Bài luận văn đề tài vai trò của Trung Quốc trong hợp tác kinh tế với ASEAN - môn kinh tế đối ngoại
Trang 1BÀI LUẬN VĂN MÔN: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Đề tài:
VAI TRÒ CỦA TRUNG QUỐC TRONG HỢP
TÁC KINH TẾ VỚI ASEAN
Trang 2Thành phố Hồ Chí Minh
MỞ ĐẦU
Trung Quốc và các nước ASEAN là láng giềng gần gũi của nhau, hai bên cólịch sử giao lưu lâu đời Từ khi ASEAN thành lập tháng 8-1967 đến năm 1991Trung Quốc và ASEAN chính thức thiết lập quan hệ, quan hệ song phương đã trảiqua chặng đường phát triển từ đối lập, hoài nghi đến quan hệ đối tác chiến lượcđối thoại và hợp tác lấy bình đẳng, láng giềng hữu nghị, tin cậy lẫn nhau làm nềntảng
Quan hệ kinh tế, thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc đã lớn mạnh nhanhchóng trong những năm vừa qua, đặc biệt là sau Hiệp định khung về Hợp tác Kinhtế toàn diện ký tháng 11 năm 2002 nhằm thiết lập khu vực mậu dịch tự doASEAN-Trung Quốc (ACFTA), với mục tiêu hiện thực hóa ACFTA vào năm
2010 đối với Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippin, Singapore, Thái Lan vàTrung Quốc, và vào 2015 đối với Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam
Mỗi nước trong khối ASEAN đã có quan hệ mật thiết với Trung Quốc từ nhiềunăm trước và đã có những hợp tác chặt chẽ nhiều mặt về kinh tế như hợp tác vềnông nghiệp, công nghệ thông tin, đầu tư, phát triển nguồn nhân lực… đồng thờibản thân khối ASEAN cũng có mối quan hệ mật thiết với Trung Quốc từ nhữngnăm 90 của thế kỷ trước
Kim ngạch thương mại 2 chiều ASEAN – Trung Quốc ngày càng tăng.ASEAN đã trở thành thị trường cung cấp hàng hóa lớn thứ 4 cho Trung Quốc Vìthế ACFTA được ký giữa ASEAN và Trung Quốc vào tháng 11/2002 là nhằm đếnnăm 2010 sẽ hoàn thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc : tự dohóa đối với 560 mặt hàng nông sản, động vật sống,cá, thịt và thực phẩm xay, sữa,sản phẩm động vật khác, cây trồng, rau quả…
Trang 3Trong gần hai thập kỷ qua, quan hệ ASEAN - Trung Quốc phát triển mạnh cảvề chiều rộng lẫn chiều sâu Sự lo ngại lẫn nhau dần dần nhường chỗ cho sự tincậy lẫn nhau hơn và hai bên trở thành đối tác toàn diện đặc biệt quan trọng củanhau So với các quan hệ của ASEAN với các nước đối tác bên ngoài khác thì hợptác ASEAN - Trung Quốc đã phát triển nhanh hơn cả Sự phát triển như vậy củaquan hệ ASEAN - Trung Quốc không những góp phần vào tăng trưởng và pháttriển của mỗi nước thành viên ASEAN và Trung Quốc mà còn thúc đẩy xu hướnghợp tác khu vực và đóng góp vào sự phát triển, ổn định chung của cả khu vực,tăng cường vai trò và vị thế quốc tế của cả ASEAN lẫn Trung Quốc.
