TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM KHOA ĐÀO TẠO CHẤT LƯỢNG CAO TIỂU LUẬN MÔN HỌC PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG GVHD ThS Nguyễn Thị Tuyết Nga Mã LHP GELA220405 21 1 11CLC (Sáng thứ tư tiết 3 4) Nhóm SVTH 4A[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM
KHOA ĐÀO TẠO CHẤT LƯỢNG CAO
TIỂU LUẬN
GVHD: ThS Nguyễn Thị Tuyết Nga
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN: Tội giết người trong
Luật hình sự Việt Nam
THỨ
TỰ HỌ TÊN - MSSV
NHIỆM
ĐIỂM SỐ
1 Hoàng Đặng Hùng Soạn nội
dung Hoàn thành tốt
2 Mai Ngọc Phương Nhi Soạn nội
dung Hoàn thành tốt
3 Lê Thái Quốc Thắng Trình bày
Word Hoàn thành tốt
4 Nguyễn Trần Quốc
Tuấn
Trình bày Word Hoàn thành tốt
Nhận xét của giáo viên
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
KÝ TÊN Mục Lục
Trang 3I) I.PHẦN MỞ ĐẦU 3
1) Lý do chọn đề tài 3
2) Đối tượng nghiên cứu 4
3) Mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu 4
4) Bố cục 4
II) CHƯƠNG 1- QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI 5
1) Khái niệm, đặc điểm, yếu tố của cấu thành tội phạm 5
2) Các yếu tố cấu thành tội phạm: 5
3) Về chủ thể của tội phạm: 10
4) Về khách thể của tội phạm: 11
5) Ý nghĩa của cấu thành tội phạm: 12
6) Cấu thành tội phạm giết người 12
III) II CHƯƠNG 2 – THỰC TRẠNG TỘI PHẠM GIẾT NGƯỜI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 17
1) Thực trạng về tội giết người ở Việt Nam 17
2) Phân tích 3 vụ án tiêu biểu 19
3) Kiến nghị, giải pháp hạn chế 24
IV) TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 4I) I.PHẦN MỞ ĐẦU
1) Lý do chọn đề tài
Trong xã hội hiện đại, nhu cầu của con người ngày càng được đáp ứng nhiềuhơn Sự xuất hiện của các thiết bị công nghệ trong thời kì 4.0 đã và đang đem đếnnhững lợi ích nhất định đến từng người Nhưng cũng chính vì thế, mâu thuẫn giữangười và người đã dần thay đổi theo hình thái phức tạp hơn Việc sống trong xãhội hiện đại yêu cầu phải chịu đựng được nhiều áp lực hơn, từ công việc, gia đình,các mối quan hệ xã hội Chính những điều đấy làm cho suy nghĩ của mỗi ngườidần trở nên phức tạp hơn bao giờ hết Suy nghĩ ngày càng lệch lạc đi sẽ dẫn đếnnhững hành vi bị lệch lạc kéo theo, và chính điều này dẫn đến những hành vi, việclàm đang bị “thú hóa”, tức hành động theo chính bản năng mà không suy nghĩđược Từ những hành vi nhỏ nhặt như chửi bới, mắng mỏ cho đến những việc làmgây nguy hại trực tiếp đến sức khỏe vật lý của mọi người như đánh nhau, cố ý gâythương tích, đến những vụ việc hết sức nghiêm trọng như Giết người
Cần lưu ý rằng, tính mạng con người là một trong những khách thể quan trọnghàng đầu của luật pháp, không chỉ ở trong Việt Nam mà còn là quốc tế Tính mạngcon người là thiêng liêng nhất, dù bản thân đang ở trong nước Việt Nam hay ởnước ngoài thì đều được coi là bất khả xâm phạm Từ trước đến nay, hành vi xâmphạm đến tính mạng con người được luật hình sự Việt Nam quy định là hành vinguy hiểm nhất và có khung hình phạt vô cùng nghiêm khắc Tuy nhiên, tùy vàohoàn cảnh, đối tượng gây án và những điều kiện khác sẽ có những ảnh hưởng nhấtđịnh đến vụ án Ví dụ như, trong trường hợp chính bị hại cũng là người có lỗi,xâm phạm đến những quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo thì sẽ có những điềuluật riêng đã được ban hành, nhằm đem đến sự khách quan nhất trong từng trườnghợp của vụ án
