BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN NGUYỄN ÁNH NGUYỆT THÔNG ĐIỆP VỀ GIA ĐÌNH TRÊN BA TỜ BÁO PHỤ NỮ VIỆT NAM, PHỤ NỮ THỦ ĐÔ VÀ PHỤ NỮ THÀNH P[.]
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN ÁNH NGUYỆT
THÔNG ĐIỆP VỀ GIA ĐÌNH TRÊN BA TỜ BÁO:
PHỤ NỮ VIỆT NAM, PHỤ NỮ THỦ ĐÔ
VÀ PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(Khảo sát từ tháng 01/2015 đến tháng 01/2017)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI - 2023
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Mai Quỳnh Nam
HÀ NỘI - 2023
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướngdẫn của PGS, TS Mai Quỳnh Nam Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trungthực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn theo đúng quy định Kết quả nghiêncứu không trùng lặp với những công trình đã được công bố trước đây.
Tác giả luận án
Nguyễn Ánh Nguyệt
Trang 4Để hoàn thành luận án tôi may mắn nhận được sự hỗ trợ và ủng hộ từ cácthầy cô giáo, các nhà khoa học, các cán bộ tại cơ sở đào tạo; của các lãnh đạo cáccấp tại cơ quan công tác; nhiều nhà khoa học, đồng nghiệp, đồng môn, anh em bạn
bè, gia đình … Tôi trân trọng biết ơn tất cả Tôi xin đặc biệt cảm ơn đến những cơquan, tổ chức, cá nhân sau đây:
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Học viện Báo chí và Tuyên truyền; ViệnBáo chí, các nhà khoa học, các thầy cô giáo; các lãnh đạo, cán bộ Bộ phận Sau đạihọc và Bồi dưỡng, đã luôn tạo điều kiện, hỗ trợ, động viên, thúc đẩy, truyền thụkiến thức, kinh nghiệm cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiệnLuận án, hoàn thiện các thủ tục hành chính theo quy định
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy hướng dẫn của tôi,PGS.TS Mai Quỳnh Nam, người đã tận tình hướng dẫn, động viên - khích lệ, đặtniềm tin, chia sẻ những khó khăn và đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình nghiêncứu và thực hiện Luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học, những người thầy, người đồngnghiệp, người bạn lớn luôn sẵn lòng hỗ trợ, giúp đỡ, khuyến khích, động viên vàtặng cho tôi tất cả những cuốn sách, tài liệu, công trình quý báu có liên quan khibiết tôi thực hiện luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia;Ban Lãnh đạo Tạp chí Quản lý nhà nước cùng các đồng nghiệp luôn động viên,khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi, chia sẻ khó khăn trong suốt quá trìnhtôi làm việc, học tập và thực hiện luận án
Tôi xin dành tất cả sự yêu thương và lòng biết ơn đến đại gia đình, người thân,anh chị em, bạn bè là động lực mạnh mẽ giúp tôi quyết tâm hoàn thành Luận án
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả Luận án
Trang 5TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 12
1 Hướng nghiên cứu về truyền thông đại chúng 12
2 Hướng nghiên cứu thông điệp truyền thông 22
3 Hướng nghiên cứu thông điệp về gia đình 28
4 Đánh giá tổng quát về các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án và đề ra hướng nghiên cứu cho luận án 37
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU THÔNG ĐIỆP VỀ GIA ĐÌNH TRÊN BÁO CHÍ 41
1.1 Các khái niệm cơ bản 41
1.2 Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 49
1.3 Cơ sở chính trị và pháp lý liên quan đến vai trò của báo chí trong truyền thông về gia đình 55
1.4 Vai trò của thông điệp về gia đình trên báo in 60
1.5 Thông tin cơ bản về mẫu nghiên cứu 63
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG THÔNG ĐIỆP VỀ GIA ĐÌNH TRÊN BA TỜ BÁO: PHỤ NỮ VIỆT NAM, PHỤ NỮ THỦ ĐÔ VÀ PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 66
2.1 Thông điệp về giá trị hôn nhân 66
2.2 Thông điệp về chức năng gia đình 75
2.3 Thông điệp về cấu trúc gia đình 83
2.4 Thông điệp về mối quan hệ trong gia đình 88
2.5 Thông điệp về các yếu tố tác động đến gia đình 92
CHƯƠNG 3 CÁCH THỨC TỔ CHỨC THÔNG ĐIỆP VỀ GIA ĐÌNH TRÊN BA TỜ BÁO: PHỤ NỮ VIỆT NAM, PHỤ NỮ THỦ ĐÔ VÀ PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 112
3.1 Số lượng tin bài 112
3.2 Chuyên mục và vị trí đăng tải 116
3.3 Đối tượng phản ánh, nguồn đăng tải trong bài viết 118
3.4 Thể loại đăng tải 122
3.5 Cách sử dụng tiêu đề thể hiện thông điệp 127
3.6 Ngôn ngữ, hình ảnh thể hiện thông điệp 132
Trang 6NAM, PHỤ NỮ THỦ ĐÔ VÀ PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 139
4.1 Những vấn đề đặt ra với thông điệp về gia đình trên ba tờ báo: Phụ nữ ViệtNam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh 1394.2 Giải pháp phát huy hiệu quả thông điệp về gia đình trên báo in, cụ thể là ba tờbáo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh 1494.3 Bảo đảm các điều kiện nâng cao hiệu quả thông điệp về gia đình trên ba tờ báo:Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh 171
KẾT LUẬN 173 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 3.1 Tương quan giữa báo và tỷ lệ đề cập đến vùng nông thôn – đô thị trong
tin bài phân tích 114
Bảng 3.2 Tương quan giữa báo và tỷ lệ đề cập đến vùng Việt Nam – Nước ngoài trong tin bài phân tích 115
Bảng 3.3 Vị trí tin bài được lựa chọn trong các tờ báo phân tích 117
Bảng 3.4 Tương quan tờ báo và đối tượng phản ánh trong tin bài 120
Bảng 3.5 Tương quan giữa báo và nguồn đăng tải 121
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Giá trị hôn nhân được đề cập trong tin bài (%) 67
Biểu đồ 2.2 Giá trị tinh thần hôn nhân thông qua mối quan hệ vợ - chồng được đề cập (%) 68
Biểu đồ 2.3 Giá trị tinh thần hôn nhân thể hiện qua giá trị con cái được đề cập; n=461 (%) 70
Biểu đồ 2.4 Giá trị vật chất trong hôn nhân được đề cập; n=687 (%) 72
Biểu đồ 2.5 Tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời được đề cập (%) 74
Biểu đồ 2.6 Tỷ lệ tin bài đề cập đến số lượng chức năng gia đình n = 1497 (%) 77
Biểu đồ 2.7 Tương quan báo phân tích và số lượng chức năng gia đình đề cập trong 1 tin bài, n = 1497 (%) 78
Biểu đồ 2.8 Tỷ lệ tin bài đề cập đến chức năng gia đình, n=1072 (%) 79
Biểu đồ 2.9 Tỷ lệ tin bài đề cập đến số lượng thành viên gia đình, n=1497 (%) 84
Biểu đồ 2.10 Tỷ lệ tin bài đề cập đến thành phần gia đình, n=1497 (%) 85
Biểu đồ 2.11 Tỷ lệ tin bài đề cập đến thành phần gia đình hạt nhân kết hôn lần đầu, n=1014 (%) 86
Biểu đồ 2.12 Tỷ lệ tin bài đề cập đến hình thái gia đình, n=1497 (%) 87
Biểu 2.13 Tỷ lệ tin bài đề cập đến các mối quan hệ gia đình, n=1497 (%) 90
Biểu đồ 2.14 Tương quan báo phân tích và số lượng mối quan hệ gia đình đề cập trong 1 tin bài, n=1497 (%) 91
Biểu đồ 2.15 Các yếu tố tác động đến gia đình được đề cập trong tin bài, n=1497, (%) 90
Biểu đồ 2.16 Tương quan báo phân tích và tỷ lệ đề cập đến tác động của giá trị chuẩn mực đến gia đình, n=524, (%) 94
Trang 8Biểu đồ 2.18 Tương quan báo phân tích và tỷ lệ đề cập đến tác động của các mối
quan hệ xã hội của vợ/chồng đến gia đình, n=260 (%) 98
Biểu đồ 2.19 Thông điệp về tác động của các mối quan hệ xã hội của vợ chồng đến gia đình được đề cập, n=260, (%) 99
Biểu đồ 2.20 Thông điệp về tác động của tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền, đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội đến gia đình được đề cập, n=260 (%) 101
Biểu đồ 2.21 Tương quan báo phân tích và tỷ lệ đề cập đến tác động của biến đổi xã hội đến gia đình, n=407 (%) 103
Biểu đồ 2.22 Tương quan báo phân tích và tỷ lệ đề cập yếu tố kinh tế tác động đến gia đình, n=270 (%) 106
Biểu đồ 2.23 Thông điệp về tác động của yếu tố kinh tế đến gia đình được đề cập, n=270 (%) 106
Biểu đồ 2.24 Thông điệp về các tác động khác đến gia đình được đề cập, n=654 (%) 109
Biểu đồ 3.1 Tin bài lựa chọn phân tích theo các báo, n=1497, (%) 113
Biểu đồ 3.2 Tương quan giữa tờ báo và thể loại tin bài phân tích, n=1497 (%) 124
Biểu 3.3 Tỷ lệ thể loại tin bài được phân tích, n=1497 (%) 125
Biểu đồ 3.4 Cách thể hiện tiêu đề tin bài, n=1497 (%) 128
Biểu đồ 3.5 Tương quan giữa tờ báo và đánh giá về cách thể hiện tiêu đề tin bài khảo sát, n=1497 (%) 128
Biểu đồ 3.6 Dạng tiêu đề phân tích trong tin bài, n=1497 (%) 134
Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ ảnh xuất hiện trong các tin bài, n=651 (%) 136
DANH MỤC HÌNH Hình 1 Khung phân tích của vấn đề nghiên cứu 7
Hình 2 Mô hình truyền thông hai chiều của Claude Shannon [78] 51
Trang 9Xã hội chủ nghĩaCông nghiệp hoá, hiện đại hoá
Kế hoạch hóa gia đìnhPhụ nữ Việt NamPhụ nữ Thủ đôPhụ nữ Thành phố Hồ Chí MinhChủ nghĩa xã hội
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Gia đình là một thiết chế xã hội, có mối quan hệ tương tác với các thiết chế xãhội khác và có tác động to lớn đến sự phát triển xã hội Gia đình đóng vai trò quantrọng trong xây dựng, triển khai, thụ hưởng các chính sách chính trị, kinh tế, xã hội,văn hóa; là thiết chế quan trọng đảm bảo quy mô và chất lượng dân số thông quachức năng sinh đẻ, giáo dục, và đầu tư phát triển nguồn lực con người Gia đình lànơi giữ gìn và trao truyền các giá trị văn hóa dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác
Xã hội phát triển tạo điều kiện cho gia đình phát triển đồng thời, sự ổn định và pháttriển của gia đình c ng có vai trò, vị trí hết sức quan trọng đối với sự ổn định và pháttriển của xã hội Chính vì vậy, trong thực tế, việc xây dựng, củng cố và phát triểngia đình tạo điều kiện để gia đình thực hiện tốt các chức năng của mình có ý nghĩahết sức quan trọng
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổsung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã khẳng định: “Đi lên CNXH là khát vọng củanhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch HồChí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” Đồng hành trong tiến trìnhthực hiện khát vọng đó, nhất là trước mỗi bước chuyển của dân tộc, một đòi hỏi tấtyếu đặt ra là phải xây dựng được hệ thống các giá trị cốt lõi nhằm định hướng, đánhgiá và điều chỉnh hành vi xã hội Muốn vậy, phải xây dựng những chuẩn mực conngười Việt Nam thời kỳ mới, phù hợp với việc giữ gìn, phát huy giá trị gia đình, giátrị văn hoá, giá trị quốc gia - dân tộc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa giá trị truyềnthống với giá trị thời đại, từ đó góp phần đạt mục tiêu “phấn đấu đến giữa thế kỷXXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN” Nghị quyết Hộinghị Trung ương lần thứ 5 (khóa VIII) đã đặt vấn đề gia đình ở một tầm quan trọngtrong sự nghiệp xây dựng văn hóa và phát triển về mọi mặt của đất nước Vấn đề đặt
ra là phải sống lành mạnh ở các đơn vị cơ sở, đầu tiên là gia đình, giữ gìn và pháthuy những đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam, coi trọng xây dựng
Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình tại Mục 4, Điều 52-67,trong đó có điều 63: Hành vi sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh, âm thanh nhằmkích động hành vi bạo lực gia đình Cụ thể là: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng, truyền bá thông tin,hình ảnh, âm thanh nhằm kích động hành vi bạo lực gia đình Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 13/1/2021 phê duyệt về phòng, chống bạo lực gia đình trong tình hình
Trang 11mới đến năm 2025 với mục tiêu nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống bạo lựcgia đình tạo chuyển biến về nhận thức, hành động trong phòng, chống bạo lực đểtừng bước giảm dần bạo lực gia đình, kịp thời hỗ trợ người bị bạo lực gia đình…Trước nhiệm vụ xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trịchuẩn mực con người và hệ giá trị gia đình Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đạihội lần thứ VIII của Đảng, trách nhiệm đặt ra cho giới nghiên cứu là nghiên cứunhận thức hệ giá trị phổ quát và cơ bản ở lĩnh vực rộng lớn là văn hoá, ở giá trịchuẩn mực của con người hiện đại và hệ giá trị của gia đình Việt Nam Gia đìnhViệt Nam được coi là thiết chế xã hội cơ bản thông qua các chức năng của gia đình,đặc biệt là chức năng xã hội hoá, các giá trị, chuẩn mực văn hoá được đặc biệt coitrọng vì thiết chế này giữ vai trò cơ bản trong sự trao truyền sinh học và trao truyền
xã hội hướng tới các mục tiêu phát triển Chính vì lẽ đó, chủ đề về hôn nhân, giađình trong những năm gần đây được đăng tải rất nhiều trên các phương tiện truyềnthông đại chúng, ngày càng có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng gia đìnhViệt Nam bền vững, để thiết chế xã hội này giữ vai trò là hạt nhân cơ bản của sựphát triển Đặc biệt là vai trò trung tâm của báo chí khi đưa thông tin về chủ đề này
Ba tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ ChíMinh được đặc trưng bởi dấu hiệu giới, công chúng đích là phụ nữ Báo Phụ nữ ViệtNam là tờ báo trực thuộc Cơ quan Trung ương của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt nam,
có đối tượng công chúng trong cả nước Báo Phụ nữ Thủ đô là cơ quan ngôn luậncủa Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội, đối tượng công chúng ở thành phố HàNội và những vùng lân cận Báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan ngônluận của Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, đối tượng công chúng ởThành phố Hồ Chí Minh và những vùng lân cận Các yếu tố đặc trưng nhân khẩu xãhội của công chúng ở những khu vực này đã tạo nên những tương đồng và khác biệttrong việc thể hiện thông điệp về gia đình Điều này là yếu tố thuận lợi cho sự sosánh trong việc phân tích Đó c ng chính là hàm ý của việc tác giả lựa chọn nghiêncứu thông điệp về gia đình trên 3 tờ báo này Chiều cạnh giới c ng cho phép tờ báo
có sự ảnh hưởng rộng không chỉ ở giới nữ Ba tờ báo phụ nữ có nhiệm vụ cung cấpcác thông điệp về gia đình trong đời sống xã hội, các quan hệ xã hội, vai trò của phụ
nữ trong cấu trúc xã hội và cơ bản là vai trò của phụ nữ đối với gia đình… Chủ đềgia đình trở thành mối quan tâm luôn được những người làm báo coi trọng, trong
đó, báo Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh lànhững biểu hiện cụ thể
Trang 12Báo chí đã phản ánh, đưa tin về tình trạng gia đình Việt Nam một cách phongphú, đa chiều Tuy nhiên, vấn đề gia đình cần được tiếp cận và nghiên cứu một cáchkhoa học, nhằm giúp các nhà truyền thông nhìn nhận, đánh giá những điểm mạnh vàđiểm yếu trong công tác truyền thông về vấn đề gia đình, đồng thời giúp công chúng
có cái nhìn sâu sắc, rõ nét hơn về nội dung thông điệp gia đình trên báo chí, bởi lẽcông chúng đều tiếp nhận thông tin các phương tiện truyền thông đại chúng và chịuảnh hưởng của các thông điệp đến việc hình thành nhận thức, thái độ, hành vi củahọ
Trong mô hình truyền thông (Lasswell, Claude Shannon, Weaver, David Berlohay Charles Osgood…), “thông điệp” được coi là một yếu tố quan trọng Riêngtrong lĩnh vực nghiên cứu của xã hội học truyền thông đại chúng, theo sơ đồ củaJudith Lazar, nghiên cứu về thông điệp là một trong những nội dung tạo nên sựquan tâm phổ biến của giới nghiên cứu Hơn nữa, nhiệm vụ của phương pháp phântích thông điệp báo chí là cần thể hiện quan hệ của thông điệp với thực tế ngoài
thông điệp đã sản sinh ra thông điệp Đề tài "Thông điệp về gia đình trên ba tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh" tập trung vào
hướng nghiên cứu này với mong muốn phản ánh tình trạng gia đình được đăng tảitrong ba tờ báo nói trên trong thời gian nghiên cứu xác định để phân tích, từ đó đềxuất các giải pháp nhằm phát huy hiệu quả thông điệp về gia đình, góp phần xâydựng gia đình thành một tổ ấm để ấp ủ và nuôi dưỡng những phẩm chất đạo đức tốtđẹp của người công dân Việt Nam trong sự biến đổi xã hội hiện nay
Từ những luận giải trên, cho thấy việc nghiên cứu thông điệp về gia đình hiệnnay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu và vận dụng hệ thống lý luận về báo chí học, xã hội họctruyền thông đại chúng và xã hội học gia đình để phân tích thông điệp về gia đìnhtrên ba tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ ChíMinh Từ đó đề xuất các giải pháp phát huy hiệu quả thông điệp về gia đình trên ba
tờ báo được quan sát ở Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận án triển khai một số nhiệm vụ:
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu thông điệp về gia đình trên báo
in, cụ thể là ba tờ báo Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố HồChí Minh
Trang 13Phân tích nội dung và cách thức tổ chức thông điệp về gia đình trên ba tờ báo Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh
Đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm phát huy hiệu quả thông điệp về giađình trên báo Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Thông điệp về gia đình trên báo in, cụ thể là trên ba tờ báo: Phụ nữ Việt Nam,Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu khảo sát các bài viết có nội dung thôngđiệp về gia đình trên ba tờ báo Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thànhphố Hồ Chí Minh
Thời gian nghiên cứu: Khảo sát từ tháng 01/2015 - 01/2017
Giới thuyết về phương pháp phân tích nội dung chỉ ra rằng, việc phân tích nộidung thông điệp vào một giai đoạn nào đó dựa trên hệ thống dữ liệu được thiết kếbởi bảng mã cho phép nhận thức tình trạng xã hội về một giai đoạn nào đó trong quátrình biến đổi xã hội Những nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp phântích nội dung như là sự ưu tiên được lựa chọn của các học giả quốc tế về chủ đề mà
họ quan tâm c ng xuất phát từ ưu thế này Thực tế học thuật ở Việt Nam như đã viết
ở phần tổng quan cho thấy rõ điều đó
Sự biến đổi xã hội về gia đình diễn ra như một quá trình, trong đó thiết chế giađình tuân thủ xu hướng cơ bản là biến đổi từ gia đình truyền thống sang gia đìnhhiện đại Thời gian khảo sát từ tháng 01/2015 - 01/2017 ở đối tượng nghiên cứu đãđược nói ở trên có thể coi là một mắt khâu trong quá trình chuyển biến đó Năm
2015 được lấy làm năm Gia đình Việt Nam, cho nên việc phân tích thông điệp vàonăm này và các năm được lựa chọn tiếp theo có thuận lợi cho đề tài ở chỗ, chủ đềgia đình được quan tâm ở các thiết chế báo chí, đặc biệt là ở các tờ báo dành chophụ nữ, trong đó có 03 tờ báo tác giả lựa chọn quan sát
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được coi là kỳ vọng để nhận thấy sựbiến đổi gia đình phản ánh trên ba tờ báo trong thời gian được quan sát có thể là dữliệu cho những nghiên cứu cùng chủ đề trong khoảng thời gian trước và sau đó.Logic của quá trình nghiên cứu này được thực hiện cho thấy chiều hướng và nguyênnhân của sự biến đổi gia đình trong sự tác động xã hội ở bối cảnh của công cuộc đổimới ở Việt Nam hiện nay Mặt khác, thời gian khảo sát được xác định như trên mộtphần phụ thuộc vào thời gian làm luận án của NCS, nghĩa là luận án chọn 02 năm ở
Trang 1403 tờ báo được quan sát thấy rằng, số lượng thông điệp đủ để thực hiện phân tíchnội dung, đảm bảo được độ lớn của mẫu và đảm bảo được kế hoạch thực hiện luận
án của NCS trong sự sắp xếp giữa phân tích nội dung dưới dạng thực nghiệm và xử
lý kết quả thực nghiệm này trong hệ thống lý thuyết đã được trình bày
Trong bối cảnh phát triển của hệ thống Internet, các tòa soạn của ba tờ báo inđược lựa chọn còn lan tỏa các ấn phẩm của mình đến với công chúng ở các trangbáo mạng Điều này cho thấy sự phát triển của công nghệ điện tử đã nới rộng kênhtruyền của thông điệp đến với công chúng, làm cho công chúng mở rộng khả nănggiao tiếp đại chúng trong những phạm vi rộng lớn hơn, không chỉ là kênh truyềnthống báo in Ở góc độ nghiên cứu, chúng tôi khu biệt rõ các kênh này ở các toàsoạn được lựa chọn để xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu của mình
4 Giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích
4.1 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
Thông điệp về gia đình trên ba tờ báo Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô vàPhụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện như thế nào?
Các giải pháp, khuyến nghị nhằm phát huy hiệu quả thông điệp về gia đìnhtrên ba tờ báo Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minhnhư thế nào?
Thông điệp về gia đình được đặt ra thế nào trong thời gian tới?
Giả thuyết nghiên cứu
Nội dung thông điệp về gia đình đề cập đến giá trị hôn nhân, chức năng giađình; cấu trúc gia đình và các quan hệ xã hội trong thiết chế gia đình Đây là nhữngvấn đề cơ bản của gia đình Việt Nam hiện đại Những vấn đề này được phản ánhtrên mặt báo có thể với những mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất và địađiểm phát hành các tờ báo, nhưng có một điểm chung là đều phản ánh giá trị vàtrách nhiệm xã hội của các thiết chế báo chí được quan sát đối với công chúngCác thể loại cơ bản của báo chí được những người làm báo ở các tờ báo đượcquan sát sử dụng để tạo nên thông điệp hàm chứa những nội dung về gia đình Do
đó, thông điệp về gia đình trên các tờ báo được quan sát trở nên phong phú và hấpdẫn đối với công chúng Hình thức được dùng để chuyển tải nội dung đã thể hiện rõtrong sự kết hợp với các chuyên trang, chuyên mục ở các tờ báo Vấn đề này tạo nên
sự “cố định” đối với công chúng trong sự tiếp nhận thông điệp về gia đình như làphương hướng chủ yếu có vai trò quan trọng đối với công chúng nữ và có khả nănglan toả tới những nhóm công chúng khác
Trang 15Sự biến đổi xã hội trong bối cảnh của công cuộc đổi mới, trong quá trình côngnghiệp hoá dẫn đến sự nhấn mạnh vai trò giới là những vấn đề cơ bản tạo nên sự tácđộng đến thiết chế gia đình theo xu hướng phát triển của mục tiêu xây dựng gia đìnhViệt Nam bền vững Quá trình này là toàn diện hòng làm rút ngắn khoảng cáchkhông gian xã hội, đô thị và nông thôn được thể hiện trong thông điệp về gia đình.Các thiết chế xã hội cơ bản có tác động đáng kể đến quá trình này.