I, VÀI NÉT VỀ NỀN KINH TẾ TRUNG QUỐC
1, Điều kiện tự nhiên
Trung Quốc có diện tích tự nhiên là 9.596.961 km2 , đứng thứ 4 thế giới, sauNga, Canada và Mỹ Với vị trí nằm ở Đông Bắc Á, Trung Quốc có một địa hìnhphong phú và đa dạng gắn liền với một tập đoàn cây trồng và vật nuôi xứ ôn đớivà nhiệt đới Trung Quốc có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp , đứng hàngđầu thế giới về các sản phẩm như lúa mì, gạo, bắp, mía, trà, đậu phộng… Chỉriêng việc đáp ứng được cái ăn cho hơn 1,3 tỷ người đã chứng tỏ tiểm năng về sảnxuất nông nghiệp của Trung Quốc Trung Quốc cũng là nước rất giàu có vềkhoáng sản, thuộc những nước đứng hàng đầu thế giới về quặng sắt, gang, thiếc,chì, kẽm
Với một đường bờ biển dài nổi tiếng bởi những thành phố lớn như ThượngHải, Quảng Châu, Thiên Tân… Trung Quốc có nhiều điều kiện để mở rộng giaothương quốc tế , phát triển du lịch… Năm 2004, thu nhập từ du khách quốc tế củaTrung Quốc đạt 25,7 tỷ
Trang 42 , Điều kiện xã hội
Với dân số 1,3 tỉ người ( năm 2004), chiếm trên 1/5 dân số thế giới, TrungQuốc là nước đông dân nhất thế giới, là thị trường cung cấp sức lao động và tiêuthụ sản phẩm rộng lớn
Cũng như nhiều nước Á Đông khác, người Trung Quốc có truyền thống cần cù,chịu khó và hiếu học Chịu ảnh hưởng trực tiếp của đạo Khổng, người dân TrungQuốc có tính cộng đồng cao, có ý chí quyết tâm vươn lên trong mọi hoàn cảnh vàđặc biệt là họ có đầu óc thương mại Trong nhiều thập kỉ, trước năm 49, TrungQuốc được đánh giá là nhà buôn lớn nhất thế giới Trung Quốc có một lịch sử lâuđời trên 3000 năm Ngay từ thế kỉ 15, Châu Âu đã coi Trung Quốc là nước vănminh nhất thế giới Ngày nay bằng kết quả khảo cổ học, cùng nhiều di tích lịch sửvà những kỳ quan nổi tiếng thế giới như Di Hòa Viên, Thiên An Môn, lăng mộTần Thủy Hoàng, thành cổ Bắc Kinh, Vạn lý trường thành, núi Thái Sơn…,Trung Quốc đúng là một trong các nước trên thế giới có một nền văn minh từ rấtsớm
Do sự di dân trước đây mà ngày nay người Hoa sống ở khắp nơi trên thế giới,chủ yếu họ ra đi từ các tỉnh Quảng Đông , Phúc Kiến , Triều Châu , Hải Nam…Hiện có khoảng hơn 40 triệu người Hoa sống ở nước ngoài, trong đó hơn 50%sống ở các nước Đông Nam Á Đa số họ là những người thành đạt trong kinhdoanh và chiếm lĩnh những ngành chủ chốt ở các nước này Đây chính là động lựckhông nhỏ giúp cho kinh tế Trung Quốc thành công
Do hoàn cảnh lịch sử để lại, Hồng Kông và Đài Loan đã được tách ra nhưnhững quốc gia độc lập, phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa với trình độ tươngđối khá đã trở thành những đối tác quan trọng trong quá trình cải cách kinh tế củaTrung Quốc
Trước năm 1949 Trung Quốc cũng đã bắt đầu phát triển theo hướng tư bản, nay
đi vào kinh tế thị trường họ có nhiều thuận lợi hơn một số nước xã hội chủ nghĩakhác
Trang 53 Những chỉ tiêu kinh tế quan trọng
Năm 1978, Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định cải cách mở cửa, làm thayđổi vận mệnh dân tộc Sau hơn 30 năm phát triển, từ một nền kinh tế với thu nhậpbình quân đầu người dưới 190 USD/năm, Trung Quốc đã vượt qua 4000 USD đểbước vào nhóm nước trung bình khá Mặc dù thành công kinh tế rất đáng trântrọng, song Trung Quốc cũng phải đối mặt với những thách thức không nhỏ, màphương thức tăng trưởng đã làm năng lực sản xuất vượt xa khả năng tiêu dùng củangười dân và khoảng cách giàu nghèo trở nên nghiêm trọng
