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc chiếm một

vị trí lớn trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh Từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng vào thực tiễn cách mạng nước ta để giải quyết vấn đề về dân tộc, giải phóng đất nước ra khỏi ách thống trị của bọn đế quốc thực dân và thực hiện đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta trong thời gian qua Hiện nay, việc tiếp tục hoàn thiện và nâng cao nhận thức về độc lập dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là rất cần thiết.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Việc học tập môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sinh viên Việt Nam rất quan trọng và cần thiết trong mục tiêu đào tạo và trong hệ thống chương trình toàn khóa Với đề tài này, sinh viên sẽ được trang bị những kiến thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, làm rõ được thực chất, nội dung và động lực của vấn đề độc lập dân tộc, nêu lên mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp; từ đó góp phần hình thành nhân sinh quan, thế giới quan cho sinh viên.

Về kỹ năng , qua nghiên cứu, học tập môn học này, sinh viên có được tư duy và kỹ năng phân tích lý luận - thực tiễn về các vấn đề đặt ra trong cuộc sống một cách đúng đắn.

Về tinh thần, thái độ , môn học này giúp cho sinh viên thấy rõ hơn công lao vĩ đại của

Hồ Chí Minh, thêm tin tưởng vào chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp thêm sức mạnh cho sinh viên về ý chí và hành động phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của cách mạng Việt Nam.

Trang 7

2.2 Nhiệm vụ

Qua nghiên cứu về Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, sinh viên có trách nhiệm vận dụng tốt hơn những kiến thức và kỹ năng đã nghiên cứu, học tập vào việc xây dựng phương pháp học tập, tu dưỡng, rèn luyện phù hợp với điều kiện cụ thể của từng người, từng địa bàn; trau dồi kiến thức, hoàn thiện nhân cách để ngày càng cao đẹp hơn, trở thành những chiến sĩ tiên phong trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, góp phần làm cho đất nước ngày càng phát triển, to đẹp hơn như khát vọng của Hồ Chí Minh và của mỗi người Việt Nam yêu nước.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập.

Phạm vi nghiên cứu: Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp và

đế quốc Mỹ.

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Giá trị lâu bền nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là ở phương pháp luận, ở bản chất vấn

đề mà Người nêu lên Phương pháp luận Hồ Chí Minh nằm trong phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lênin, được hình thành và phát triển qua các quá trình hoạt động cách mạng của Người Phương pháp luận đó chỉ đạo các phương pháp suy nghĩ và hành động trong điều kiện và hoàn cảnh

cụ thể của Hồ Chí Minh sống và hoạt động cách mạng nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp và cuối cùng đi đến giải phóng con người.

4.2 Một số phương pháp cụ thể

Có thể nêu một số phương pháp chủ yếu thường được sử dụng để nghiên cứu Tư tưởng

Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc.

Phương pháp logic: phương pháp này nghiên cứu một cách tổng quát nhằm tìm được

bản chất vốn có của sự vật, hiện tượng và khái quát thành lý luận Muôn vàn sự kiện,

sự vật và hiện tượng đều có mối dây liên hệ bản chất, vì thế giữa chúng có logic tất yếu, cần nhận biết rõ.

Trang 8

: phương pháp này nghiên cứu sự vật và hiện tượng theo trình tự

Phương pháp lịch sử

thời gian, quá trình diễn biến đi từ phát sinh, phát triển đến hệ quả của nó Ở đây, phương pháp nghiên cứu lịch sử tư tưởng là cách vận dụng sát hợp với nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh.

Phương pháp liên ngành: Hồ Chí Minh thể hiện tư tưởng của mình thông qua nhiều

lĩnh vực như tư tưởng chính trị, tư tưởng triết học, tư tưởng kinh tế, tư tưởng quân sự,

tư tưởng văn hóa… Vì vậy, trong nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, các phương liên ngành cần được sử dụng để nghiên cứu, học tập toàn bộ hệ thống tư tưởng

Hồ Chí Minh cũng như mỗi tác phẩm lý luận riêng biệt của Người.

Ngoài các phương pháp nêu trên, cần thiết phải sử dụng cả các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh điều tra xã hội học Những phương pháp nghiên cứu, học tập

cụ thể được sử dụng cần xuất phát từ yêu cầu nghiên cứu, học tập nội dung cụ thể của

tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cần kết hợp nghiên cứu, học tập các tác phẩm với thực tiễn chỉ đạo cách mạng của Hồ Chí Minh Thực tiễn chỉ đạo của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam là một bộ phận cực kỳ quan trọng làm nên hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc của tư tưởng

Hồ Chí Minh Có nhiều nội dung phản ánh tư tưởng Hồ Chí Minh không ở trong văn bản mà là ở trong chỉ đạo thực tiễn của chính bản thân Hồ Chí Minh; đồng thời phản ánh qua hoạt động của các đồng chí, qua học trò của Người Tư tưởng của Hồ Chí Minh không những có vai trò quan trọng ở thời kỳ Hồ Chí Minh sống, mà kể cả khi Người đã qua đời, tư tưởng đó còn có vai trò soi sáng cho con đường đi đến mục tiêu của cách mạng Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh không những có trong hành trang của dân tộc Việt Nam thế kỷ XX mà còn đi với dân tộc Việt Nam ở thế kỷ XXI và các thế kỷ tiếp theo; góp phần thúc đẩy sự phát triển tiến bộ, văn minh của nhân loại trong những thời kỳ trước đây và cả trong tương lai.