Trang 16Khung phân tích
Hình 1 Khung phân tích của vấn đề nghiên cứu
Trang 175 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử Cùng với đó, hệ thống lý thuyết Báo chí học, Xã hội họctruyền thông đại chúng, Xã hội học gia đình c ng được coi là cơ sở phương phápluận trong nghiên cứu này Hệ thống tri thức nói trên xem xét trong sự vận độngbiện chứng, trong các điều kiện lịch sử cụ thể tác động đến đối tượng vấn đề nghiêncứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo chiến lược nghiên cứu đồng đại thực hiện tronggiai đoạn 1/2015 - 1/2017 với thiết kế kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và nghiêncứu định tính, trong đó nghiên cứu định lượng là phương pháp nghiên cứu chính
5.3 Phương pháp thu thập thông tin
5.3.1 Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn
Thu thập, phân tích và rút trích từ các tài liệu, sách, bài báo tạp chí chuyênngành, kết quả nghiên cứu đi trước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận ánnhằm tổng quan đề tài làm cơ sở cho nghiên cứu này, c ng như góp phần xây dựng
bộ mã hóa định lượng và định tính
5.3.2 Phương pháp phân tích nội dung
Phương pháp phân tích nội dung có ưu thế ở chỗ, nhận thức được động cơ vàkhuynh hướng truyền thông điệp của thiết chế truyền thông được thể hiện ở thôngđiệp được truyền tải, nghĩa là cho thấy mối liên hệ chủ quan của chủ thể truyềnthông tác động đến khách thể truyền thông thông qua nội dung và sự thể hiện thôngđiệp
Hướng phân tích thông điệp ở báo in có lợi thế ở chỗ, người nghiên cứu quansát được các văn bản chữ dưới dạng in, được lưu trữ nên tính ổn định về kết quảnghiên cứu không phụ thuộc vào tâm trạng của khách thể nghiên cứu như trong việcphỏng vấn bằng anket Hướng nghiên cứu phân tích nội dung có thể được sử dụngđộc lập, hoặc kết hợp với các phương pháp khác như phỏng vấn sâu, phỏng vấnbằng bảng hỏi tuỳ thuộc vào mục đích của chủ đề nghiên cứu đề ra
Quy trình phân tích nội dung thông điệp nhằm mục đích chuyển các đặc điểmđược lựa chọn của thông điệp thành số liệu có thể xử lý bằng các phương phápthống kê về mặt định lượng và định tính Những đơn vị phân tích cần phải được xácđịnh bằng sự tham chiếu của hệ thống đặc điểm ngữ nghĩa và cú pháp của thôngđiệp Những đơn vị điển hình của phân tích nội dung thông điệp là câu chuyện được
Trang 18thể hiện dưới văn bản báo chí hoặc các hình thức khác Ở nghiên cứu này, chúng tôi
đã thực hiện việc phân tích “Thông điệp về gia đình trên ba tờ báo: Phụ nữ ViệtNam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh” (Khảo sát từ tháng1/2015-1/2017) theo các bước sau:
Xác định khái niệm và từ khóa làm cơ sở cho việc phân tích
Xây dựng bảng mã các từ khóa về hệ thống chỉ báo và xác định các chỉ báothành phần
Phương pháp phân tích nội dung định lượng được sử dụng phân tích thôngđiệp về gia đình trong các tin bài thu thập được từ 3 báo Bộ mã định lượng đượcxây dựng trên cơ sở thao tác hóa các khái niệm có liên quan hình thành các chỉ báo,
bộ chỉ số được sắp xếp trong bộ mã Với các thủ thuật phân tích định lượng này chophép xử lý mối tương quan giữa các biến số độc lập với các biến số phụ thuộc đượcxác định trong giả thuyết nghiên cứu
Sử dụng thiết kế nghiên cứu lịch đại thông qua việc mã hóa thông tin các báoPhụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh trong năm
2015, 2016 và 2017 Kỹ thuật lấy mẫu có chủ đích chỉ lấy những bài báo chủ đềHôn nhân-gia đình Trong mỗi bài báo, thông tin được mã hóa theo 6 lĩnh vực như
đã nói trên, và cùng với đó là mã hóa các thông tin liên quan đến đặc trưng nhânkhẩu học các cá nhân/tổ chức được nhắc đến trong bài viết, hình ảnh được sử dụngtrong bài viết Tổng cộng có 1.497 bài báo được mã hóa: 527 bài báo Phụ nữ ViệtNam, 500 bài của Phụ nữ Thủ đô, 470 bài Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh Độ saibiến của tổng số những bài báo này nằm trong điều kiện cho phép, trong khi tínhđịnh kỳ của các tờ báo đến với công chúng là khác nhau Dữ liệu thu thập được làmsạch, lưu trữ bằng phần mềm và phân tích sử dụng bằng phần mềm SPSS 19.0.Phương pháp phân tích nội dung báo chí định tính: Trên cơ sở những tin bàiđược lựa chọn phân tích định lượng, một số tin bài được lựa chọn để phân tích địnhtính với thủ thuật code từ phần mềm xử lý dữ liệu định tính Nvivo 12.0 Phươngpháp này là phương pháp bổ trợ cho phương pháp phân tích nội dung định lượng c
ng như trả lời một số câu hỏi nghiên cứu trong luận án
6 Đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về nghiên cứu thông điệp gia đình trênbáo in, cụ thể là thông điệp về gia đình trên ba tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô
và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh
Xác định vai trò và những yêu cầu đối với ba tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ
nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh trong việc truyền tải thông điệpnhằm tăng cường hiểu biết, thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của độc giả
Trang 19Đóng góp mới trong luận án này là phân tích thông điệp về gia đình trên ba tờbáo được lựa chọn Cách làm này làm phong phú thêm hệ thống tri thức thựcnghiệm, và khẳng định rằng hướng nghiên cứu liên ngành giữa báo chí học, xã hộihọc truyền thông đại chúng, xã hội học gia đình đã mở rộng nhận thức về thực trạnggia đình trong bối cảnh và biến đổi xã hội sâu sắc ở Việt Nam hiện nay.
Hướng phân tích nội dung thông điệp báo chí cho phép nhận thức về tình trạng
xã hội được phản ánh trên công luận trong một giai đoạn nào đó Việc xác định giaiđoạn phân tích nội dung thông điệp báo chí một mặt để nhận thức về thực trạng xãhội trong chủ đề được đề xuất, mặt khác, nó cho thấy những nguyên nhân xã hội củacác diễn tiến xã hội diễn ra sau đó Việc phân tích thông điệp về gia đình c ng nằmtrong quy luật đó, nghĩa là nó góp phần vào việc nhận thức hiện trạng gia đình trênkênh và thời điểm được người nghiên cứu lựa chọn, đồng thời hệ thống tri thức này
c ng chỉ ra những diễn tiến xã hội về đối tượng trong hoạt động của logic nhận thức
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
7.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án là công trình nghiên cứu liên ngành giữa báo chí học và xã hội họctruyền thông đại chúng Đây là một trong những hướng tiếp cận cơ bản trong nghiêncứu khoa học xã hội và nhân văn hiện đại Luận án hệ thống hóa những vấn đề lýluận về mặt phương pháp trong nghiên cứu truyền thông từ góc độ phân tích nộidung thông điệp truyền thông
Nghiên cứu góp phần làm phong phú hệ thống tri thức khoa học trong lĩnh vựcnghiên cứu truyền thông đại chúng, đặc biệt nghiên cứu thông điệp báo chí, gópphần làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này
Phân tích thông điệp là hướng nghiên cứu cơ bản được báo chí học, xã hội họctruyền thông đại chúng đặc biệt quan tâm, cho thấy các kết quả định lượng hoặcđịnh tính, có thể kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác Vì vậy, nó chothấy những yếu tố có thực và xu hướng phát triển đối với hoạt động nhận thức tìnhtrạng gia đình hiện nay Điều này có nghĩa là phương pháp để nhận thức hiệu quảhoạt động báo chí
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu góp phần phản ánh tình trạng gia đình ở Việt Nam hiện nay và tácđộng xã hội đối với gia đình Việt Nam trong điều kiện CNH-HĐH; từ đó đề xuất đểthông điệp đến với công chúng hiệu quả hơn
Việc áp dụng phương pháp phân tích thông điệp về gia đình trên ba tờ báo:Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên hệ
Trang 20thống lý thuyết báo chí học, xã hội học truyền thông đại chúng và xã hội học giađình, cho thấy ý nghĩa của nghiên cứu liên ngành giữa Báo chí học và Xã hội học,
để nhận thức tình trạng của gia đình và đề xuất phương hướng xây dựng gia đìnhbền vững
8 Kết cấu của luận án
Ngoài chương Tổng quan, Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo vàPhụ lục, luận án có kết cấu 04 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu thông điệp về gia đìnhtrên báo chí
Chương 2 Nội dung thông điệp về gia đình trên 3 tờ báo: Phụ nữ Việt Nam,Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Cách thức tổ chức thông điệp về gia đình trên 3 tờ báo: Phụ nữViệt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 4: Những vấn đề đặt ra và giải pháp phát huy hiệu quả thông điệp vềgia đình trên ba tờ báo: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô và Phụ nữ Thành phố HồChí Minh
Trang 21TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1 Hướng nghiên cứu về truyền thông đại chúng
1.1 Nghiên cứu trên thế giới
Thuật ngữ truyền thông đại chúng lần đầu tiên được dùng trong Lời nói đầucủa Hiến chương Liên Hiệp quốc về Văn hóa Khoa học và Giáo dục (UNESCO),năm 1946 Từ đó, thuật ngữ này ngày càng trở nên thông dụng trong cả đời sốngthường nhật và trong khoa học Ngày nay, truyền thông đại chúng đã trở thành đốitượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội như: báo chí học, xã hội học,tâm lý học, lịch sử học… Dưới góc độ xã hội học, truyền thông đại chúng đượcnghiên cứu như một quá trình xã hội, các phương tiện truyền thông đại chúng đượckhảo sát và phân tích như một thiết chế xã hội [34, tr.429]
Lịch sử nghiên cứu về truyền thông đại chúng trải qua bốn giai đoạn:
Ở giai đoạn đầu, các nhà xã hội học ở thời kỳ này cho rằng những thông điệpcủa các phương tiện truyền thông đại chúng được "chích" vào công chúng như chích một
m i thuốc, đây được gọi là mô hình “m i kim tiêm” trong truyền thông đại chúng Điềunày dẫn tới hậu quả là hình thành nên một thứ “xã hội đại chúng” trong đó các cá nhânsống rời rạc nhau, không còn mối quan hệ thân thích, đáng tin cậy của cộng đồng c nữa
Và vì thế, chỗ dựa mới nhất của họ là các phương tiện truyền thông đại chúng Và chính
xã hội đại chúng đã sản sinh ra những cá nhân không còn khả năng đề kháng trước sứcthuyết phục của truyền thông đại chúng
Giai đoạn phát triển thứ hai của quá trình nghiên cứu về truyền thông đạichúng là từ năm 1940 tới đầu những năm 60 của thế kỷ 20 Nếu như giai đoạntrước, người ta nói đến truyền thông đại chúng như một m i “chích” vào công chúnghay có tác động trực tiếp, thì giai đoạn này nhà nghiên cứu đã bắt đầu nói tới nhữngtác động gián tiếp, thông qua nhiều bước trung gian Ngoài ra, những quan điểmđánh giá bi quan về vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng ở giai đoạnnày c ng đã hạn chế nhiều
Khi đi phân tích ảnh hưởng của truyền thông đại chúng, các nhà xã hội họcnhư: Lazarsfeld, Bernard Berelson và Hazel Gaude, Robert Merton… đã chú ý nhấnmạnh đến vai trò của các nhóm xã hội (bạn bè, gia đình, hàng xóm, …) hay đượcgọi là “Opinion leaders” với ý nghĩa rằng: các thông điệp của các phương tiệntruyền thông đại chúng thường được lọc qua những kênh đó rồi mới đi tới cá nhân
Ở giai đoạn ba, từ đầu những năm 1960 đến cuối thế kỷ 20, ngoài việc nghiêncứu công chúng và tác động của truyền thông đại chúng, các nhà chuyên môn còn
Trang 22nghiên cứu về nội dung các thông điệp của truyền thông đại chúng, về quá trìnhtruyền thông đại chúng, quá trình sản xuất các phương tiện truyền thông, nghiêncứu về đặc điểm của các nhà truyền thông và hoạt động của họ Tiêu biểu có trườngphái “Cultural studies” và lý thuyết không gian công cộng của Jurgen Habermas.Trong giai đoạn này, một số nhà nghiên cứu đã hướng sự quan tâm vào nghiên cứuhiệu quả của truyền thông đại chúng qua từng tác động riêng rẽ của nó Một trongnhững chỉ báo quan trọng cho thấy hiệu quả của truyền thông đại chúng mà các nhànghiên cứu đã chỉ ra đó là việc công chúng nhớ được nội dung thông điệp.