Sau 1/3 thế kỷ cải cách thể chế, xúc tiến mở cửa, Trung Quốc có sự phát triểnvượt bậc, tạo bước ngoặt lịch sử; làm thay đổi hẳn diện mạo kinh tế-xã hội đấtnước Với tăng trưởng trên 30 năm ở mức bình quân 9,7%/năm (đứng đầu thếgiới), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đã vượt Anh, Pháp, Đức và Nhật Bản đểđứng hàng thứ 2 thế giới (sau Mỹ) Nhờ tăng trưởng hàng năm đạt 4,6% trongnông nghiệp, 11,4% về công nghiệp và dịch vụ 10,8% trong thập niên 1997-2007;
cơ cấu GDP đã chuyển hóa tích cực với mức đóng góp 11,3% từ nông nghiệp; tỷtrọng công nghiệp 48,6% và dịch vụ chiếm 40,1%
Trong nền kinh tế toàn cầu, giá trị công nghiệp Trung Quốc luôn ở nhóm 10nước hàng đầu, chiếm hơn 11,2% của chuỗi giá trị tòan cầu về chế tác và trở thànhcường quốc năng lượng thứ 2 với sản lượng sản xuất hàng năm gần 2,8 tỷ tấn thanđá, 3.466 tỉ kWh điện, 190 triệu tấn dầu thô và hơn 76 tỉ m3 khí đốt Hàng nămTrung Quốc cũng đã làm ra trên 584 triệu tấn thép cán, 500 triệu tấn thép phôi, 1,4
tỉ tấn xi măng, 11, 5 triệu ôtô máy kéo, gần 42 tỉ bộ mạch tổng hợp IT và hàngtrăm triệu thiết bị điện tử khác Cùng với phát triển công nghiệp, hạ tầng giaothông được mở rộng nhanh: chiều dài đường bộ vượt qua 8,58 triệu km, đường sắtđạt 78 nghìn km và đường hàng không trên 2,34 triệu km; Trung Quốc dẫn đầu thếgiới nhiều năm về năng lực bốc xếp hàng hóa đường biển (đạt trên 3,88 tỉtấn/năm) Với dung lượng tổng đài điện thoại trên 510 triệu và lượt người truy cậpInternet vượt qua 210 tỉ/năm, quốc gia này đã đứng ở hàng đầu thế giới cả về quy
Trang 6mô mạng kết nối lẫn tốc độ phát triển IT (Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc2008)
Nhận xét về Trung Quốc, tờ Politique Etrangere ghi nhận, sức mạnh TrungQuốc bắt nguồn từ thành công kinh tế dựa vào tiềm năng rất lớn của thị trường vàđã trở thành cường quốc thương mại thứ 3 thế giới Khi nghiên cứu mô hình TrungQuốc, Kornai Janos (nhà kinh tế học người Hungari) chỉ ra, nếu một quá trình lịchsử thực có thể được dùng như hình mẫu, như tấm gương cho các nước khác noitheo thì Trung Quốc là độc nhất vô nhị Tăng trưởng vũ bão của Trung Quốc đạtđược nhờ vào tỷ lệ đầu tư rất cao và tiêu dùng thấp là một giải pháp khả dĩ, có thểthực hiện được về mặt lịch sử Về Trung Quốc, sau khủng hoảng tài chính châu Á(1997), Edward Steifeld cho rằng, đó là sự xuất hiện hoành tráng của thời đại và
sự vươn lên mới mẻ lạ thường Trong dòng chảy trên một thập niên, Trung Quốcđã đạt những thành tựu để hội nhập hoàn toàn vào trật tự kinh tế và chính trị toàncầu.Việc định hình chính sách xung quanh sứ mệnh phát triển và vị thế của mìnhđã tạo sức chuyển hóa rộng rãi về xã hội, để nhận ra những thách thức chính trị,kinh tế và xã hội mà đất nước sẽ phải đương đầu
Theo số liệu của quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) ngay từ năm 1993 , tổng sản phẩmquốc nội đã đạt 8,6 tỉ nhân dân tệ/ngày , vào loại cao trên thế giới (1 nhân dân tệ =0,12 USD)
Năm 1994 , Trung Quốc đã đứng đầu thế giới về 4 sản phẩm : than (1,2 tỷtấn ) , xi măng (420 triệu tấn) , tivi (33 triệu máy) và vải (21 tỷ mét); Đứng thứ 2thế giới về thép (92,61 triệu tấn) , sau Nhật Bản và về điện (9287,1 tỷ Kwh); Đứngthứ 5 thế giới về dầu thô (146,08 triệu tấn)