Chính vì thế, việc nghiên cứu từ lý thuyết đến thực tiễn, phân tích rõ ràngnhững dấu hiệu pháp lý, những mâu thuẫn, đồng thời giải quyết được những kiếnnghị, vướng mắc về luật, những chú ý đáng lưu tâm, và những hạn chế về mặt luậtpháp trong những trường hợp của tội giết người, nên nhóm chúng tôi đã chọn đề
Trang 5tài: Tội giết người trong luật hình sự Việt Nam cho tiểu luận môn Pháp luật đại
cương cuối kì lần này
2) Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chủ đề tiểu luận là tội phạm giết người dựa trên Điều
123 Bộ Luật Hình Sự Việt Nam năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
3) Mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: phân tích rõ ràng những dấu hiệu pháp lý, đường lốigiải quyết và phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn, những mâu thuẫn, đồngthời giải quyết những kiến nghị, vướng mắc về luật, những chú ý và hạn chếcủa luật xung quanh tội Giết người
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biệnchứng, Chủ nghĩa; Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phân tích, tổng hợp,…
4) Bố cục
Gồm:
Chương 1: Quy định của pháp luật về tội giết người
Chương 2: Thực trạng của tội phạm giết người
Trang 6II) CHƯƠNG 1- QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
1) Khái niệm, đặc điểm, yếu tố của cấu thành tội phạm
i.) Cấu thành tội phạm là gì?
Tội phạm theo như quy định của Bộ luật hình sự hiện hành có giải thích đó là hành
vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ và được quy định trong Bộ luật hình sự Những hành vi có dấu hiệu tội phạm nhưng mức độ ảnh hưởng xã hội không đáng kể thì không được coi là tội phạm
Cấu thành tội phạm là tổng thể các dấu hiệu pháp lý đặc trưng (khách quan và chủ quan) được quy định trong Luật Hình sự thể hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội
cụ thể là tội phạm, tức là căn cứ vào các dấu hiệu đó một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm
Đặc điểm cơ bản của cấu thành tội phạm đó là:
+ Cấu thành tội phạm phải có các dấu hiệu pháp lý khách quan và chủ quan có tính chất bắt buộc; các dấu hiệu này phải phản ánh đúng bản chất của tội phạm để có thể phân biệt tội phạm này với tội phạm khác Ngoài các dấu hiêu bắt buộc thì cấu thành tội phạm còn có dấu hiệu riêng để phản ánh bản chất riêng của tội phạm cụ thể.+ Các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự
+ Phải tổng hợp đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm mới khẳng định hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật cấm
Trang 72) Các yếu tố cấu thành tội phạm:
i.) Về mặt khách quan của tội phạm:
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm ra ngoài thế giới khách quan, bao gồm hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan
hệ giữa hành vi với hậu quả, phương tiện, công cụ, phương pháp, thời điểm, … thực hiện tội phạm Cụ thể những dấu hiệu của mặt khách quan của tội phạm được thể hiện như sau:
+ Về hành vi khách quan