Giai đoạn bốn, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin những năm cuối thế kỷ
XX và đầu thế kỷ XXI đã đem đến cho truyền thông đại chúng những khái niệmmới “truyền thông đa phương tiện” với việc ra đời loại hình truyền thông mới là báo điện
tử, tích hợp trong nó đầy đủ những kỹ thuật của các phương tiện truyền thông đại chúngtrước đây Và chính giai đoạn này c ng chứng minh tính đa chiều trong tương tác giữatruyền thông đại chúng và công chúng
Trong công trình “Viết phỏng theo quyển Science de la communication củaJudith Lajan, Que sais, je, Paris 1992”, tác giả đã chỉ rõ trong khoảng những năm1930-1950 nổi lên bốn nhà nghiên cứu người Mỹ ngày nay được xem là những vịsáng lập ra truyền thông giao tiếp: Kaz-arsfeld, Lewin, Hovland, Lasswell Điều đócho thấy khoa học truyền thông giao tiếp gắn liền với những biến đổi quan trọng vềkinh tế xã hội và nhu cầu thúc đẩy cách mạng khoa học kỹ thuật mà nước Mỹ đã cóảnh hưởng lớn trong hai cuộc đại chiến thế giới
Vào giai đoạn sau đó, năm 1962, trong công trình "Tinh thần thời đại", EdgarMorin đã coi văn hóa đại chúng như một phạm trù xã hội học và nhận định rằng nềnvăn hóa này tạo nên một hệ thống đặc biệt ở chỗ, nó được sản sinh ra theo nhữngchuẩn mực của quy trình sản xuất công nghiệp và được các media phổ biến đếnnhững đám dân cư khổng lồ Edgar Morin c ng đã có công ở việc xác định các thời
kỳ trong lịch sử hiện đại của văn hóa đại chúng
Trong khoảng thập niên 70 - 80 “Nghiên cứu tác động của truyền thông đốivới xã hội không chỉ bó hẹp trong những nghiên cứu thực nghiệm mà còn xuất hiệnnghiên cứu phê phán, nghiên cứu diễn giải” Các học giả quan tâm nhiều hơn đếnmối quan hệ giữa truyền thông đại chúng đối với tri thức… c ng như ảnh hưởng củabạo lực và tình dục trên truyền thông tới công chúng, đặc biệt là giới trẻ Các nghiêncứu chỉ ra ảnh hưởng rõ nét của truyền thông dẫn đến bệnh nghiền ti vi Điều đó cóthể dẫn đến sự “tha hóa” về niềm tin hoặc thói quen văn hóa từ các thông điệp xuấthiện trên truyền hình [22, tr.39-52]
Trang 23Từ cuối thập niên 90 của thế kỷ trước đến thập niên đầu của thế kỷ 21, giớinghiên cứu tiến hành nhiều nghiên cứu lịch đại về mạng internet nói chung và tintức trên internet nói riêng Một nghiên cứu lớn của Viện Báo chí và con người PEW(Mỹ) tiến hành dự án nghiên cứu Internet và cuộc sống người Mỹ đã đưa ra nhữngbáo cáo về công chúng Internet ở Mỹ, chỉ ra khả năng tiếp cận, sử dụng và mức độhài lòng của họ đối với tin tức trên mạng Internet Nghiên cứu mới nhất (2006) củaPEW chỉ ra những đặc điểm sau: Lượng người sử dụng mạng Internet liên tục tăngvới tốc độ đáng ngạc nhiên Tốc độ phát triển của việc sử dụng thông tin trên mạngInternet tỉ lệ thuận với số người dân có đường truyền băng thông rộng Tỉ lệ nhữngngười có đường truyền tốc độ cao ở nhà tiêu thụ tin tức trên mạng Internet cao hơnnhững người sử dụng đường truyền dial-up 40% số người có đường truyền băngthông rộng coi tin tức trên mạng Internet là nguồn tin quan trọng Việc sử dụngmạng Internet nói chung tỉ lệ nghịch với độ tuổi của công chúng Mỹ Công chúngsẵn lòng đăng ký đọc tin nhưng không sẵn lòng trả tiền.
Những nghiên cứu ở giai đoạn này không chỉ dừng lại ở việc nhận thức nềntảng Internet trong mối quan hệ với các phương tiện truyền thông mới mà còn đi sâuvào việc phân tích tác động của truyền thông đối với con người Tác giả Ien Ang(2016) cho rằng, những mục tiêu và công thức đơn tuyến cần phải dựa trên các gắnkết lâu dài đối với thực thể cộng với nỗ lực không ngừng của khái quát tri thức vềhoàn cảnh thực tại Luận điểm trên cho thấy rằng tác động của truyền thông đạichúng đối với con người hay nói hẹp hơn là với công chúng truyền thông cần gópphần vào phê phán “nạn tha hoá” của cá nhân và quan trọng hơn là áp dụng tri thứccủa khoa học thông qua các kênh truyền thông để thực hiện việc hoạch định chínhsách [8 tr.109]
C ng trong mối quan tâm về tác động của truyền thông đối với con người công chúng, tác giả Aya Hirata Kimura (2016) đã phân tích tâm thế của nhóm nhữngngười mẹ Nhật Bản trước sự rò rỉ của phóng xạ sau sự biến Fukushima 2011 những vấn
-đề xã hội bức thiết liên quan đến vai trò của thiết chế nhà nước của các phương tiệntruyền thông đại chúng, khả năng bền vững của nhân tố kỹ thuật và tâm trạng của cộngđồng trước vấn đề an toàn của mạng sống đã trở thành chủ đề căn bản của các thông điệptruyền thông trong bối cảnh bất an của biến đổi khí hậu và sự yếu kém của các yếu tố kỹthuật trong phát triển [9, tr.122]
Một tác giả khác Brian Massumi (2015) nhấn mạnh đến vai trò của truyềnthông như là phương tiện của cơ chế quản trị trực tiếp thông qua các năng lực thaotúng cảm giác của con người Nhà nghiên cứu này chỉ ra rằng, trong khi truyền hình
Trang 24có sức mạnh thị giác đặc trưng thì mạng Internet có khả năng len lỏi vào các chiềucạnh của đời sống con người in dấu ấn cá nhân hoá rất cao Điều này dựa trên sựphát triển của công nghệ truyền thông, đặc biệt là của smartphone Chính quá trìnhnày đã gắn liền với hoạt động: Lao động số hay nói khác hơn là quá trình số hoá cáchoạt động giao tiếp xã hội trên các lĩnh vực xã hội rộng lớn (David Kergel và BriteHeidkamp (2017) [9 tr.124].
Việc quan sát các công trình trên cho thấy, lịch sự phát triển của truyền thôngđại chúng luôn luôn gắn liền với sự phát triển của các phương tiện kỹ thuật: côngnghệ nghe nhìn, nền tảng Internet, các cơ sở vật chất xã hội này đã tạo nên các điềukiện trong quá trình truyền thông điệp và tác động xã hội đối với công chúng Nólàm thay đổi các đặc điểm của công chúng Từ những nhóm xã hội lớn tiếp nhận thụđộng các thông điệp truyền thông như mối lo ngại của các nhà nghiên cứu thuộctrường phái Frankfurt (Đức) là truyền thông đại chúng có thể biến công chúng thànhnhững khối đại chúng tiếp nhận một cách thụ động trong mối liên hệ với dòngtruyền thông Với sự xuất hiện của Internet, công chúng của mạng xã hội đã tăngcường tính tương tác với thông điệp truyền thông, kênh truyền và thiết chế truyềnthông Các phương tiện thông minh đã tạo nên sự liên kết xã hội một cách rộng rãi
để cuốn hút công chúng vào dòng truyền thông mà giai đoạn tiền Internet không cóthể Quá trình này làm lan tỏa sự phát triển của truyền thông đại chúng, đồng thời
c ng làm phân hoá truyền thông đại chúng trên Internet Điều này làm phức tạpthêm tác động của truyền thông đại chúng đối với công chúng Điều này dẫn đến sự nhậnthức rằng, các phương tiện truyền thông đại chúng với tư cách là một thiết chế xã hội cầnđược nghiên cứu nhiều hơn, để thấy rõ ý nghĩa của nó đối với đời sống xã hội Bên cạnh
đó, trong nghiên cứu xã hội học về truyền thông đại chúng, hướng nghiên cứu nội dungthông điệp là một hướng nghiên cứu cơ bản, bởi việc nghiên cứu này sẽ cho thấy động
cơ, mục đích của nhà truyền thông đối với các sự kiện xã hội được phản ánh trong báochí để trình bày với công luận [39]
Vào thập niên đầu của thế kỷ 20, các nghiên cứu về xã hội thông tin, cácphương tiện truyền thông mới như mạng xã hội đã tạo nên mối quan tâm của giớinghiên cứu Bài báo Social Networks and Political Participation (Mạng xã hội và Sựtham gia của chính trị) Annual Review of Political Science, No.16 năm 2013 củaCampbell khẳng định, với sự kết nối thuận tiện của Internet, các mạng xã hội nhưFacebook, Twitter, LinkedIn… đã tạo điều kiện cho các cá nhân tham gia nhiều hơnvào chính trị, cả trên không gian mạng và đời thực
Trang 25Trong khi Campbell quan tâm đến không gian ảo và không gian thực tồn thìtác giả Christopher Walker và Robert W trong bài báo Breaking the News: The Role
of State-run Media, do (Kiểm soát tin tức: Vai trò của truyền thông nhà nước) do tạpchí Journal of Democracy, số 25 phát hành tháng 1/2014 nhấn mạnh đến vai trò củatruyền thông quốc gia Các tác giả này vẫn coi trọng vai trò của truyền hình, coi đó
là “nơi mọi con mắt đều hướng vào” Phương tiện này vẫn là nguồn chính để côngchúng tìm kiếm thông tin Các tác giả c ng chỉ ra sự tương hỗ giữa Internet vàtruyền hình, đồng thời cho thấy những tương đồng và khác biệt trong sự tương tácđối với công chúng của các kênh truyền thông này
Vì vậy, cùng với những hướng nghiên cứu báo chí học chú trọng tới quan hệgiữa nguồn tin thông điệp và công chúng, trong đó vai trò của tòa soạn được thểhiện rõ trong việc tổ chức thông điệp c ng như các hoạt động chuyên môn của báochí thì hướng nghiên cứu Xã hội học truyền thông đại chúng hướng tới: các nhàtruyền thông, công chúng truyền thông, ảnh hưởng xã hội của truyền thông đạichúng thì hướng nghiên cứu thông điệp truyền thông có vị trí quan trọng, nhưngchưa có nhiều công trình theo hướng này
1.2 Nghiên cứu trong nước
Việc nghiên cứu truyền thông đại chúng ở nước ta trước hết diễn ra ở các việnnghiên cứu báo chí - truyền thông và một số cơ sở nghiên cứu khoa học xã hội vànhân văn
Nhiều nghiên cứu về lịch sử báo chí – truyền thông trong nước đã được tiếnhành, tiêu biểu như những công trình của các tác giả Huỳnh Văn Tòng, Lịch sử báochí Việt Nam từ khởi thủy đến năm 1945; Trần Ngọc Tăng, Vai trò của Truyềnthông đại chúng trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay, Nxb CTQG, 2001; ĐỗXuân Hà, Báo chí với thông tin quốc tế, Nxb ĐHQG Hà Nội, 1997; Hội Nhà BáoViệt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Báo chí Cách mạng, Nxb CTQG, 2004; LêThanh Bình, Quản lý và Phát triển Báo chí-Xuất bản, Nxb CTQG, 2004…
Một số giáo trình cung cấp các tri thức về lý luận báo chí như “Cơ sở lý luậnbáo chí - Đặc tính và phong cách” của Hà Minh Đức, “Cơ sở lý luận báo chí truyềnthông” của Đinh Hường - Dương Xuân Sơn - Trần Quang, “Truyền thông đạichúng” của Tạ Ngọc Tấn; nhóm sách về thể loại báo chí như “Thể loại báo chíthông tấn” của Đinh Hường”, “Thể loại báo chí chính luận nghệ thuật của DươngXuân Sơn, “Thể loại báo chí chính luận của Trần Quang”, “Báo chí, những vấn đề
lý luận và thực tiễn” của Khoa Báo chí – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn…
Trang 26Giáo trình “Cơ sở lý luận báo chí - truyền thông” của nhóm tác giả ĐinhHường - Dương Xuân Sơn - Trần Quang, Nxb Văn hóa - Thông tin, năm 1991 và
1995 đề cập đến những vấn đề có tính phương pháp luận, các khái niệm, phạm trù,đặc trưng, chức năng, nguyên tắc, hiệu quả, tính sáng tạo của lao động báo chí, làm
cơ sở cho việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề cụ thể trong lĩnh vực báo chí - truyềnthông
Cuốn sách “Báo chí truyền thông hiện đại (Từ hàn lâm đến đời thường)”, NxbĐại học Quốc gia, 2011, của tác giả Nguyễn Văn Dững là tài liệu tham khảo, phục
vụ công tác đào tạo- hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập và chia sẻ, trao đổivới những người học báo, làm báo và quan tâm đến báo chí truyền thông Trongcuốn sách này, khái niệm truyền thông đại chúng được tiếp cận dưới nhiều góc độkhác nhau Từ đó, người đọc có thể hiểu một cách cặn kẽ và sâu sắc về vai trò và tácđộng của truyền thông đại chúng tới đời sống xã hội
Cùng với đó, khái niệm “báo chí” được tác giả phân tích một cách sâu sắc,toàn diện và cụ thể, rõ ràng Từ những phân tích về đối tượng tác động, cơ chế tácđộng, tác giả rút ra vai trò và tác động của báo chí, nhất là năng lực giám sát xã hộicủa báo chí Báo chí dù là truyền thống hay hiện đại c ng tự thân nó mang trongmình những đặc điểm đặc thù Khía cạnh này được tác giả lập luận chặt chẽ và khoahọc, từ đó đưa ra những giải pháp để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về báochí và những vấn đề cơ bản của tự do báo chí Các vấn đề như phẩm chất nghềnghiệp của nhà báo; vai trò xã hội của báo chí và vấn đề đào tạo cử nhân trong thời
kỳ mới; báo chí với vấn đề trẻ em;… được trình bày cụ thể, đầy đủ và hấp dẫn tạichương IV, V Cùng với việc nghiên cứu, tìm hiểu những quy luật cơ bản của hoạtđộng báo chí, tác giả nêu ra mô hình phẩm chất cần yếu của nhà báo vừa có ý nghĩacho công tác đào tạo nhà báo trẻ, vừa có thể giúp các nhà báo trẻ đang hành nghề tựsuy ngẫm, kiểm nghiệm nhằm từng bước tự hoàn thiện và nâng cao năng lực hoạtđộng chuyên môn nghề nghiệp
Giáo trình “Các thể loại báo chí thông tấn”, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2011 củatác giả Đinh Hường cung cấp cho người học báo, làm báo những kiến thức cơ bản
về vai trò, chức năng của thể loại và nhóm thể loại; về khái niệm, đặc trưng, đặcđiểm của thể loại; chỉ ra mối liên hệ giữa các thể loại trong hệ thống báo chí nóichung và các thể loại báo chí thông tấn nói riêng, để từ đó làm cơ sở cho việc xâydựng quy trình sáng tạo tác phẩm, giúp người học báo, làm báo nắm vững lý thuyết
và vận dụng sáng tạo vào hoạt động thực tiễn Giáo trình trang bị cho sinh viênphương pháp, kỹ năng trong việc nhận biết từng thể loại qua các yếu tố về nội dung
Trang 27và hình thức của thể loại tác phẩm, từ đó tiến hành đánh giá, xây dựng đề cương,cách thu thập, xử lý thông tin đến trình bày tác phẩm Ngoài ra còn cung cấp một sốdạng bài mẫu làm cơ sở cho việc nhận biết thể loại cụ thể để thực thi trong hoạtđộng nghiệp vụ báo chí.