Hiện Trung Quốc đã chiếm trên 20% sản lượng thế giới trong các ngành đồđiện gia dụng như : đầu máy video , máy điều hòa , tivi màu…Đối với ngành điệnthoại di động và máy tính cá nhân , Trung Quốc cũng chiếm trên 10% sản lượngthế giới
Về khoa học kỹ thuật, Trung Quốc hiện có một đội ngũ hơn 17 triệu nhà khoahọc kỹ thuật Từ đầu năm 1980 đến nay, đã đưa 80% lực lượng khoa học kỹ thuật
Trang 7vào công cuộc xây dựng kinh tế, chuyển đổi và ứng dụng những kết quả nghiêncứu mới nhất vào sản xuất công – nông nghiệp Bắt đầu từ năm 90, tốc độ tăngtrưởng GDP liên tục tăng
Sự tăng trưởng của Trung Quốc được coi phần lớn là nhờ vào việc ngành sảnxuất được đầu tư và việc các ngành công nghiệp trong nước cũng như các cơ sở hạtầng được mở rộng Điều này khiến mảng xuất khẩu tăng mạnh sau khi TrungQuốc trở thành một trung tâm sản xuất cho các thương hiệu đa quốc gia muốnhưởng lợi từ nhân công giá rẻ và từ việc các tuyến đường bộ, đường sắt được mởrộng Mặc dù kinh tế Trung Quốc chỉ có quy mô bằng 1/3 so với nền kinh tế Mỹ,nhưng Trung Quốc lại là thị trường lớn nhất của nhiều mặt hàng công nghiệp.Năm 2009, Trung Quốc vượt Mỹ để trở thành thị trường ôtô lớn nhất thế giới vàvượt Đức để trở thành nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới Hơn thế nữa, trong năm
2009 nền kinh tế đang nổi Trung Quốc đã trở thành động lực chính giúp cho nềnkinh tế toàn cầu qua khỏi cơn suy thoái Trong khi Mỹ và Liên minh châu Âu(EU) vẫn phải vật lộn để tăng trưởng thời hậu khủng hoảng thì Trung Quốc lại ungdung với mức tăng trưởng hai con số
Trang 8Tốc độ tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc cao gấp 7 lần so với mức tăng của
kinh tế Mỹ trong thập kỷ qua (316% so với 43%)
Năm 2009, khoảng 280 nghìn bằng sáng chế đã được cấp tại Trung Quốc.Trung Quốc đứng thứ 3 trên thế giới về số lượng bằng sáng chế Cùng lúc đóTrung Quốc đang đặt mục tiêu đưa hoạt động nghiên cứu và phát triển lên mứcđóng góp 2,2% GDP vào năm 2015, gấp đôi mức vào năm 2002 Mục tiêu này phùhợp với kế hoạch 5 năm lần thứ 12 của chính phủ Trung Quốc với trọng tâm pháttriển lĩnh vực năng lượng, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, sản xuất thiếtbị, năng lượng thay thế, nguyên liệu và phát triển nhiên liệu thay thế Hiện nay, 7ngành này đóng góp khoảng 3% GDP Trung Quốc, chính phủ Trung Quốc đangđặt mục tiêu 15% vào năm 2020 để tiến lên bậc cao hơn trong chuỗi giá trị
Theo số liệu thống kê sơ bộ do Tổng cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc(NBS) công bố hồi tháng 01/2011, trong năm 2010, đầu tư vào bất động sản củaTrung Quốc tăng 33,2% (đạt 4,8 nghìn tỷ NDT); doanh số bán lẻ cũng tăng 18,4%
Trang 9(đạt 15,4 nghìn tỷ NDT); chỉ số giá tiêu dùng là 3,3%, mặc dù cao hơn so với mụctiêu 3% mà Chính phủ Trung Quốc đặt ra, nhưng vẫn được xem là thành côngtrong bối cảnh giá lương thực tăng đột ngột Trong khi đó, ngành công nghiệp củaTrung Quốc tăng trưởng 15,7%, cao hơn so với 11% trong năm 2009 nhờ cácdoanh nghiệp đã chú trọng hơn đến việc đáp ứng nhu cầu ngày một gia tăng về sảnphẩm nội địa Và nhu cầu nội địa tăng đã đóng góp tới 9,2% cho tăng trưởng GDPcủa Trung Quốc trong năm 2010 Đặc biệt, mức tăng trưởng GDP 10,3% củaTrung Quốc trong năm 2010 là mức tăng trưởng cao nhất kể từ sau cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu, cho thấy tốc độ phục hồi kinh tế vượt bậc của nước này.