Dấu hiệu bắt buộc phải có ở tất cả tội phạm đó là hành vi khách quan, tức phải có hành vi nguy hiểm cho xã hội Nếu một người thực hiện hành vi không gây nguy hiểmcho xã hội, không thực hiện hành vi gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ thì không thể coi là tội phạm Hành vi nguy hiểm này được thể hiện bằng việc thực hiện hay không thực hiện hành động thuộc các trường hợp cấm của luật Người thực hiện hành vi biết hoặc có nghĩa vụ phải biết việc mình làm hay không thực hiện hành động mà từ đó gây nên nguy hiểm cho xã hội thì sẽ có hành vi khách quan để cấu thành tội phạm
Hành vi hành động là việc chủ thể thực hiện một việc mà quy định hình sự cấm Hầu hết các tội phạm trong Bộ luật Hình sự được thực hiện bằng hành vi hành động.Hành vi không hành động là việc chủ thể trong khi có đủ điều kiện để thực hiện một việc nhưng cố tình không làm Để truy cứu trách nhiệm với người thực hiện hành
vi không hành động phải xét đến các yếu tố, điều kiện để thực hiện nghĩa vụ hay thực hiện hành vi thuộc chuyên môn nghiệp vụ của mình nhưng người đó cố tình không làm Ví dụ như: trốn thuế, thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản nhànước, thiếu trách nhiệm để người bị giam trốn,…
Trang 8việc thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội,…), … Hậu quả có ý nghĩa quan trọng
để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm Hậu quả tác hại càng lớn thì mức độ nguy hiểm của tội phạm càng cao
+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm
Hành vi khách quan phải là nguyên nhân làm phát sinh, gây ra kết quả đó là hậu quả của tội phạm Dựa vào mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả có ý nghĩa xác định giai đoạn hoàn thành của tội phạm Tội có cấu thành hình thức được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội (ví như tội hiếp dâm, tội cưỡng dâm,…) Còn tội có cấu thành vật chất được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra hậu quả thực tế (ví như tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác,…)
Điều kiện của mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của tội phạm dựa vào: hành vi
vi phạm phải xảy ra trước thời điểm phát sinh hậu quả, trong hành vi phải chứa đựng khả năng thực tế, nguyên nhân trực tiếp phát sinh hậu quả, một hậu quả xảy ra có thể
do một hoặc nhiều hành vi gây ra
+ Về thời gian, địa điểm
Vấn đề bắt buộc phải chứng minh trong tất cả vụ án hình sự đó là tội phạm phải tồn tại ở thời gian và địa điểm nhất định Trong một số trường hợp thì dấu hiệu về thờigian, địa điểm là yếu tố bắt buộc để cấu thành tội phạm Ví dụ như: tội buôn lậu phải
có địa điểm thực hiện là qua biên giới hay tội giết người trong khi thi hành công vụ phải được thực hiện trong thời gian đang thi hành công vụ,…
+ Về công cụ, phương tiện, phương pháp thực hiện tội phạm
Các dấu hiệu về công cụ, phương tiện, phương pháp là những dấu hiệu của mặt khách quan Các dấu hiệu này không phải là dấu hiệu bắt buộc, có thể có hoặc không
để định tội Nếu trong một số tội phạm quy định dấu hiệu này là tình tiết định khung thì cơ quan, người tiến hành tố tụng phải chứng minh được để định danh tội phạm Ví
dụ như Tội đua xe trái phép thì phải chứng minh có xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ là phương tiện thực hiện hành vi
ii.) Về mặt chủ quan của tội phạm:
Trang 9Mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện bên trong của tội phạm Đó là những dấu hiệu về mặt tâm lý, tư tưởng của người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội bao gồm các dấu hiệu lỗi, động cơ, mục đích của tội phạm.