Giáo trình “Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” của hai tác giảNguyễn Văn Dững - Đỗ Thị Thu Hằng, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, 2012cung cấp một hệ thống lý thuyết và kỹ năng truyền thông cơ bản nói chung, truyềnthông - vận động xã hội và truyền thông đại chúng nói riêng…, giúp sinh viên tạolập kiến thức nền tảng và nâng cao kỹ năng về giao tiếp truyền thông - vận động xãhội trong hoạt động truyền thông báo chí; tăng cường khả năng hội nhập và bìnhđẳng trong khu vực và quốc tế, khả năng hòa nhập với các nhóm công chúng xã hội.Giáo trình này đã được những người học báo, làm báo xem như tài liệu gối đầu làm
cơ sở cho việc học tập, công việc và nghiên cứu truyền thông báo chí
Cuốn “Ngôn ngữ báo chí” của tác giả V Quang Hào đưa ra một cách tiếp cận
có hệ thống ngôn ngữ Việt với tư cách là ngôn ngữ của truyền thông đại chúng
ở Việt Nam Đây là giáo trình bổ ích và cần thiết cho người đọc về những vấn đềchung của ngôn ngữ truyền thông c ng như những điểm đặc thù của ngôn ngữ truyềnthông Việt Nam
Công trình nghiên cứu “Báo chí Việt Nam thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đếnnay)” của tác giả Dương Xuân Sơn khẳng định những đóng góp của báo chí ViệtNam trong thời kỳ đổi mới, đồng thời tập trung nghiên cứu về vai trò của báo chíđược thể hiện trên các vấn đề: Vai trò của đội ng nhà báo; Báo chí với lĩnh vực đổimới kinh tế; Báo chí với công cuộc phòng, chống tham nh ng; Báo chí với vấn đềNông nghiệp nông thôn; Kinh tế báo chí; Xã hội hóa sản xuất chương trình truyềnhình; Tìm ra những hạn chế, khiếm khuyết để báo chí phát triển hơn nữa trongnhững năm tiếp theo
Những thành tựu của cách mạng khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực công nghệthông tin, đặc biệt là sự phát triển như v bão của Internet đã tạo ra sự bùng nổ thôngtin trên phạm vi toàn cầu Cùng với đó, trật tự của các loại hình báo chí và truyềnthông c ng đã có nhiều thay đổi Sự ra đời của loại hình báo chí đa phương tiện đãtạo ra bước ngoặt, làm thay đổi cách truyền và tiếp nhận thông tin Và do đó, báochí đa phương tiện nhanh chóng chiếm giữ vị trí quan trọng không thể thiếu tronglàng truyền thông Với báo chí đa phương tiện, việc truyền tải thông tin đến côngchúng không chỉ qua con chữ, hay những tấm ảnh tĩnh đơn thuần mà còn là video,audio, hình ảnh động, đồ họa và các cách thức thể hiện mới mẻ, hiện đại từ
Trang 28ứng dụng kỹ thuật số Trong hệ sinh thái của báo chí đa phương tiện, mỗi tòa soạnbáo không chỉ dừng lại ở một loại hình mà có sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn vớinhau, mỗi nhà báo không còn chỉ hoạt động đơn lẻ ở một loại hình riêng biệt mà cóthể cùng lúc tác nghiệp ở nhiều loại hình khác biệt Có thể nói, hội tụ truyền thông
và đa phương tiện đã đặt ra một dấu mốc quan trọng trong sự vận động và phát triểncủa báo chí và truyền thông hiện đại
Trong bối cảnh đó, cuốn sách Báo chí và Truyền thông đa phương tiện do tác
giả Nguyễn Thị Trường Giang (chủ biên) đã trở thành một tài liệu tham khảo hữuích Nội dung của cuốn sách đã trình bày và lý giải những vấn đề căn bản về lýthuyết và thực tiễn của báo chí và truyền thông đa phương tiện như: Đặc trưng củabáo chí đa phương tiện, truyền thông đa phương tiện và ảnh hưởng xã hội củachúng; xu hướng phát triển của báo chí thế giới trong kỷ nguyên kỹ thuật số; đặcđiểm của hội tụ truyền thông hay mô hình tòa soạn hội tụ; yêu cầu đối với một nhàbáo đa phương tiện; ảnh hưởng của xu hướng báo chí và truyền thông đa phươngtiện đối với các tờ báo, các tòa soạn báo Việt Nam; truyền thông xã hội ảnh hưởngnhư thế nào đối với sự phát triển của báo chí và truyền thông hiện đại Nhiều vấn
đề về phương pháp, cách thức làm việc liên quan trực tiếp đến những công việc
“bếp núc” của người làm báo, làm truyền thông trong lĩnh vực đa phương tiện c ngđược các tác giả trình bày khá tỉ mỉ Đây là những vấn đề nóng đang được nhiều nhàquản lý, nhà báo, nhà truyền thông và công chúng rộng rãi quan tâm
Các ấn phẩm về Báo chí học của các tác giả kể trên cho thấy những vấn đề cơbản về lý luận báo chí, kiến thức nghiệp vụ của hoạt động báo chí, vai trò của báochí trong đời sống xã hội và báo chí trong đời sống quốc tế, khu vực
Tiếp cận xã hội học truyền thông đại chúng, bài viết “Một số vấn đề về nghiêncứu truyền thông đại chúng” của V Trà My, đăng trong cuốn Báo chí những vấn đề
lý luận và thực tiễn, tập 6, đưa ra một nhận định xác đáng về tình hình nghiên cứutruyền thông đại chúng ở Việt Nam: “Ở Việt Nam, nghiên cứu truyền thông đạichúng đã và đang phát triển Tuy nhiên tầm quan trọng của lĩnh vực này còn chưađược nhìn nhận một cách thấu đáo và hệ thống Cho đến nay, những đóng góp đángghi nhận nhất trong hoạt động này ở Việt Nam lại chủ yếu là thành quả của các nhà
xã hội học, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Viện Xã hội học” [34]
Ở Việt Nam, nghiên cứu dưới góc độ xã hội học truyền thông đại chúng là hướng nghiên cứu đã được sự quan tâm của giới chuyên môn
Thời gian đầu, nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chúng chủ yếu tậptrung vào nghiên cứu truyền thông đại chúng trong hoạt động truyền thông nói
Trang 29chung về một chủ đề nào đó, chẳng hạn nghiên cứu truyền thông về dân số, 1993,nghiên cứu truyền thông phòng chống AIDS, 1996… Giai đoạn sau này, nghiên cứu
xã hội học truyền thông đại chúng ở Việt Nam mới tập trung đi vào hướng nghiêncứu về lý luận và thực nghiệm, trong nghiên cứu thực nghiệm chủ yếu nghiên cứu
về công chúng, về nội dung thông điệp, hiệu quả của truyền thông
Những đóng góp về cơ sở lý luận cho những nghiên cứu xã hội học truyềnthông đại chúng ở Việt Nam, có thể kể đến những bài viết của tác giả Mai QuỳnhNam như: “Truyền thông đại chúng và Dư luận xã hội”, Tạp chí Xã hội học số 1,1996; “Văn hóa đại chúng và văn hóa gia đình”, Tạp chí Xã hội học số 4, 2000;
“Đặc điểm và tính chất của giao tiếp đại chúng”, Tạp chí Xã hội học số 2, năm2000… Những bài viết trên tập trung vào các vấn đề cơ bản của truyền thông đạichúng, những quan điểm, lý thuyết của các nhà xã hội học trên thế giới về truyềnthông đại chúng, đồng thời chỉ ra các hướng nghiên cứu cơ bản của Xã hội họctruyền thông đại chúng ở Việt Nam
Cùng với những nghiên cứu của các tác giả Mai Quỳnh Nam, Trần HữuQuang đã có đóng góp quan trọng về xã hội học truyền thông đại chúng bằng côngtrình “Xã hội học báo chí”, năm 2006 Trong tác phẩm này, tác giả tập trung làm rõnhững khái niệm cơ bản của truyền thông đại chúng và đưa ra những đặc điểm vềhoạt động của tòa soạn, của nghề làm báo, những đặc trưng nghề nghiệp riêng củanhóm phóng viên, nhà báo ở nước ngoài và Việt Nam Bên cạnh đó, cuốn sách còn
đi sâu vào những hướng nghiên cứu cơ bản của xã hội học truyền thông đại chúng:
xã hội học về công chúng, xã hội học về nội dung truyền thông Hơn hết, ấn phẩm
đã phác họa được một số lý thuyết tiếp cận trong xã hội học truyền thông đại chúnglàm cơ sở cho những nghiên cứu truyền thông đại chúng sau này
Sự xuất hiện các công trình nghiên cứu về báo chí học và xã hội học truyềnthông đại chúng được đặt ra trong mối quan hệ nghiên cứu liên ngành cho thấy sựtrưởng thành của các khoa học báo chí học và xã hội học Trong hoạt động nghiêncứu báo chí, các phương pháp của xã hội học, đặc biệt là các phương pháp nghiêncứu cụ thể rất được coi trọng ở lĩnh vực xã hội học truyền thông đại chúng Hệthống lý thuyết về truyền thông và truyền thông đại chúng c ng được sử dụng nhiềutrong nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chúng Các khái niệm trong hệ thốngtri thức này được những người nghiên cứu thao tác hoá thành các chỉ báo để nhậnthức thực trạng truyền thông đại chúng về thông điệp, kênh truyền và công chúng
c ng như hiệu quả của truyền thông đại chúng đối với việc hình thành và thể hiện
dư luận xã hội Các công trình nghiên cứu kể ra trên đây ở những mức độ khác nhau
Trang 30đều nằm trong mối quan tâm cơ bản này, Điều đó cho thấy sự trưởng thành trên cảhai bình diện giảng dạy và nghiên cứu về truyền thông đại chúng ở Việt Nam.