II, VÀI NÉT VỀ ASEAN
1, Giới thiệu khái quát về tổ chức ASEAN
ASEAN ( the Association of South East Asian Nation – Hiệp hội các quốc giaĐông Nam Á) được thành lập từ 8/8/1967 và hiện nay bao gồm 11 thành viên.Mục tiêu của ASEAN là biến khu vực này thành một khu vực hòa bình, tự do vàtrung lập Cơ quan cao nhất của ASEAN là Hội nghị thượng đỉnh ( ASEANSummit) Đây là diễn đàn quan trọng nhất của ASEAN, đề ra phương hướng,chính sách chung cho hoạt động của ASEAN và đưa ra quyết định về các vấn đềlớn Dưới đó là Hội nghị Bộ trưởng ASEAN ( ASEAN Ministerial Meeting –AMM), là hội nghị của các Bộ trưởng ngoại giao của các nước thành viên, mỗinăm họp 1 lần Sau Hội nghị thượng đỉnh ASEAN, Hội nghị Bộ trưởng ASEAN là
cơ quan hoạch định chính sách cao nhất, thảo luận và quyết định những vấn đềchính trị khu vực và quốc tế, phát triển xã hội và phương hướng hoạt động củaASEAN
Tiếp theo là Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN, Hội nghị Bộ trưởng cácngành, Hội nghị liên Bộ trưởng, Tổng thư ký ASEAN
Để ASEAN hoạt động, bên cạnh các cơ quan hoạch định chính sách nêu trên,còn có các ủy ban của ASEAN bao gồm: Ủy ban thường trực ASEAN, các ủy ban
Trang 10hợp tác chuyên ngành, các ban thư ký ASEAN, và các cơ chế hợp tác với các nướcthứ ba…
Sự phát triển được coi là “thần kỳ” trong thập niên 1970, 1980 của một số nềnkinh tế thành viên chủ chốt của ASEAN là kết quả của sự nỗ lực của từng quốc giacộng với việc triển khai mô hình tăng trưởng phù hợp với điều kiện trong nước vàquốc tế lúc đó, mà hầu như không có sự đóng góp gì đáng kể của ASEAN với tưcách là khối liên kết hợp tác phát triển khu vực Khi các nước thành viên rơi vàokhủng hoảng, người ta cũng ít nhận thấy vai trò của ASEAN trong việc đối phótình hình, giúp các nước này thoát khỏi khủng hoảng
Sau khủng hoảng, các nước ASEAN đều nhận thấy để tồn tại và phát triển nhưmột tổ chức liên kết thì phải có những thay đổi căn bản để không “lỡ nhịp”, khicuộc chơi toàn cầu và khu vực trở nên rất sôi động và theo một khía cạnh khác thìđang đe dọa chính sự tồn tại của ASEAN Liên kết kinh tế và tự do hoá thể hiệnbằng các cam kết AFTA, AIA, AFAS, ASEAN+1; ASEAN+3, các hiệp định đaphương, song phuơng lấy khu vực ASEAN làm trụ chính là sự thể hiện nhữngsáng kiến và nỗ lực của ASEAN
2, Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của ASEAN
Ngoài 5 nước thành viên sáng lập, năm 1984, sau khi thoát khỏi chế độ thuộcđịa của Anh, Brunei trở thành thành viên thứ 6 của tổ chức này Đến ngày28/7/1995, Việt Nam được kết nạp vào ASEAN và sau đó 2 năm, ngày 24/7/1997,Mianma và Lào đã trở thành thành viên thứ 8 và thứ 9 Sau đó Campuchia vàĐông Timo lần lượt được kết nạp vào ASEAN
Xét về vị trí địa lý, các nước ASEAN đều nằm ở khu vực Đông Nam Á, trừLào, đều tiếp xúc với biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, thuận lợi cho giaothương quốc tế và phát triển du lịch Diện tích các nước ASEAN là 4.604.866 km2,chiếm trên 3% diện tích thế giới Đông Nam Á là một trong những khu vực giàucó tài nguyên thiên nhiên như: dầu mỏ, khí đốt tập trung ở Indonesia, Brunei, Việt
Trang 11Nam; thiếc trữ lượng lớn tập trung ở Malaysia, Thái Lan, Indonesia; đồng có nhiều
ở Philippin; vàng tập trung ở Philippin, Indonesia
Với diện tích đất nông nghiệp chiếm trên 30% tổng diện tích tự nhiên, khí hậunóng ẩm quanh năm, ASEAN là một vùng có nhiều tiềm năng phát triển nôngnghiệp, nhất là cây trồng nhiệt đới như lúa gạo, cao su thiên nhiên, cà phê, tiêu, cọdầu… Thái Lan và Việt Nam là những nước xuất khẩu gạo nhiều nhất trên thếgiới; Indonesia và Việt Nam là 2 trong 4 nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thếgiới… Về lâm nghiệp, các nước ASEAN có tiềm năng lớn về rừng với nhiều loại
