Bài luận văn đề tài nhìn lại quá trình gia nhập AFTA ảnh hưởng đến nguồn thu nhập ngân sách và xuất khẩu của Việt Nam - môn kinh tế đối ngoại
Trang 1BÀI LUẬN VĂN MƠN: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
ĐỀ TÀI
NHÌN LẠI QUÁ TRÌNH GIA NHẬP AFTA ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGUỒN THU NGÂN SÁCH
VÀ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 2I/ AFTA và việc gia nhập AFTA của Việt Nam:
1 AFTA( ASEAN FREE TRADE AREA- Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á) :
1.1 Sự thành lập:
Vào đầu những năm 90, khi chiến tranh lạnh kết thúc, những thay đổi trong môi trường chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực đã đặt kinh tế các nước Asean đứng trước những thách thức lớn không dễ vượt qua nếu không có sự liên kết chặt chẽ hơn và những
nỗ lực chung của toàn khối Toàn cầu hóa về kinh tế đặc biệt là thương mại diễn ra vô cùng mạnh mẽ nên phương thức bảo hộ truyền thống của các nước Asean ngày càng trở nên không phù hợp với thực tế nữa Thêm nữa sự hình thành các khối liên kết kinh tế quốc tế như EU, NAFTA có tổ chức khép kín sẽ gây trở ngại cho hàng hóa Asean khi thâm nhập vào thị trường này Những thay đổi về chính sách mở cửa, khuyến khích và dành ưu đãi rộng rãi cho các nhà đầu tư nước ngoài, cùng với những lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực của các nước Trung Quốc, Nga và các nước Đông
Âu đã trỏ thành thị trường dầu tư hấp dẫn hơn Asean , đòi hỏi Asean vừa phải mở rộng
vè thành viên, vừa phải nâng cao tầm hợp tác khu vực
Cho đến Hội nghị thượng đỉnh Asean lần 3(1987) thì vấn đề loại bỏ hàng rào thuế quan để tiến tới xây dựng một khu mậu dịch tự do giữa các nước thành viên Asean mới chính thức ghi vào văn bản trong Tuyên bố Manila 1987
Tháng 1-1992 các nước thành viên Asean ký vào bản Tuyên bố tại Singapore, cam kết tăng cường hợp tác kinh tế trong toàn khu vực Nội dung chính của bản tuyên bố này
là Sự thành lập của Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á trong vòng 15 năm (từ 1993 đến 2005)
Tuy nhiên trước những thay đổi chóng mặt của nền kinh tế thế giới, tại Hội nghị Bộ trưởng kinh tế Asean( AEM) lần thứ 26 tại Chieng Mai(Thái Lan) tháng 9-1994, các nước Asean đã quyết định rút ngắn thời gian xuống còn 10 năm tức là sẽ hoàn thành AFTA vào năm 2003
1.2 Mục tiêu và ảnh hưởng:
Mấu chốt của AFTA là các nước thành viên cam kết sẽ hoàn thành Hiệp định về Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung( CEPT) với nội dung chính là các nước thành viên sẽ cam kết thực hiện giảm thuế quan cho hàng nhập khẩu cảu các nước thành viên xuống còn 0-5% trong vòng 15 năm( sau còn 13 năm) bắt đầu từ 1-1-1993 với điều
Trang 3kiện hành hóa phải có ít nhất 40% giá trị được tạo ra trong phạm vi Asean,( tỉ lệ này về sau giảm xuống còn 20%- 10%) đồng thời cam kết sẽ dần bãi bỏ hàng rào phi thuế quan, trước tiên là các hạn chế số lượng sau đó sẽ bãi bỏ các hàng rào phi thuế quan khác
Thực hiện CEPT nhằm đạt được các mục tiêu:
Tựu do hóa thương mại trong khu vực bằng việc loại bỏ các hàng rào thuế quan trong nội bộ khu vực và cuối cùng là các hàng rào phi thuế quan Điều này sẽ khiến cho các doanh nghiệp sản xuất tăng cường hiệu quả và khả năng cạnh tranh trên thế giới Đồng thời người tiêu dùng sẽ mua được hàng hóa từ những nhà sản xuất có hiệu quả và chất lượng trong Asean, làm tăng lượng giao dịch thương mại trong khối