Những nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chúng ở Việt Nam bước đầuđược dựa trên sự kế thừa những thành tựu có được từ các nghiên cứu trên thế giới.Tuy nhiên, c ng phải nhận thấy những nghiên cứu thực nghiệm của xã hội họctruyền thông đại chúng ở nước ta chưa nhiều, đặc biệt là nghiên cứu về thông điệpcủa truyền thông đại chúng
Max Weber đã chỉ rõ vai trò của thông điệp và nội dung của truyền thông đạichúng Theo đó, thông điệp truyền thông truyền tải những nội dung gì và những nộidung đó được thể hiện bằng cách nào Đây là hai vấn đề cơ bản của báo chí học liênquan đến động cơ truyền thông và cách thức sử dụng các thể loại và phương tiệntruyền thông đối với công chúng Phân tích thông điệp cho thấy ý nghĩa chủ quancủa các nhà truyền thông được thể hiện trên thông điệp mà họ truyền tải như là mốiliên hệ của động cơ và sự thể hiện Hai vấn đề này liên quan chặt chẽ đến nhaunhưng ko phải lúc nào sự thể hiện c ng phù hợp với động cơ của nhà truyền thông
Vì vậy xét về phương diện quản lý báo chí thì hướng nghiên cứu nội dung thôngđiệp sẽ mang đến lợi ích cơ bản trong sự đánh giá thông điệp và đối tượng tiếp nhận
nó là công chúng
Nhìn chung, các nghiên cứu thực nghiệm của xã hội học truyền thông đạichúng ở nước ta đã hướng đến sự gắn kết với các lĩnh vực của đời sống xã hội ởViệt Nam được thể hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng Tuy nhiên, đaphần những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc phản ánh thực trạng về vấn đề
xã hội qua thông điệp được đưa trên các phương tiện truyền thông đại chúng, màchưa chỉ ra được tính tiêu cực của truyền thông đại chúng đối với nhận thức củacông chúng
Việc quan sát và tìm hiểu về những nghiên cứu liên quan đến truyền thông đạichúng trên thế giới và Việt Nam cho thấy, nghiên cứu truyền thông là không thểthiếu trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay Truyền thông đại chúng có phạm vitác động lớn đến mọi thành viên của các nhóm xã hội, từ trẻ em đến người cao tuổi
Do đó, việc chuyển tải thông điệp cụ thể trên các phương tiện thông tin đại chúngcần được xem xét cẩn trọng nhằm định hướng hành vi, định hướng dư luận xã hội,góp phần hạn chế những hành vi lệch chuẩn trong xã hội Để làm được điều này,một trong những khâu rất quan trọng là phải nghiên cứu thông điệp truyền thông
Trang 312 Hướng nghiên cứu thông điệp truyền thông
2.1 Nghiên cứu nội dung thông điệp truyền thông
Có nhiều công trình nghiên cứu về nội dung thông điệp truyền thông, đángchú ý là những nghiên của của Dietram A Scheufele [62, tr.105] Các tác giả đã đưa
ra phương pháp tiếp cận nhóm chủ đề trong nghiên cứu nội dung thông điệp như:Nội dung phản ánh thực tế xã hội có sự biến dạng ít, nhiều hay phản ánh trung thực(Content reflects social reality with little or no distortion.) Nội dung bị ảnh hưởngbởi xã hội hóa và thái độ chuyên nghiệp của những người làm truyền thông(Content is influenced by media workers' socialization and attitudes) Nội dung bịảnh hưởng bởi các thói quen truyền thông (Content is influenced by media workers'socialization and attitudes) Nội dung bị ảnh hưởng bởi các thể chế và lực lượng xãhội khác (Content is influenced by other social institutions and forces) Nội dung làmột chức năng của các vị trí hệ tư tưởng và duy trì hiện trạng (Content is a function
of ideological positions and maintains the status quo)
Nghiên cứu về nội dung truyền thông, tác giả Harold Lasswell (1948) đề xuấtkhung nội dung thông điệp bao gồm một quy trình: Ai nói cái gì (Who Says What),Thông qua kênh nào đối với ai cùng với những tác động gì với họ (Through WhichChannel to Whom with What Effect) [63]
Tác giả David H Weaver cho rằng, để có thông điệp truyền thông chuẩn, cácnhà báo xây dựng nội dung thông điệp không nên theo quy trình mang tính hệ thống
kỹ thuật nhiều hơn những gì diễn ra trong thực tế Tác giả còn bổ sung vấn đề nộidung thông điệp phải mang tình dự báo một cách mơ hồ Ông đã đưa ra một ví dụ:
“Ngay cả trong vật lý, các câu hỏi tiếp theo được đặt ra mang tính quy luật bởi cácnhà vật lý lý thuyết Nếu giáo sư vật lý cố gắng dự đoán hướng của hạt nguyên tử sẽ
di chuyển sau khi đã đo đạc để xác định, nhiệm vụ sẽ rất khó khăn; Các lý thuyếthiện tại về vật lý lượng tử chỉ ra rằng chuyển động của hạt không có khả năng đoántrước được, điều này còn khó hơn một quả bóng lăn trên sân cỏ” [64, tr.143]
Những nghiên cứu về thông điệp truyền thông nói chung xuất hiện tần suấtđột phá vào những năm 70 của thế kỷ XX Lý do chính là sự phát triển của truyềnhình Những quan điểm trước đó về thông điệp truyền thông được Herbert Gans(1983) xem xét lại Gans lập luận rằng: “Các nhà khoa học xã hội và các nhà báo đãbắt đầu không đồng ý với quan điểm thế giới của họ sau những biến động xã hộinhững năm 1960 và đầu những năm 1970, một giai đoạn được đánh dấu bởi bùng
nổ về phong trào quyền công dân và phản kháng chiến tranh, cuộc xung đột sắc tộc,
và vụ bê bối Watergate Các hệ thống thu thập thông tin và các mô hình truyền
Trang 32thông trong những thập kỷ trước không còn được chấp nhận rộng rãi và không nghingờ gì nữa” [65, tr.175] Với tình hình bội thực thông tin trong những năm 80 củathế kỷ XX, Herbert Gans quan điểm rằng việc lựa chọn và thẩm định nội dungthông điệp thuộc lựa chọn cá nhân với tư cách là khách hàng Ông viết “Tuy nhiên,những ảnh hưởng này quyết định tất cả những thông tin sẵn có mà khán giả phải lựachọn, do đó chúng chịu trách nhiệm gián tiếp cho toàn bộ phạm vi ảnh hưởng cótruyền thống thu hút các nhà nghiên cứu truyền thông” [65, tr.178] Năng lực hiểuthông tin của công chúng có hạn, do họ đó cần phải có những nhận thức bổ trợ khithông điệp không thể đáp ứng kỳ vọng hiểu biết của họ Theo Herbert Gans: “Tómtắt các khái niệm văn hoá như "Cộng hòa;" "Dân chủ", "Tính dân chủ", và "quyềncông dân" được yêu cầu để xây dựng xã hội; Để hiểu được những điều này, chúng taphải dựa vào các nguồn bên ngoài thông điệp truyền thông” [65, tr.179].
Fishman (1980) đã đưa ra quan điểm xây dựng thông điệp chính xác phảiđược cập nhật, sàng lọc thông tin từ nhiều nguồn gắn với một sự kiện Ông viết:
“Tránh giả định về thực tại bên ngoài khách quan bằng cách xác định thực tế xã hộinhư là cái mà xã hội biết về chính nó Có rất nhiều nguồn thông tin về xã hội và /hoặc một sự kiện cụ thể Một số là hiển nhiên Nếu bạn muốn biết những gì diễn ratại các cuộc họp hội đồng thành phố ở thị trấn của bạn, bạn có thể lấy thông tin từthị trưởng hoặc từ một quan chức thành phố khác, từ một công dân tham dự cáccuộc họp, từ báo chí, từ đài phát thanh hoặc truyền hình, từ pháp luật Thông báo, từmột người bạn có thông tin từ một trong những nguồn này; Hoặc bạn có thể tự tham
dự cuộc họp Nhiều nguồn thông tin không rõ ràng, nhiều nguồn khác lại rõ ràng”[66, tr.78]
Wright (1986) đã chỉ ra vai trò của nhà báo khác hẳn so với trước đây Ôngviết: “vai trò của người làm báo chí chỉ nằm trong tương quan, xác định, lựa chọn,đánh giá và giải thích các sự kiện Những thông điệp báo chí do đó chỉ mang tínhtương đối của những gì được tường thuật thông qua các quy ước của tiêu đề bàibáo và các loại hình truyền thông khác nhau” [67, tr.156-158]
Thông điệp giữ vai trò quan trọng trong lý thuyết truyền thông Nó phản ánhđịnh hướng xã hội của thiết chế truyền thông, phù hợp với kênh truyền và nhu cầunhận thực của công chúng Phần tổng quan trên cho thấy, những nghiên cứu vềthông điệp truyền thông được quan sát đã phản ánh thực trạng về vấn đề truyềnthông được truyền tải trong thông điệp Hệ thống thông điệp này c ng phù hợp vớiđịnh hướng mục đích của nhà truyền thông Nó trả lời câu hỏi căn bản: Thông điệpnói với công chúng những điều gì? Những điều đó thể hiện mối quan tâm từ hai
Trang 33phía: Chủ thể truyền thông và khách thể tiếp nhận Một thông điệp tốt đều phải thỏamãn hai yêu cầu cơ bản: Nội dung xác thực và phù hợp với nhu cầu công chúng Đểchuyển tải quá trình này, thông điệp cần được tập hợp trong hình thức như thế nàotrong tổ chức của báo chí Do đó, đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu hình thức thôngđiệp truyền thông Đó là nội dung được chúng tôi trình bày dưới đây.
2.2 Nghiên cứu hình thức thông điệp truyền thông
Các tác giả Nancy L Buerkle-Rothfuss, Bradley S Greenberg, Charles K.Atkin và Kimberly Neuendorf đã chỉ ra một thực tế là trên một sự kiện, quan điểmkhác nhau sẽ dẫn đến hình thức thông điệp khác nhau Các tác giả viết: “Tầm quantrọng của sự khác biệt giữa nội dung truyền thông và các nguồn thông tin khác vềthế giới nằm ở chỗ quan điểm của chúng ta về thế giới, kết quả là thông điệp đượcđược tạo ra bởi nguồn thông tin chủ đạo của chúng ta: các phương tiện thông tin đạichúng Nếu chưa bao giờ tới Nga hoặc nói chuyện với ai đó, hầu hết những gì biết
về đất nước Nga - thực tế "xã hội" ở đất nước đó mà chúng ta biết - đến từ cácphương tiện thông tin đại chúng ở đất nước chúng ta” [68, tr.192]
Họ cho rằng thông điệp truyền thông không chỉ là một thông tin cụ thể nào
đó và c ng không chỉ dừng lại ở mục đích thông tin Các tác giả đã đề xuất yếu tố lợinhuận vào thông điệp Họ viết: “Lượng khách hàng xem những thông điệp trongchương trình opera buổi tối với cái tên là Dallas hay Dynasty đã chỉ ra cho nhữngngười kinh doanh truyền hình về làm thế nào để kiếm tiền và giành quyền lực, làmthế nào để trở thành một diễn viên chính trị hiệu quả, và làm thế nào để có đượcnhững gì họ muốn” [68, tr.195]
Bradley Greenberg and Atkin (1983) đã chỉ ra thông điệp truyền thông chịutác động của các thế lực như người sở hữu hãng truyền thông, chiến lược kinhdoanh của các hãng truyền thông, các thế lực chính trị có gắn quyền lợi với truyềnthông…Ông viện dẫn ví dụ việc truyền thông chú trọng những vụ lái xe gây tai nạnđối với những người mới học lái xe để biện minh cho tính an toàn của một hãng xehơi nào đó được quảng cáo là tốt hơn cả hay một chính sách nào đó của chính quyền
về thu thuế liên quan đến học và cấp giấy phép lái xe [69, tr.44-55]
Về vấn đề quan hệ giữa hình thức của những thông điệp truyền thông Liệuhình thức có làm lệch đi nội dung của nó hay không, nếu có thì mức độ như thếnào? Các tác giả Scanlon, Liuiko và Morton (1978) cho rằng hình thức có thể phảnánh sai lệch phần nào những gì bên trong nội dung Ông viết: “Ấn tượng chung màcác phương tiện truyền thông (hình thức) phản ánh các sự kiện là chính xác, nhưng
có sai sót trong việc báo cáo các chi tiết thực tế, chẳng hạn như tên, độ tuổi và số
Trang 34liệu thống kê - the general impression the media gave about crisis events wasaccurate, but that there were errors in reporting factual details, such as names, ages,and statistics” [70, tr.68-72] David E Smith khi nghiên cứu những bài báo viết vềcác phát minh khoa học những năm 70 của thế kỳ XX cho rằng: “Có một số sự kiệnxuất bản về các chủ đề khoa học thực sự là không chính xác, nhưng có rất nhiềuthiếu sót của thông tin có liên quan [71, tr.22-40] C ng với chủ đề này, các tác giảMark S Meisner & Bruno Takahashi sau khi đã nghiên cứu các bài báo viết vềnhững nghiên cứu côn trùng, họ đã chỉ ra rằng cách diễn ngôn trong thông điệptruyền thông làm lệch đi nội dung thực của thông tin kết quả nghiên cứu Các tác giảviết: “Ngay cả nội dung về côn trùng c ng đã không thoát khỏi những diễn ngôn sailệch về thông tin thực tế Mặc dù 99,9% loài côn trùng không gây hại hoặc mang lạilợi ích nhưng hầu hết các bài báo trong một nghiên cứu đều nhấn mạnh đến khíacạnh tiêu cực của côn trùng” [72].