gỗ quý, dược liệu và các loài thú quý hiếm Về ngư nghiệp, với vị trí gần biển vàhệ thống sông, ngòi kênh rạch chằng chịt, các nước ASEAN có nhiều tiềm năng vềkhai thác, nuôi trồng thủy sản
Với dân số trên 500 triệu người, chiếm trên 8% dân số thế giới, ASEAN là mộtthị trường cung cấp sức lao động với giá nhân công rẻ và trình độ chuyên môn củangười lao động đang được nâng cao, đặc biệt là của Singapore, Thái Lan,Malaysia Một điểm đáng quý trong nguồn lao động của các nước ASEAN đó làtrẻ, trên 2/3 dân số ở độ tuổi dưới 30, đây là một lợi thế lớn, nhất là trong bối cảnh
ở một số nước phát triển, lực lượng lao động ngày một già hóa mà tiến bộ khoahọc kỹ thuật thì lại phát triển nhanh, mạnh như vũ bão Với tốc độ tăng trưởngtương đối khá, dân đông, ASEAN còn là một thị trường lớn để tiêu thụ sản phẩmvà một địa bàn hấp dẫn đối với đầu tư của nước ngoài
So với nhiều khu vực khác trên thế giới, ASEAN còn là một khu vực tương đối
ổn định về chính trị (tuy gần đây có một số xáo trộn ở Philippin, Indonesia và TháiLan) có một đường lối đối ngoại khá mềm dẻo, các tranh chấp được giải quyết trên
cơ sở thương lượng là chủ yếu
ASEAN có một truyền thống văn hóa lâu đời, với 3 tín ngưỡng cơ bản là: Phậtgiáo, Hồi giáo và Thiên Chúa giáo, càng làm tăng thêm nét đa dạng, phong phútrong tập quán phong cách của người dân ASEAN Cùng với những danh lamthắng cảnh do tạo hóa sinh ra như đảo Bali ở Indonesia, vịnh Hạ Long ở ViệtNam…, các di tích lịch sử nổi tiếng như chùa Vàng chùa Bạc ở Thái Lan, chùa
Trang 12Bogo ở Indonesia, khu ruộng bậc thang 1000 năm ở Philippin, Angcovat ở Campuchia, lăng tẩm Huế ở Việt Nam… ASEAN là nơi rất hấp dẫn
Angcothom-du khách
Tổng khách quốc tế đến và khách từ các nước trong khu vực Asean đến Asean
Nguồn : aseansec.org
3, Các chiến lược phát triển kinh tế của các nước ASEAN
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ra đời trong bối cảnh có nhiềubiến động đang diễn ra trong khu vực và trên thế giới, bao gồm cả những thay đổitừ bên ngoài tác động vào khu vực cũng như những vấn đề nảy sinh từ bên trongmỗi nước
Từ những nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, ngày nay các nước ASEAN đãvươn lên và có vị trí nhất định đối với nền kinh tế thế giới và khu vực, đặc biệt cóthể coi một số nước như Singapore, Thái Lan, Malaysia là những điểm sáng đối
Trang 13với các nước đang phát triển Sở dĩ có được những thành công đó là vì các nướcnày đã sớm lựa chọn những hướng đi thích hợp với điều kiện cụ thể của mình Trước ASEAN, ở Đông Nam Á đã có một vài tổ chức khu vực ra đời và tồn tạiđược một thời gian ngắn hoặc đã manh nha hình thành Trong đó tổ chức tiền thâncủa ASEAN là Hiệp hội Đông Nam Á ( The Association of Southeast Asia- ASA)được thành lập ngày 31/7/1961 gồm Thái Lan, Philippin và Malaysia Nhưng hơnmột năm sau, tổ chức này giải thể do tranh chấp Sabah giữa Philippin và Malaysia,dẫn tới việc cắt quan hệ ngoại giao giữa hai nước Tổ chức khu vực thứ hai ra đờitháng 8 năm 1963 là MAPHILINDO bao gồm Malaysia, Philippin và Indonesia.Mục đích của MAPHILINDO là " khôi phục và tăng cường sự thống nhất lịch sửvà di sản chung của các dân tộc Mã Lai, xích họ lại gần nhau thông qua hợp táckinh tế và văn hoá chặt chẽ" Nhưng do mỗi nước theo đuổi một ý đồ riêng, và saunhững biến cố ở Jakarta, sự thay đổi chính phủ ở Manila đã dẫn tới sự tan rã của tổchức này.