Tạo điều kiện thuận lợi thu hút vốn đầu tư trong nội bộ khối và từ các nước bên ngoài
Làm cho Asean thích nghi với với những điều kiện kinh tế quốc tế đang thay đổi đặc biệt là với sự phát triển của các thỏa thuận thương mại khu vực trên thế giới
2 Việt Nam gia nhập AFTA:
Sau khi gia nhập Asean tháng 7- 1995, thủ tướng Võ Văn Kiệt thành lập ngay nhóm Công tác chuẩn bị cho Việt Nam gia nhập Khu vực mậu dịch tự do Asean ( AFTA) Theo đó tại hội nghị của Hội đồng AFTA vào ngày 10-12-1995,Việt Nam đã thông báo lộ trình giảm thuế quan giai đoạn 1996-2006 cho tổng số 3211 danh mục hàng mục hàng hóa, trong đó có tới 50% tổng số mặt hàng phù hợp với mức thuế quan do biểu thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung CEPT đề ra Sau đó do chuyển sang danh mục HS 6 chữ số, nên tổng số dong thuế của Việt Nam tham gia CEPT là 6.377, trong đó có 51 dòng thuộc danh mục nhạy cảm ( Sensitive List – SL) và 196 dòng thuộc danh mục loại trừ hoàn toàn ( General Exclusion List –GEL) còn tất cả loại hàng hóa còn lại đều nằm trong danh mục giảm thuế ngay, giảm thuế thông thường và danh mục loại trừ tạm thời
3 Những thuận lợi và khó khăn đối với Việt Nam khi tham gia AFTA:
3.1.1 Những thuận lợi trong tiến trình thực hiện CEPT/AFTA:
Khi gia nhập AFTA , hàng hoá của Việt nam sẽ được hưởng thúê suất ưu đãi thấp hơn cả thuế suất tối huệ quốc mà các nước ASEAN dành cho các nước thành viên WTO,
Trang 4từ đó có điều kiện thuận lợi hơn để hàng hoá Việt nam có thể thâm nhập thị trường của tất cả các nước thành viên ASEAN
Bên cạnh những thuận lợi thu được từ hoạt động thương mại trong nội bộ khối , khi gia nhập AFTA, VN sẽ có thế hơn trong đàm phán thương mại song phương và đa biên với các cường quốc kinh tế, cũng như các tổ chức thương mại quốc tế lớn như Mỹ, nhật,
EU hay WTO
Tuy có những trùng lặp giữa VN và các nước ASEAN, nhưng có nhiều lĩnh vực mà
VN có thể khai thác từ thị trường các nước ASEAN như VN có thế mạnh trong xuất khẩu nông sản, hàng dệt và may mặc, và ta cũng có nhu cầu nhập nhiều mặt hàng từ các nước ASEAN với giá thấp hơn từ các khu vực khác trên thế giới
Một mặt Doanh nghiệp được lợi do tăng được khả năng cạnh tranh so với các nước ngoài ASEAN về giá cả, mặt khác người tiêu dùng được hưởng lợi do giá cả rẻ hơn và chủng loại hàng hoá phong phú hơn
Thu hút vốn đầu tư, tiếp thu công nghệ, tận dụng nhân công, sử dụng vốn và kỹ thuật cao trong khu vực
4 Những khó khăn mà Việt Nam phải đối mặt khi thực hiện CEPT/AFTA:
Lợi ích trực tiếp của nhà nước là nguồn thu ngân sách về thuế xuất nhập khẩu giảm Việc tham gia dẫn tới sự xoá bỏ các hàng rào thuế quan và phi quan thuế, nghĩa là xoá bỏ sự bảo hộ của chính phủ đối với các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải tham gia thật sự vào cuộc chới cạnh tranh khốc liệt trên thị trường khu vực : cạnh tranh thúc đẩy sản cuất phát triển, nhưng đồng thời có thể làm điêu đứng và phá sản hàng loạt các doanh nghiệp, thậm chí hàng loạt ngành Dẫn tới việc thay đổi cơ cấu kinh tế Đây là vấn đề nan giải đối với các doanh nghiệp Việt nam
Tóm lại gia nhập AFTA là bước tập duyệt đầu tiên cho nền kinh tế và các doanh nghiệp VN để chuẩn bị cho sự gia nhập thị trường thế giới rộng lớn và đầy sự cạnh tranh hơn
II/ Những ảnh hưởng của việc tham gia vào khu vực mậu dịch tự do AFTA tới nền kinh tế Việt Nam:
1 Tác động tới thương mại:
1.1 Xuất nhập khẩu:
Trang 5Áp dụng các qui định về giảm thuế quan của CEPT nên hàng hóa từ các nước Asean có thể dễ dàng xâm nhập vào thị trường vào Việt Nam và ngược lại hàng hóa từ Việt Nam lại nhận được những thuế suất ưu đãi mà các nước thành viên dành cho mình Hàng hóa ngày càng dễ lưu chuyển và loại hàng hóa ngày càng đa dạng phong phú hơn vì thế thị trường xuất nhập khẩu ngày càng nhộn nhịp hơn
Trong những năm qua quan hệ thương mại hàng hóa song phương giữa Việt Nam
và các nước thành viên ASEAN ngày càng phát triển Theo số liệu Thống kê Hải quan Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy các thành viên ASEAN tính chung luôn là đối tác thương mại hàng hóa lớn nhất của Việt Nam với trị giá hàng hóa buôn bán hai chiều đạt mức tăng trưởng 25,9%/năm trong giai đoạn 2005-2008 và 13,3%/năm giai đoạn 2005-2009( khủng hoảng kinh tế dẫn đến giao thương giảm sút) Về thứ hạng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam so với các khu vực thị trường khác thì ASEAN là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn thứ 3 của các doanh nghiệp Việt Nam, chỉ sau thị trường Hoa Kỳ và thị trường các nước thành viên Liên minh châu Âu-EU Còn ở chiều ngược lại, ASEAN là đối tác thương mại cung cấp nguồn hàng hoá lớn thứ 2 cho các doanh nghiệp Việt Nam, chỉ đứng sau Trung Quốc
Tỷ trọng và thứ hạng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Việt Nam- ASEAN trong năm 2008
Tính toán trên nguồn số liệu của Hải quan Việt Nam
Thứ hạng trong tổng số tất cả các khu vực thị trường xuất nhập khẩu
Tỷ trọng so với tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam (%) 20,8 16,3 24,2
Tính toán trên nguồn số liệu của Ban Thư ký ASEAN
Thứ hạng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trong ASEAN 5 6 5
Tỷ trọng so với tổng kim ngạch xuất khẩu của ASEAN (%) 8,3 7,0 9,6
(Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam và Ban Thư ký ASEAN.)
Và bảng số liệu dưới đây là tình hình xuất nhập khẩu hai chiều giữa Việt Nam và Asean từ 2003 đến 2009, cho thấy lượng giao dịch thương mại giữa hai bên tăng trưởng mạnh hàng năm
Trang 6Xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các nước Asean từ 2003 đến 2009 1
:
Xuất
khẩu 2.945,84 3.874,62 5.450,10 6.358,18 7.813,20 10.194,81 8.592 Nhập
khẩu 5.938,83 7.766,21 9.414,00 12.480,00 15.814,00 19.570,86 13.813 Nhập
siêu 2.992,99 3.891,58 3.963,90 6.121,82 8.000,80 9.376.05 5.221
Thống kê kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại hàng hóa giữa Việt
Nam - ASEAN giai đoạn 2005- 2009
Xuất khẩu (triệu USD) Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang các nước ASEAN 5.451 6.362 7.819 10.199 8.592 Tốc độ tăng/giảm xuất khẩu sang các nước ASEAN (%) 16,7 22,9 30,4 -15,8 Tốc độ tăng/giảm xuất khẩu của cả nước (%) 22,8 21,9 29,1 -8,9
Nhập khẩu (triệu USD) Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ các nước ASEAN 9.457 12.545 15.890 19.567 13.813 Tốc độ tăng/giảm nhập khẩu từ các nước ASEAN (%) 32,7 26,7 23,1 -29,4 Tốc độ tăng/giảm nhập khẩu của cả nước (%) 21,4 39,6 28,8 -13,3 Cán cân thương mại hàng hóa với các nước ASEAN
( X-NK)
-4.006 -6.183 -8.071 -9.368 -5.221
Cán cân thương mại hàng hóa với tất cả các nước trên
thế giới (X-NK) -4.540 -5.065 -14.121 -18.029 -12.853
(Nguồn: Tổng cục Hải quan.)