Các dấu hiệu này cụ thể được thể hiện như sau:
+ Về dấu hiệu lỗi
Lỗi là thái độ tâm lý của người thực hiện hành vi đối với hành vi nguy hiểm cho
xã hội và hậu quả do hành vi đó của mình gây ra, đây là dấu hiệu bắt buộc phải có ở mọi tội phạm Lỗi bao gồm lỗi cố ý (cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp) và lỗi vô ý (vô ý vì quá tự tin, vô ý vì cẩu thả)
Trong cấu thành tội phạm của phần lớn các tội phạm trong Bộ luật hình sự được quy định bởi hình thức lỗi cố ý trực tiếp Đối với một số tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức (hậu quả thực tế rất khó được xác định) thì cần xác định rõ ràng mức
độ hình dung về hậu quả để xác định tội phạm (ví dụ như tội vu khống, tội làm nhục người khác, )
Lỗi cố ý gián tiếp
Lỗi cố ý gián tiếp là việc người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra tuy không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng cố ý (có ý thức được hành vi) để mặc cho nó xảy ra Từ khái niệm rút ra được hai đặc trưng cơ bản về lỗi cố ý gián tiếp đó là: thứ nhất, người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi, hậu quả tất yếu xảy ra hoặc cóthể xảy ra; thứ hai, người phạm tội không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng bỏ mặc, chấp nhận hậu quả xảy ra
Lỗi vô ý vì quá tự tin
Trang 10Lỗi vô ý vì quá tự tin là việc người phạm tội có khả năng nhận biết được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng lại cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc cho rằng mình có thể ngăn ngừa được hậu quả Từ khái niệm trên lỗi vô ý quá tự tin thể hiện: thứ nhất, người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểmcủa hành vi và hậu quả có thể xảy ra; thứ hai, người phạm tội loại trừ khả năng hậu quả xảy ra.
Do phải có hậu quả thực tế diễn ra nên hầu hết các tội thực hiện với lỗi vô ý là các tội có cấu thành tội phạm vật chất
Lỗi vô ý vì cẩu thả
Lỗi vô ý vì cẩu thả là việc người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mặc dù pháp luật quy định cho người này phải biết và đủ điều kiện để biết về hành vi gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội Dấu hiệu biểu hiện của lỗi vô ý do cẩu thả là: thứ nhất, người phạm tội có điều kiện thấy trước hành vi có thể gây ra hậu quả và hậu quả thực tế có thể xảy ra; thứ hai, người phạm tội không có khả năng điều khiển được hành vi của mình, tức thực hiện hành vi không có ý chí
Đặc biệt, ngoài bốn loại hình thức lỗi trên cần chú ý đến yếu tố sự kiện bất ngờ:Trong trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Cần phải phân biệt được lỗi vô ý do cẩu thả và sự kiện bất ngờ đểđịnh tội vì một trường hợp phải truy cứu trách nhiệm hình sự còn một trường hợp thì không Người thực hiện hành vi có lỗi vô ý vì cẩu thả do người đó chủ quan nên không thấy trước được hậu quả trong điều kiện phải biết dẫn đến trường hợp này bị coi là tội phạm và chịu trách nhiệm hình sự Còn người thực hiện hành vi do sự kiện bất ngờ gây ra do nguyên nhân khách quan, không có điều kiện phải biết và dẫn đến hậu quả thực tế xảy ra, trong trường hợp này không bị coi là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự
+ Về động cơ, mục đích
Động cơ là động lực bên trong thúc đẩy con người thực hiện hành vi biểu hiện ra bên ngoài Mục đích là kết quả trong ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi Dovậy người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội có thể có động cơ phạm tội hoặc
Trang 11mục đích phạm tội, vì những tội có lỗi vô ý thì thường không có động cơ, mục đích rõ ràng trực tiếp đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội biểu hiện ra bên ngoài và đối với hậu quả mình gây ra.
3) Về chủ thể của tội phạm:
Chủ thể tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 bao gồm hai đối tượng:
cá nhân và pháp nhân thương mại
+ Cá nhân là chủ thể tội phạm phải là người đủ tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự
Về độ tuổi:
Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ một
số trường hợp luật có quy định khác Ví dụ như nhóm tội hối lộ, tham nhũng thì chủ thể đủ tuổi nhưng cần phải có chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi vi phạm
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong các tội phạm quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 như sau: Tội giết người (Điều 123), Tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134), Tội hiếp dâm (Điều 141), Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142), Tội cưỡng dâm (Điều 143), Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144), Tội mua bán người (Điều 150), Tội mua bán người dưới 16 người (Điều 151), tội cướp tài sản (Điều 168),Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169), Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170), Tội cướp giật tài sản (Điều 171), Tội trộm cắp tài sản (Điều 173), Tội hủy hoại hoặc
cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178), Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248), Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249), Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250), Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251), Tội chiếm đoạt chất ma túy(Điều 252), Tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 265), Tội đua xe trái phép (Điều 266), Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 286), Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 287), Tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác (Điều 289), Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290), Tội khủng bố (Điều 299), Tội phá
Trang 12hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303), Tội chếtạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 304).