2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng người làm truyền thông tới thông điệp truyền thông
Các tác giả Becker, Fruit và Caudill đã đưa ra nhận định là quan điểm củanhững người làm báo ảnh hưởng không nhỏ đến nội dung thông điệp Để đưa ra kếtluận này, các tác giả tiến hành khảo sát các bài báo viết về cùng nội dung nhưng lạiđăng trên các tờ báo khác nhau của các tác giả khác nhau Các tác giả kết luận:
“Những người làm việc trong các công việc liên quan đến tin tức ở các tờ báo hàngngày và hàng tuần, tạp chí, dịch vụ tin tức và đài phát thanh và truyền hình đưa ranhững thông điệp truyền thông khác nhau về sự kiện như nhau dựa trên quan điểmcủa họ” [73, tr.56]
Cùng một sự kiện, nhưng giới tính, tuổi, dân tộc của những người làm truyềnthông c ng ảnh hưởng tới thông điệp truyền thông Đây là kết luận của tác giảStanley A Deetz Tác giả này c ng lưu ý đến tính chuyên nghiệp của những ngườilàm truyền thông Khi so sánh việc đưa tin về các sự kiện như nhau, các tác giả chorằng tính chuyên nghiệp của các nhà báo Hoa Kỳ chuyên nghiệp hơn Anh nhờ việcđưa ra những thông điệp mang tính tinh tế và thực tế hơn Các tác giả viết: “Ý thức
về tính chuyên nghiệp này phổ biến hơn trong số các nhà báo Hoa Kỳ so với ở Anh,
rõ ràng là bởi vì các nhà báo Hoa Kỳ nói chung có trình độ đại học và đã được thấmnhuần với một sự chuyên nghiệp đòi hỏi họ phải là nhiều hơn chỉ là những ngườighi chép hay ghi chép những gì người khác đang nói và làm” [75, tr.290] Tác giảcòn nhận định rằng: “Chắc chắn, thực tế là các nhà báo được đào tạo tốt ảnh hưởngđến nội dung truyền thông, nhưng ít nhất nói một cách hoa mỹ rằng công chúng sẽ
Trang 35ít được phục vụ bởi các nhà báo “mù chữ” Tuy nhiên, trình độ giáo dục của các nhàbáo (c ng như các kinh nghiệm và đặc điểm nền tảng khác của họ) có thể ảnh hưởngđến cách mà họ nhìn thế giới, một tác động sâu rộng đến những gì được lựa chọn đểbáo cáo và về cách thức báo cáo” [75, tr.174].
C ng nghiên cứu chủ đề này, các tác giả Holli A Semetko, Jay G Blumler,Michael Gurevitch, David H Weaver, Steve Barkin, G Cleveland Wilhoit cho rằng: Làmthế nào các yếu tố nội tại với người giao tiếp có thể tương tác để ảnh hưởng đến nội dungphương tiện truyền thông Chúng tôi tin rằng không có ảnh hưởng trực tiếp đến đặc điểm,nguồn gốc và kinh nghiệm của người giao tiếp đối với nội dung truyền thông nhưng nộidung đó có thể bị ảnh hưởng đến mức các yếu tố đó ảnh hưởng đến thái độ và vai trò cánhân và nghề nghiệp Các tác giả này phát hiện ra đạo đức nghề nghiệp của người làmbáo ảnh hưởng lớn đến thông điệp truyền thông Các tác giả viết: “Chúng tôi tin rằng vaitrò và đạo đức nghề nghiệp của người làm truyền thông có ảnh hưởng nhiều hơn đến nộidung hơn là thái độ, giá trị và niềm tin cá nhân của họ Không chỉ là sự đàn áp thái độ,giá trị và niềm tin cá nhân của vai trò người giao tiếp chuyên nghiệp; Nỗ lực của cá nhânbên trong một tổ chức truyền thông đại chúng có nhiều quyền lực hơn hầu hết các nhàtruyền thông có thể nắm giữ.” [76, tr.176]
Đề cập đến vai trò của đạo đức nghề nghiệp trong quan hệ với chủ các hãngtruyền thông, yếu tố doanh thu từ quảng cáo, các tác giả Holli A Semetko, Jay G.Blumler, Michael Gurevitch, David H Weaver, Steve Barkin, G Cleveland Wilhoitcho rằng: “Ngay cả quyền của nhà xuất bản và chủ sở hữu đài truyền hình có thể bịgiới hạn bởi ban giám đốc, khán giả và nhà quảng cáo Tuy nhiên, ngay cả nhữngngười đưa tin không có quyền sở hữu hoặc vị trí quản lý đôi khi có thể ảnh hưởngđến hướng nội dung Ví dụ, một phóng viên của một tờ báo ở bờ biển phía Tây Hoa
Kỳ có trụ sở tại Washington, D.C đã kiểm soát nhiều hơn về việc lựa chọn và chỉđạo các câu chuyện hơn là phóng viên làm việc trong các văn phòng chính của tờbáo dưới sự giám sát trực tiếp của ban quản lý” [76]
Yếu tố văn hóa c ng tác động đến thông điệp truyền thông Tính văn hóa thểhiện ở chỗ nội dung tin được những người đưa tin nhào nặn thành các biểu tượng.Nội dung truyền thông được phóng to, thu nhỏ nhằm phù hợp với khán giả Các tácgiả Stephen Shoemaker, Pamela & Reese cho rằng: “Truyền thông áp đặt logicriêng của nó trong việc tạo ra một môi trường tượng trưng Nếu chúng ta giả địnhrằng văn hoá phải thay đổi, thích ứng và cải thiện, thì nội dung truyền thông có thể
là chất xúc tác hoặc làm phanh sự thay đổi này Bằng cách miêu tả phụ nữ như
Trang 36những người nội trợ, nội dung có thể phóng to, nhưng sức mạnh và sự lan rộng củanhững biểu tượng này có thể làm cho phụ nữ khó chấp nhận vì tính không chuẩn.Nội dung truyền thông có thể chứa đựng đặc điểm tồi tệ nhất của một xã hội và thổichúng lên đến mức chúng được củng cố và làm cho khó thay đổi Mặc dù các bàidiễn văn được phương tiện truyền thông phản ánh có thể phản ánh quan hệ quyềnlực như chúng tồn tại, nhưng chúng c ng có thể đảm bảo rằng không có các mốiquan hệ nào khác có thể hình dung được” [77, tr.210].
Các tác giả Pamela J Shoemaker, Martin Eichholz, Eunyi Kim, BrendaWrigley khi nghiên cứu vấn đề này đã đưa ra nhận định chính sự tự do của nhữngngười làm báo chí quyết định cơ bản đến thông điệp Các tác giả viết: “Nhìn chung,ảnh hưởng từ các hoạt động truyền thông (ví dụ như sử dụng thông cáo báo chí, tínhkhả dụng của công nghệ, loại hình dịch vụ) có thể có tác động tương đối nhỏ đối vớitoàn xã hội, vì chúng có thể không phải là các yếu tố nhấn mạnh một cách có hệthống hoặc loại trừ một số nội dung nhất định để phục vụ các yêu cầu về thể chế.Ảnh hưởng từ các chuyên gia truyền thông cá nhân có thể hơi rộng hơn, nhưngnhững tác động tiềm tàng của hành động của các nhà báo còn hạn chế bởi vì họ lànhững phán đoán giá trị của cá nhân chứ không phải là các tổ chức lớn” [78, tr.223]
Các tác giả đã đề cập đến cái gọi là quyền bá chủ truyền thông, hệ tư tưởng.Người nào nắm và quản trị được thông tin thì họ có thể thay đổi được thông điệp.Các tác giả viết: “Khi nội dung truyền thông bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ở mức độcao hơn, tức là bên ngoài tổ chức truyền thông, thì cơ hội là rất tốt cho việc thaotúng nội dung truyền thông bằng các lực lượng muốn phục vụ mục đích của họ.Những ảnh hưởng quan trọng đến nội dung truyền thông từ hệ hệ tư tưởng mạnh mẽ(thường được gọi là quyền bá chủ) sẽ chỉ ra những ảnh hưởng rộng khắp và lan rộngđến xã hội” [78, tr.234]
Người làm truyền thông chịu trách nhiệm thiết kế thông điệp trên cả haiphương diện: Nội dung và cách thể hiện thông điệp bằng ngôn ngữ báo chí, thôngqua các thể loại báo chí Người làm truyền thông thuộc chủ thể truyền thông, chủthể truyền thông thiết kế ra thông điệp từ định hướng giá trị của thiết chế truyềnthông đại chúng Do vậy, sự ảnh hưởng có yếu tố chủ quan của người làm truyềnthông trong việc thiết kế thông điệp là một tất yếu khách quan Điều này thể hiện kỳvọng của nhà báo đối với thông điệp của họ Mặt khác, thông điệp truyền thông cótrách nhiệm phản ánh khách quan các biểu hiện của đời sống thực tế, diễn tiến củaquá trình này lại không phụ thuộc vào chủ quan của người làm báo Vì thế, thôngđiệp gắn với thực tế đời sống, tri thức đời sống được thể hiện trong ngôn ngữ báo
Trang 37chí một cách nhuần nhuyễn và có chủ đích sẽ tạo nên khả năng định hướng xã hội của truyền thông đại chúng, trong đó có vấn đề về gia đình.