Mặc dù trị giá hàng hoá trao đổi giữa Việt Nam với các nước ASAEN trong nhiều năm gần đây đều tăng so với năm trước (trừ năm 2009) nhưng vẫn thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân Do đó, tỷ trọng giao thương của Việt Nam với khu vực này so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước với thế
1 Báo cáo Thành tựu kinh tế và thách thức đối với VN trong cộng đồng Asean
Trang 7giới lại có xu hướng giảm Tuy nhiên đến 2010 thì lại có nhiều tín hiệu lạc quan hơn cho quan hệ kinh tế thương mại, trị giá trao đổi hàng hoá với khu vực này của Việt Nam trong quý I/2010 có tốc độ tăng cao hơn hẳn so với tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước, đặc biệt là xuất khẩu
Điểm đáng lưu ý trong quan hệ thương mại nội vùng giữa Việt Nam với các nước thành viên ASEAN là: năng lực sản xuất hàng xuất khẩu của Việt Nam chưa bằng các đối thủ cạnh tranh thể hiện ở hàm lượng giá trị sản xuất gia tăng trong hàng hóa nhập khẩu từ các nước ASEAN cao hơn hẳn so với hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang khu vực thị trường này Cụ thể:
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường ASEAN chưa bền vững, chủ lực chỉ có dầu thô và gạo, đây là 2 mặt hàng có nhiều biến động về
giá nên kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực này chịu ảnh hưởng lớn của giá dầu thô và gạo trên thị trường thế giới Tổng trị giá xuất khẩu hai nhóm hàng trên sang thị trường ASEAN chiếm khoảng trên 42% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực thị trường này Do lợi thế về vận tải và nhu cầu gạo phẩm cấp thấp phù hợp với sản xuất của Việt Nam nên thị trường ASEAN vẫn là thị trường quan trọng trong việc xuất khẩu gạo Việt Nam
Trong khi đó, nhiều sản phẩm xuất khẩu là thế mạnh của các doanh nghiệp Việt Nam như hàng dệt may, giày dép và thủy sản hiện mới chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường các nước ASEAN mà nguyên nhân chủ yếu là do một số nước thành viên lớn của ASEAN cũng có lợi thế sản xuất, xuất khẩu các mặt hàng tương tự này nên hàng của Việt Nam khó thâm nhập vào
Đối với mặt hàng rau quả, đặc biệt là rau quả tươi thì thì trường Malaysia và Singapore có nhu cầu tương đối lớn nhưng về phía Việt nam vẫn chưa chú trọng lắm đến mặt hàng này đặc biệt là trong khâu vận chuyển, bảo quản, quảng bá, tiếp thị, xúc tiến thương mại
Thống kê kim ngạch, tỷ trọng xuất khẩu một số nhóm mặt hàng chính của
Việt Nam sang khu vực thị trường ASEAN năm 2009
Trang 8Stt Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu Trị giá
(triệu USD)
Tỷ trọng (%) Trong tổng
kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN
Trong tổng kim ngạch mặt hàng xuất khẩu đó của Việt Nam
3 Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện 649 7,6 23,5
4 Máy móc,thiết bị, dụng cụ & phụ tùng 397 4,6 19,3
(Nguồn: Tổng cục Hải quan)
Trong khi đó, chiếm tỷ trọng trên 70% kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN, chủ yếu
là những mặt hàng nhập khẩu thiết yếu, nguyên phụ liệu đầu vào phục vụ sản xuất trong nước như: xăng dầu các loại; máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng, máy vi tính,
sản phẩm điện tử & linh kiện; chất dẻo nguyên liệu; giấy; sắt thép…
Thống kê kim ngạch, tỷ trọng nhập khẩu một số nhóm hàng chính của Việt
Nam từ khu vực thị trường ASEAN năm 2009
Stt Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu Trị giá (triệu Tỷ trọng (%)
Trang 9USD) kim ngạch nhậpTrong tổng
khẩu từ các nước ASEAN