Về năng lực trách nhiệm hình sự:
Trong quy định của pháp luật hình sự dùng cụm từ “tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự” và được giải thích đó là trong lúc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì người đó bị mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình Chỉ loại trừ trường hợp trên, chủ thể được coi là có năng lực trách nhiệm hình sự
+ Pháp nhân thương mại (bao gồm: doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác) là chủ thể của tội phạm khi:
Thứ nhất, có tư cách pháp nhân
Pháp nhân thương mại phải là tổ chức và được coi là có tư cách pháp nhân khi: được thành lập hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp hoặc các văn bản pháp luật khác có liên quan; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lậpvới cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh chính mình tham gia quan hệ pháp luật
Thứ hai, đủ điều kiện chịu trách nhiệm hình sự theo quy định Bộ luật hình sựPháp nhân thương mại chỉ chịu trách nhiệm khi có đủ tất cả điều kiện sau: thực hiện hành vi phạm tội nhân danh pháp nhân thương mại; thực hiện hành vi phạm tội vìlợi ích của pháp nhân thương mại; thực hiện hành vi phạm tội do có sự chỉ đạo, điều hành hay chấp nhận của pháp nhân thương mại và còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật
Như vậy pháp nhân thương mại là chủ thể của tội phạm khi có năng lực trách nhiệm hình sự sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận tư cách pháp nhân và hoạt động với mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận cho các thành viên
Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự thì không đương nhiên được loại trừ trách nhiệm của cá nhân thực hiện hành vi vi phạm
4) Về khách thể của tội phạm:
Khách thể của tội phạm là những mối quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo
vệ, bị tội phạm xâm hại, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại
Trang 13Những mối quan hệ được Bộ luật hình sự 2015 ghi nhận mà khi chủ thể thực hiện hành vi vi phạm xâm phạm thì sẽ có thể cấu thành tội phạm, đó là: độc lập, chủ quyền,thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, những vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật hình sự phải bị xử lý hình sự.
5) Ý nghĩa của cấu thành tội phạm:
Từ việc phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm ta thấy được ý nghĩa của nó như:+ Cấu thành tội phạm là một trong những điều kiện quan trọng nhất để định tội danh chính xác Nếu hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể nào không có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong pháp luật hình sự thì không thể đặt
ra vấn đề định tội danh
+ Cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý cần và đủ để truy cứu trách nhiệm người phạm tội Các cơ quan tư pháp hình sự khi có đầy đủ cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội Việc xác định đã có tội phạm được thực hiện chỉ có ý nghĩa khi hành vi nguy hiểm cho xã hội của chủ thể có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm tương ứng
+ Cấu thành tội phạm là căn cứ để người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọn đúng loại và mức hình phạt đối với người thực hiện hành vi phạm tội.+ Cấu thành tội phạm là yếu tố để đảm bảo cho các quyền con người và tự do của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự đồng thời hỗ trợ việc tuân thủ pháp luật và củng cố trật tự pháp luật trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Việt Nam
hiện nay (Luật sư Nguyễn Văn Dương, Cấu thành tội phạm là gì? Yếu tố cấu thành, ý
nghĩa của cấu thành tội phạm?, Luật Dương Gia, toi-pham-khai-niem-yeu-to-cau-thanh-y-nghia-cua-cttp,29/12/2021)
https://luatduonggia.vn/cau-thanh-6) Cấu thành tội phạm giết người
i.) Khái niệm
Giết người được hiểu là hành vi làm chết người khác một cách cố ý và trái phápluật
(Trong Luật hình sự Việt Nam)