3 Hướng nghiên cứu thông điệp về gia đình
Theo nghiên cứu của Rozana Petani, Khoa sư phạm, Đại học Zadar, Croatia,các phương tiện truyền thông đại chúng đã trở thành một phần của môi trường giađình và trong một số trường hợp, sự hiện diện và thông điệp của nó ảnh hưởng đếngia đình và các thành viên trong đó Giao tiếp gia đình, kinh nghiệm về giá trị bảnthân của mỗi thành viên, quy tắc gia đình và hệ thống giá trị c ng như mối quan hệgia đình với xã hội lớn hơn tác động đến các khía cạnh cơ bản của chất lượng môitrường gia đình Nghiên cứu xem xét tính hai mặt của sự hiện diện các phương tiệntruyền thông trong gia đình Không còn nghi ngờ gì nữa, truyền thông là nguồn của
sự giàu có về văn hóa và tinh thần và hữu ích thông tin; họ giúp chúng ta làm quenvới các phát triển xã hội, chính trị và đương đại và xu hướng, và cung cấp cơ hộitìm hiểu về thế giới Mặt khác, trong một số gia đình các phương tiện truyền thôngchiếm vị trí chính, tiếp xúc trực tiếp và tình cảm là rất hiếm và được thay thế bằngmột mối quan hệ ảo như giao tiếp qua điện thoại, nhắn tin, email, xem TV Cảm xúccủa sự ấm áp, sự hiểu biết và hỗ trợ lẫn nhau gần như bị gạt ra ngoài lề Bởi vì cầnphải nói chuyện với trẻ em về những gì chúng thấy và nghe, với ý định giúp chúngđánh giá và hiểu ý nghĩa của hướng dẫn đạo đức và bản chất của nội dung đượccung cấp trong các loại phương tiện truyền thông
Tuy nhiên, ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự tiếp xúc lớn của các giađình hiện đại với các phương tiện truyền thông đại chúng, như khủng hoảng giađình Cuộc khủng hoảng của các gia đình hiện đại có thể nói là đang có phần trongcăng thẳng nhịp sống, xa lánh, thiếu giao tiếp và trách nhiệm, và làm suy yếu cácmối quan hệ gia đình và xã hội Với tiềm năng di truyền của một đứa trẻ và tác độngcủa môi trường phát triển và hình thành tính cách của con, nuôi dạy con cái vô cùngquan trọng Tuy nhiên, sự vắng mặt của việc nuôi dạy con cái chất lượng đã mởđường cho nhiều tác động tiêu cực, bao gồm cả những tiêu cực đi qua phương tiệntruyền thông đại chúng (TV, báo, đài, Internet, phim ảnh, v.v.) Là phương tiệntruyền thông ảnh hưởng đến khủng hoảng của gia đình và những người đào sâu nó,chúng ta xem xét ở khía cạnh nó có phải là một trong những nhân tố chính tác độngđến việc giáo dục con cái chúng ta và "nói chuyện" với bọn trẻ thông qua các kênhquảng cáo, Internet, báo lá cải hoặc phương tiện truyền thông đang khuyến khíchmột cuộc đối thoại gia đình
Trang 38Nghiên cứu của các tác giả Lola V Adekunle, Isaac O Olaseha, Joshua D Adeniyitrên Tạp chí Trực tuyến Châu Phi về “Tác động tiềm tàng của truyền thông đại chúngđối với kế hoạch hóa gia đình trong một cộng đồng đô thị ở Tây Nam Nigeria” đã chỉ
ra, vai trò của thông điệp phát thanh và truyền hình là một yếu tố quan trọng trong việctạo ra và thay đổi các giá trị, ý tưởng và thái độ của mọi người trong Sức khỏe Cộngđồng Quy định sinh sản ở Nigeria vẫn chưa đáp ứng mức tối ưu Mục tiêu Do đónghiên cứu được thiết kế để đánh giá vai trò của phương tiện truyền thông đại chúng,đài phát thanh và truyền hình trong các thông điệp kế hoạch hóa gia đình Nghiên cứu
có sự tham gia của 503 phụ nữ và nam giới trong độ tuổi sinh đẻ tại quận trung tâm Ife,Tây Nam Nigeria Thông tin về người trả lời đặc điểm kinh tế xã hội thực hành kếhoạch hóa gia đình, kiến thức và thái độ của họ, nguồn thông tin và sử dụng cácphương pháp kế hoạch hóa gia đình bao gồm thói quen và sở thích truyền thông củangười trả lời c ng được thu thập Kết quả nghiên cứu cho thấy, đài phát thanh được tìmthấy là nguồn thông tin phổ biến nhất 55% báo cáo rằng họ nhận được tin nhắn kếhoạch hóa gia đình qua radio so với 10,1% qua truyền hình mặc dù 68,5% số ngườiđược hỏi có truyền hình và 89,1% có radio 77% số người được hỏi chưa bao giờ đếnphòng khám kế hoạch hóa gia đình Chương trình yêu thích nhất trên TV là kịch trongkhi chương trình radio là tin tức Kết luận nghiên cứu cho thấy sự cần thiết phải tăngcường và tích hợp thông điệp kế hoạch hóa gia đình vào phim truyền hình và tin tứctrên đài phát thanh đã được xác định vì điều này có thể đóng một vai trò quan trọngtrong kế hoạch hóa gia đình tại địa điểm này
Nghiên cứu của Khoa Thống kê, Đại học Jahangirnagar, Savar, Dhaka,Bangladesh về “Tác động của các chương trình kế hoạch hóa gia đình truyền thôngđại chúng đối với việc sử dụng biện pháp tránh thai hiện nay ở thành thịBangladesh” có sự tham gia của 871 phụ nữ Bangladesh thành thị hiện đang kết hôn
để đánh giá tác động của các chương trình kế hoạch hóa gia đình trên phương tiệntruyền thông đại chúng đối với việc sử dụng biện pháp tránh thai hiện nay Các phântích cho thấy, đài phát thanh đã đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền báthông điệp kế hoạch hóa gia đình giữa các khách hàng đủ điều kiện; 38% phụ nữ cóquyền truy cập vào một đài phát thanh đã nghe về tin nhắn kế hoạch hóa gia đìnhtrong khi con số cho TV và báo lần lượt là 18,5% và 8,5% Giáo dục, trẻ em và sửdụng biện pháp tránh thai hiện tại là những yếu tố dự báo quan trọng về việc tiếpxúc với bất kỳ thông điệp kế hoạch hóa gia đình truyền thông đại chúng nào Cómột mối quan hệ tiêu cực giữa việc cho con bú và việc sử dụng biện pháp tránh thaihiện nay cho thấy nhu cầu tránh thai thấp ở những phụ nữ đang cho con bú
Trang 39Trong vài thập kỷ qua, đã có một sự bùng nổ thông tin và lời khuyên về việcnuôi dạy trẻ em trên các phương tiện truyền thông đại chúng Trong hầu hết thể loạicủa phương tiện truyền thông đại chúng, từ sách, báo, tạp chí đến phát thanh, truyềnhình và internet, các thông điệp về nuôi dạy trẻ em đang được gửi đến các bậc cha
mẹ ở một mức độ dày đặc chưa từng có
Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về số lượng hoặc chất lượng của nhữngthông điệp đó, hoặc tác động của thông điệp đối với cha mẹ trong việc nuôi dạy concái Tương tự như vậy, chưa có nhiều sự tập trung tới các cơ hội được truyền thôngđưa ra để thông điệp về nuôi dạy trẻ em có tác động lớn hơn và tích cực hơn đến cácbậc cha mẹ tại một thời điểm Để giải quyết khoảng trống này, gần đây, Trung tâmTruyền thông Sức khỏe tại Trường Y tế Công cộng Harvard, với sự tài trợ của QuỹJohn D và Catherine T MacArthur, đã thực hiện một nghiên cứu về vai trò củaphương tiện truyền thông đại chúng trong giáo dục nuôi dạy con cái Mục tiêu củanghiên cứu là tập hợp các thông tin hiện có, đưa ra một số quan sát ban đầu và xúctác cho nghiên cứu, phản ánh, thảo luận, đồng thuận và hành động
Trong dự án hai năm này, Trung tâm Truyền thông Sức khỏe Harvard đã thuthập và phân tích dữ liệu về vai trò của phương tiện truyền thông đại chúng tronggiáo dục nuôi dạy con cái từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm nghiên cứu, báo cáo,
và mô tả dự án truyền thông Ngoài ra, hơn 200 cuộc phỏng vấn được thực hiện vớicác chuyên gia chủ chốt trong các lĩnh vực như chính sách truyền thông, nghiên cứulịch sử, nghiên cứu truyền thông, chăm sóc sức khỏe, quản lý tài trợ, giáo dục sứckhỏe, giáo dục phụ huynh, báo chí, xuất bản, phát thanh, kinh tế truyền thông, nhânchủng học, xã hội học, quảng cáo và quan hệ công chúng Một nhóm gồm tám nhàlãnh đạo phục vụ như các cố vấn chuyên gia, và một số người được phỏng vấn kháccung cấp thông tin và lời khuyên đáng kể
Phạm vi của dự án được xác định bao gồm các hoạt động truyền thông mà cha
mẹ và những người khác trong vai trò làm cha mẹ được chỉ định cụ thể là đối tượngmục tiêu Các dự án không được bao gồm trong đó đối tượng chính là trẻ em, mặc
dù rõ ràng đã thừa nhận rằng cha mẹ là đối tượng quan trọng đối với truyền thôngcủa trẻ em, với tư cách là người theo dõi và hòa giải trải nghiệm của trẻ em, là mụctiêu cuối cùng của phần lớn quảng cáo và nhiều thông điệp trong phương tiện truyềnthông của trẻ em, và như các thành viên trong gia đình rất có thể trải nghiệm và ảnhhưởng đến bất kỳ hiệu ứng truyền thông nào đối với hành vi của trẻ em Người ta
c ng thừa nhận rằng một số chương trình dành cho trẻ em và gia đình, như “Vùnglân cận của ông Rogers”, cung cấp các mô hình mạnh mẽ cho hành vi chăm sóc sức
Trang 40khỏe, và đôi khi cha mẹ báo cáo xem chúng vì mục đích này Cuối cùng, người ta
đã thừa nhận rằng sự hiện diện của các phương tiện truyền thông ảnh hưởng sâu sắcđến mô hình tương tác gia đình, nhờ vào số lượng tiêu thụ hàng ngày của trẻ em vàcha mẹ, một mình và cùng nhau, và bởi sự hiện diện của chúng như là "tiếng ồnnền" trong cuộc sống gia đình Sau đó, nghiên cứu tập trung vào các thông điệphướng đến các bậc cha mẹ về việc nuôi dạy con cái và thu thập một loạt các nghiêncứu và kinh nghiệm thực tế, dự án đã đưa ra một báo cáo về những điểm mạnh vàđiểm yếu đáng kể trong truyền thông về việc nuôi dạy con cái Dựa trên phân tíchnày, nghiên cứu đã đề xuất sáng kiến nhằm tận dụng điểm mạnh của truyền thông,giải quyết các điểm yếu và khai thác hiệu quả hơn tiềm năng đáng kể của thông điệpnuôi dạy trẻ em để hỗ trợ các nỗ lực hiện tại và tương lai thay mặt cho trẻ em, cha
mẹ và gia đình
Phân tích mới nhất của Trung tâm nghiên cứu Pew về dữ liệu khảo sát vàotháng 10/2020 sau khi nghiên cứu về khoảng cách giới trong việc chia sẻ tráchnhiệm gia đình của các cặp vợ chồng tại Mỹ khi dịch có dịch bệnh COVID-19 xảy
ra “For American couples, gender gaps in sharing household responsibilities persistamid pandemic” Kết quả nghiên cứu cho thấy, các ông bố hiện nay có xu hướngnói rằng họ dành thời gian thích hợp cho con cái hơn so với trước đại dịch, trong khiphần lớn cho biết họ dành quá ít thời gian cho gia đình và con cái Trong số tất cảnhững người trưởng thành đã kết hôn hoặc sống thử, 53% nói rằng mối quan hệtrong hôn nhân hoặc mối quan hệ tình cảm của họ hiện đang rất tốt, trong khi 37%nói rằng mọi thứ đang diễn ra khá tốt Khoảng 1/10 (9%) nói rằng mối quan hệ tìnhcảm của họ đang diễn ra không suôn sẻ hoặc đang gặp một số trục trặc Những chia
sẻ này hầu như không thay đổi so với một cuộc khảo sát của Trung tâm Nghiên cứuPew được thực hiện vào năm 2019, trước khi có sự bùng phát coronavirus Namgiới vẫn có xu hướng đánh giá tích cực mối quan hệ của họ hơn phụ nữ
Vào năm 2019, nam giới đã kết hôn và sống thử (49%) có xu hướng cao hơn
nữ giới (39%) cho biết họ rất hài lòng với cách phân chia công việc gia đình giữa họ
và người bạn đời của họ Khoảng cách đó đã tăng lên, tính đến tháng 10/2020, 55%đàn ông nói rằng họ rất hài lòng với khía cạnh này trong mối quan hệ của mình, sovới 38% ở phụ nữ đã chia sẻ năm 2019 Nam giới rất hài lòng với cách tiếp cận nuôidạy con cái của vợ /chồng hoặc bạn đời hơn phụ nữ (57% các ông bố so với 41%các bà mẹ rất hài lòng) và mức độ giao tiếp giữa họ và bạn đời (47 % nam giới chobiết họ rất hài lòng so với 40% nữ giới) Tỷ lệ các ông bố nói rằng họ dành thời gianthích hợp cho con cái ngày càng tăng Có lẽ sự thay đổi đáng chú ý nhất trong thái