Trong tổng kim ngạch mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ tất cả các thị trường
2 Máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng 1.207 8,7 9,5
4 Máy vi tính, SP điện tử & linh kiện 804 5,8 20,3
8 Linh kiện ô tô 9 chỗ ngồi trở xuống 427 3,1 51,4
(Nguồn: Tổng cục Hải quan)
Theo lộ trình AFTA, Việt Nam có ba nhóm hàng hóa chính: nhóm nhạy cảm cần bảo hộ, nhóm bình thường và nhóm không cần bảo hộ Với nhóm hàng hóa cần bảo hộ,
Bộ Tài chính thực hiện chính sách nâng thuế nhập khẩu lên sau đó hạ xuống từ từ để các doanh nghiệp trong nước "làm quen" với áp lực cạnh tranh từ các nước trong khu vực Hàng hóa thuộc nhóm bình thường áp dụng lộ trình chung Với nhóm hàng hóa không cần bảo hộ, Việt Nam sẵn sàng mở cửa như gạo, rau quả, chuẩn bị đến năm 2013, thực hiện thuế suất 0% trong cả khu vực Việc cắt giảm thuế hình thành khu vực mậu dịch tự
do, tạo điều kiện thuận lợi cho các nước trong khối ASEAN thâm nhập thị trường lẫn nhau
Nhờ tập trung đầu tư đổi mới thiết bị, ổn định chất lượng sản phẩm và nâng cao năng suất lao động hàng Việt Nam xuất sang thị trường ASEAN chỉ chiếm 14,6% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam (trước đó chiếm 19-20%) nên các nhà doanh nghiệp chỉ
Trang 10chú trọng xuất khẩu sang các thị trường khác như EU, Nga, Mỹ, trong khi đó nhập khẩu vẫn giữ mức một phần tư tổng kim ngạch nhập khẩu
Một số thị trường như Philippines xuất khẩu của Việt Nam tăng mạnh chủ yếu là mặt hàng gạo (chiếm hai phần ba kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam) Thái Lan nhập khẩu nhiều mặt hàng dầu thô, than đá, hàng nông, hải sản của Việt Nam
Nhìn chung khả năng thâm nhập thị trường khu vực của Việt Nam hạn chế chủ yếu
do các doanh nghiệp Việt Nam "quá" quan tâm thị trường lớn như Nhật Bản, Mỹ, EU mà
"quên" thị trường khu vực Trong kim ngạch xuất khẩu của nhiều doanh nghiệp lớn, tỷ lệ xuất sang các nước ASEAN luôn ở mức khiêm tốn Chính vì vậy hàng nhập khẩu của ASEAN từ cuối năm 2004 đến nay vào Việt Nam tăng khá mạnh, chủ yếu là những sản phẩm trong nước chưa sản xuất hoặc chưa đáp ứng đủ nhu cầu như hạt nhựa, phân bón, xăng dầu, nguyên phụ liệu ngành dệt và may, máy móc thiết bị, phụ tùng
Nhận xét:
Việt Nam nhập siêu lớn từ các nước ASEAN: Tuy xuất khẩu vào ASEAN tăng nhưng lại phụ thuộc nhiều vào giá lương thực và dầu mỏ là các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu lớn vào ASEAN và nhiều nước không đưa vào lộ trình cắt giảm, Hiệp định CEPT/AFTA không tác động đến các mặt hàng này
Trong 5 năm từ 2003-2008 xuất khẩu tăng bình quân 28,4% Nhập khẩu từ ASEAN cũng tăng và phụ thuộc vào giá sản phẩm dầu, 5 năm tăng bình quân 27,2% Nếu trừ xuất khẩu lương thực và dầu thô thì xuất khẩu tăng chậm hơn nhập khẩu Điêù đó chứng tỏ sức cạnh tranh về hàng hoá của Việt Nam thấp thua các nước ASEAN Tỷ lệ nhập siêu bình quân là 27%, cao hơn rất nhiều so với mức nhập siêu chung của Việt Nam trên tất cả các thị trường
Việt Nam chưa tận dụng được chế độ ưu đãi về thuế trong ASEAN Tỷ lệ hàng hoá lấy giấy chứng nhận xuất xứ để hưởng chế độ ưu đãi còn thấp Chỉ khoảng 10% kim ngạch xuất khẩu có giấy chứng nhận xuất xứ để hưởng chế độ ưu đãi
1.2 Cán cân thương mại:
Theo như các số liệu đã thống kê trong phần tìm hiểu ở trên, điều dễ dàng nhận thấy là Việt Nam nhập siêu vô cùng lớn từ các nước Asean đồng nghĩa với cán cân thương mại không cân bằng và đang nghiêng về phía các nước Asean và Việt Nam còn phải có nhiều nỗ lực mới có thể lật ngược tình thế để đem lại sự thăng bằng cán cân