Mặc dù vậy, những nỗ lực theo hướng trên vẫn được xúc tiến và ngày 8/8/1967
Bộ trưởng Ngoại giao các nước Indonesia, Thái Lan, Philippin, Singapore và PhóThủ tướng Malaysia ký tại Bangkok bản Tuyên bố thành lập Hiệp hội các nướcĐông Nam á ( ASEAN ) Bản Tuyên bố đó được coi như là hiến chương củaASEAN Nội dung Tuyên bố thể hiện ba mục tiêu lớn của Hiệp hội là :
- Hợp tác kinh tế và xã hội giữa các quốc gia thành viên với niềm tin tưởng rằng
sự tăng cường kinh tế là nguồn gốc của tiến bộ xã hội và văn hoá
- Hợp tác vì hoà bình và ổn định khu vực bằng việc triệt để tôn trọng công bằng và
ưu tiên luật pháp trong quan hệ giữa các nước trong khu vực và nghiêm chỉnh tuântheo các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc
- Hợp tác với các tổ chức quốc tế và khu vực khác
Trang 14Tuy nhiên mức phát triển kinh tế giữa các nước ASEAN không phải là đồngnhất Trong ASEAN, Indonesia là nước đứng đầu về diện tích và dân số, nhưngthu nhập quốc dân tính theo đầu người chỉ vào khoảng trên 600 đôla Mỹ Trongkhi đó, Singapore và Brunei là hai quốc gia nhỏ nhất về diện tích (Singapore ) vàvề dân số (Brunei ) lại có thu nhập theo đầu người cao nhất trong ASEAN, vàokhoảng 15.000 đô la Mỹ/năm
Ở các nước ASEAN đang diễn ra quá trình chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ theohướng công nghiệp hoá Ngoại trừ Indonesia với công nghiệp chế tạo (không kểcông nghiệp khai thác) chiễm tỷ trọng khoảng 20% GDP, còn ở các nước khác tỷtrọng này xấp xỉ 30% Nhờ chính sách kinh tế " hướng ngoại", nền ngoại thươngASEAN đã phát triển nhanh chóng, tăng gấp đôi trong vòng 10 năm qua, đạt trên
160 tỷ đôla Mỹ vào đầu những năm 1990 ( nay là 339 tỷ đôla Mỹ), nâng tỷ trọngtrong ngoại thương thế giới từ 3,6 % lên 4,7% ASEAN cũng là đối tượng thu hútnhiều vốn đầu tư của thế giới Cuối những năm 80 bình quân hàng năm các nướcASEAN thu hút được 13,5 tỷ đô la Mỹ, so với 4,6 tỷ đô la Mỹ vào đầu những năm
80
Các ngành dịch vụ đang thay thế các ngành gia công truyền thống ở ASEAN vàhiện cũng là nguồn thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chính ở các nước ĐôngNam Á, theo lời ông Surin, cựu bộ trưởng ngoại giao Thái Lan Tuy nhiên, ôngcũng lên tiếng cảnh báo về sự phụ thuộc đối với nợ nước ngoài và khuyến cáo cáckhu vực kinh doanh ở ASEAN khai phá những lĩnh vực mới bên ngoài nền kinh tếcủa mình và ở trong khu vực
Hiện tại, cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu đã ảnh hưởng tiêu cực đến xuấtkhẩu, đầu tư thương mại của các nước trong khu vực Đông Nam Á Được biết,châu Âu vẫn là thị trường xuất khẩu lớn và tiềm năng của các nước ASEAN