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

5.1 Ý nghĩa lý luận

Góp phần nâng cao năng lực tư duy lý luận

Trang 9

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc là những lý luận và thực tiễn hành động cho người Việt Nam yêu nước Sinh viên sẽ củng cố cho bản thân mình về lập trường, quan điểm về độc lập dân tộc trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tích cực, chủ động đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái; biết vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào giải quyết vấn đề đặt ra trong cuộc sống Năng lực tư duy lý luận của con người là điều rất cần thiết giúp con người giải quyết được nhiều yêu cầu do cuộc sống đặt ra Năng lực đó được hình thành và phát triển từ nhiều nguồn, trải qua nhiều giai đoạn của cuộc sống, nó gắn với tuổi trẻ của con người Hơn nữa, tri thức và kỹ năng của sinh viên hình thành và phát triển qua nghiên cứu học tập môn học này là những yếu tố bồi đắp năng lực lý luận để chỉ dẫn hành động rất quan trọng để trở thành một công dân có ích cho xã hội Việt Nam trong quá trình thực hiện mục tiêu xây dựng một

xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng và rèn luyện bản lĩnh chính trị.

Qua đề tài Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, sinh viên sẽ biết được quan điểm và tư tưởng của Người, học tập gương sáng của một con người suốt đời phục vụ

Tổ quốc, phục vụ nhân dân, lãnh tụ của Đảng, người con vĩ đại của dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ kiên cường đấu tranh vì độc lập, hòa bình, hữu nghị, hợp tác, tiến bộ giữa các dân tộc trên thế giới Từ đó, sinh viên sẽ có điều kiện tốt trau dồi phẩm chất đạo đức mới, đạo đức cách mạng để lập thân, lập nghiệp, sống có ích cho xã hội, yêu và làm những điều thiện, ghét cái xấu, cái ác; nâng cao lòng tự hào về đất nước Việt Nam,

về chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, về Hồ Chí Minh, về Đảng Cộng sản Việt Nam Thông qua việc nghiên cứu, học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, sinh viên sẽ nâng cao bản lĩnh chính trị, kiên định ý thức và trách nhiệm công dân của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện bản thân mình theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, đóng góp thiết thực và hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng của đất nước, vững bước trên con đường cách mạng mà Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.

Trang 10

2 PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC

1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc

1.1 Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Sau khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, chúng bắt tay vào khai thác thuộc địa một cách mạnh mẽ và từng bước biến nước ta trở thành một nước nửa thuộc địa nửa phong kiến Từ giữa thế kỷ XIX (1858), Việt Nam từ một quốc gia phong kiến độc lập đã bị chủ nghĩa tư bản Pháp xâm lược, các phong trao đấu tranh yêu nước chống Pháp liên tục nổ ra, nhưng cuối cùng đều thất bại và trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Đầu thế kỷ XX, khi xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi và chịu ảnh hưởng nhiều

từ các cuộc vận động cải cách, phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản xuất hiện Thế nhưng, những kinh nghiệm lịch sử chống ngoại xâm không phát huy được tác dụng trước một kẻ thù mới – chủ nghĩa đế quốc Do các giai cấp tư sản Việt Nam còn non yếu, các tố chức và người lãnh đạo phong trào chưa có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn nên đều thất bại Chính vì vậy, thực tiễn đặt ra vấn

đề để có được độc lập dân tộc, nhân dân ta phải đấu tranh bằng con đường nào Trong bối cảnh đó, sự ra đời của giai cấp công nhân và phong trao đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam đã làm cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở nước ta xuất hiện dấu hiệu mới của một thời đại mới sắp ra đời Công nhân Việt Nam chịu sự áp bức, bóc lột từ thực dân, tư bản, phong kiến nên họ sớm đã vùng dậy đấu tranh từ việc đốt lán trại, bỏ trốn tập thể đến đình công, bãi công Đây là điều kiện thuận lợi để chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào nước ta Chính Hồ Chí Minh đã khổ công truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, đánh dấu bước hình thành cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc

ở nước ta.

1.2 Thực tiễn Thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển từ giai đoạn

tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Chỉ chín nước đế quốc đã chi phối toàn bộ tình hình thế giới Phần lớn các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh đã

Trang 11

trở thành thuộc địa hoặc phụ thuộc của chúng Nhân dân các nước thuộc địa bị chủ nghĩa thực dân tước hết những giá trị văn hoá, tinh thần, quyền lợi kinh tế và địa vị xã hội… Mạng sống của người dân thuộc địa “không đáng một trinh” Cùng với mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản - mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh một mâu thuẫn mới - mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân Mâu thuẫn này ngày càng gay gắt Vì vậy, từ đầu thế kỷ XX phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa ngày càng phát triển, nhưng chưa

ở đâu giành được thắng lợi.

Trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc, Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác - Lênin Sự xuất hiện chủ nghĩa Lênin là một nhân tố đặc biệt quan trọng đối với việc ra đời và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chủ nghĩa đế quốc và sự tranh chấp thuộc địa giữa chúng là nguyên nhân gây ra cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) Cuộc chiến tranh hao người tốn của ấy

đã khơi sâu, làm gay gắt thêm mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa, làm cho chủ nghĩa tư bản thế giới suy yếu, tạo điều kiện cho Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga giành được thắng lợi Cách mạng Tháng Mười thắng lợi, mở ra thời đại mới của lịch sử loài người - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Đồng thời, Nhà nước Xô-viết ra đời làm nảy sinh một mâu thuẫn mới mang tính thời đại - mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản Những nhân tố quốc tế nêu trên đã tạo những tiền đề và điều kiện cơ bản thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam phát triển với xu hướng và tính chất mới.

1.3 Chủ nghĩa Mác – Lênin về quyền tự quyết của các dân tộc

Lênin ủng hộ việc tách ra thành lập một quốc gia riêng biệt khi dân tộc đó bị áp bức, bóc lột bằng các biện pháp bạo lực Bối cảnh mà Lênin đưa ra vấn đề quyền dân tộc tự quyết là sự áp bức dân tộc đang tràn lan, phổ biến ở cả nước Nga và trên thế giới Bối cảnh khi Lênin đưa ra quyền dân tộc tự quyền hoàn toàn phù hợp với thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền dân tộc tự quyết mà tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc đã được

Trang 12

hình thành Nhờ đó, Hồ Chí Minh đã giải quyết được cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước và người lãnh đạo cách mạng ở Việt Nam lúc bấy giờ.

2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc

2.1 Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc

Khát khao to lớn của dân tộc ta là luôn mong muốn có được một nền độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân Đó cũng chính là giá trị tinh thần thiêng liêng, bất hủ của dân tộc mà chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân cho tinh thần ấy Người nói: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”.

Đầu năm 1919, nhân cơ hội tổng thống Mỹ Uynxơn kêu gọi trao quyền tự quyết cho các dân tộc tại Hội nghị Vécxây, Hồ Chi Minh đã gửi tới Hội nghị bản ‘Yêu sách của nhân dân An Nam’ với hai nội dung chính là đòi quyền bình đẳng về mặt pháp lý và đòi các quyền tự do, dân chủ Tuy không được chấp nhận nhưng điều này cho thấy lần đầu tiên tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng và tự do đã xuất hiện Căn cứ vào quyền tự do, bình đẳng và quyền con người, Hồ Chí Minh khẳng định những giá trị thiêng liêng, bất biến về quyền dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do… Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” Hồ Chí Minh xác định mục tiêu chính trị của Đảng trong Chánh cương vắn tắt của Đảng (1930) như sau:

"a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến.

b) Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trong Tuyên ngôn Độc Lập, thay mặt cho Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã tuyên bố rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

Năm 1946, trong thư gửi Liên hợp quốc, một lần nữa Người khẳng định: “Nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hoà bình Nhưng nhân dân chúng tôi kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc

Trang 13

và độc lập cho đất nước” Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946, Người ra lời hiệu triệu: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” Điều này thể hiện quyết tâm sắc đá, tinh thần cương quyết đấu tranh bảo vệ cho bằng được nền độc lập dân tộc.

Năm 1965, đế quốc Mỹ tăng cường mở rộng chiến tranh ở nước ta, chúng tiền hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và gây chiến tranh phá hoại miền Bắc Trước sự việc

đó, Hồ Chí Minh đã nêu lên một chân lý thời đại “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Với tuyên ngôn ấy, nhân dân ta đã chiến đấu anh dũng và giành thắng lợi vẻ vang, buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris, kết thúc chiến tranh phi nghĩa ở nước ta.

2.2 Độc lập dân tộc phải gắn liền tự do, cơm no, áo ấm và hạnh phúc của nhân dân

Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do của nhân dân Năm 1971, trong khi viện dẫn Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp

“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”, Hồ Chí Minh khẳng định rằng dân tộc Việt Nam đương nhiên cũng phải được tự do và bình đẳng về quyền lợi Người đã xác định rõ mục tiêu đấu tranh của cách mạng là “Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập… dân chúng được tự do Bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo thi hành luật ngày làm 8 giờ” Ngoài ra, độc lập dân tộc cũng phải gắn với cơm no, áo ấm và hạnh phúc của nhân dân Hồ Chí Minh từng bộc bạch rằng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào

ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.” Nên ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám giành được thắng lợi, Hồ Chí Minh yêu cầu:

“Chúng ta phải thực hiên ngay:

Làm cho dân có ăn.

Làm cho dân có mặc.

Làm cho dân có chỗ ở.

Làm cho dân có học hành”.

Ngày đăng: 24/05/2023, 09:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w