Trong hệ thống pháp luật mỗi quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế, vấn đề nguồn của pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về pháp lý cũng như thực tiễn. ASEAN là một tổ chức quốc tế liên kết khu vực thành công trên thế giới. Vậy, nguồn luật xây dựng nên hệ thống pháp luật của tổ chức này có những đặc thù gì? Để làm rõ về vấn đề này, em xin chọn đề tài số 1: “Phân tích cấu trúc nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN, từ đó đánh giá vai trò của nguồn bổ trợ (Luật mềm – Soft law) đối với các hoạt động hợp tác của ASEAN”.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN: PHÁP LUẬT CỘNG ĐỒNG ASEAN
ĐỀ BÀI: 01
Trang 2Đề 1: Phân tích cấu trúc nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN, từ đó đánhgiá vai trò của nguồn bổ trợ (Luật mềm – Soft law) đối với các hoạt động hợptác của ASEAN.
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong hệ thống pháp luật mỗi quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế, vấn đềnguồn của pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về pháp lý cũng như thực tiễn.ASEAN là một tổ chức quốc tế liên kết khu vực thành công trên thế giới Vậy,nguồn luật xây dựng nên hệ thống pháp luật của tổ chức này có những đặc thù gì?
Để làm rõ về vấn đề này, em xin chọn đề tài số 1: “Phân tích cấu trúc nguồn của
pháp luật Cộng đồng ASEAN, từ đó đánh giá vai trò của nguồn bổ trợ (Luật mềm – Soft law) đối với các hoạt động hợp tác của ASEAN”.
NỘI DUNG
I Khái quát về pháp luật Cộng đồng ASEAN
1 Định nghĩa
Pháp luật Cộng đồng ASEAN là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật
do ASEAN xây dựng và ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ của Cộng đồngASEAN, phát sinh trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị - an ninh và văn hóa – xãhội1
2 Đặc điểm
Thứ nhất, quan hệ do pháp luật Cộng đồng ASEAN điều chỉnh:
+ Quan hệ do pháp luật Cộng đồng ASEAN điều chỉnh chủ yếu là quan hệ phátsinh giữa các quốc gia trong Cộng đồng ASEAN Ngoài ra, pháp luật Cộng đồngASEAN còn điều chỉnh quan hệ hợp tác trong một số lĩnh vực giữa ASEAN vớicác đối tác ngoài ASEAN (hợp tác ngoại khối)
+ Quan hệ pháp luật Cộng đồng ASEAN phát sinh trong tất cả các lĩnh vực hợptác kinh tế, chính trị - an ninh và văn hóa – xã hội Cộng đồng ASEAN bao gồm 3trụ cột là Cộng đồng chính trị - an ninh, Cộng đồng văn hóa – xã hội và Cộng đồngkinh tế Do vậy pháp luật Cộng đồng ASEAN cũng được phân chia thành ba lĩnhvực chính: Luật Cộng đồng chính trị - an ninh, Luật Cộng đồng văn hóa – xã hội,Luật Cộng đồng kinh tế ASEAN
Thứ hai, xây dựng pháp luật Cộng đồng ASEAN:
+ Xây dựng trên nguyên tắc tham vấn và đồng thuận
+ Mọi quyết định của ASEAN trước khi được đưa ra phải được bàn bạc, thảoluận giữa các quốc gia thành viên
Trang 4Giáo trình Pháp luật Cộng đồng ASEAN, trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb CAND, Hà Nội, 2016, trang 50.
Trang 5+ Tham vấn: Là quá trình lâu dài, dẫn đến chậm trễ, khó khăn trong việc raquyết định vì các nước thành viên có trình độ kinh tế, chính trị, văn hóa -xã hộikhác nhau.
+ Đồng thuận: Tạo ra sự bình đẳng, các quốc gia đều có tiếng nói trong việc raquyết định liên quan đến vấn đề khu vực
Thứ ba, về thực thi pháp luật: Phụ thuộc vào nội dung hợp tác, phạm vi hợp tác,
thực thi pháp luật Cộng đồng ASEN là nghĩa vụ của các bên có liên quan, đượcthực hiện thông qua hoạt động của quốc gia thành viên, thiết chế cộng đồng và đốitác của ASEAN
Thứ tư, về giám sát thực thi pháp luật và giải quyết tranh chấp:
+ Chức năng giám sát thực thi pháp luật của Cộng đồng ASEAN được quy địnhcho tất cả các thiết chế của Cộng đồng, từ Hội nghị cấp cao đến ban thư kí củaASEAN Quy chế này được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật củaASEAN
+ Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN bao gồm: giải quyết tranh chấp vềchính trị - an ninh, kinh tế - thương mại và trong một số lĩnh vực chuyên ngành
II Cấu trúc nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN
ASEAN là một tổ chức quốc tế liên chính phủ - chủ thể của luật quốc tế Vì vậy,nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN mang bản chất là nguồn của luật quốc tế.Nguồn của luật quốc tế bao gồm hai loại là nguồn cơ bản và nguồn bổ trợ Do đó,cấu trúc của nguồn luật của ASEAN cũng bao gồm hai loại:
1 Nguồn cơ bản
Nguồn cơ bản bao gồm điều ước quốc tế và tập quán quốc tế Những điều ướcquốc tế là nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN thực chất chính là nguồn luậtcủa tổ chức quốc tế liên chính phủ, làm cơ sở pháp lí điều chỉnh quan hệ giữa cácthành viên của tổ chức đó cũng như quan hệ giữa tổ chức quôc tế với tư cách làmột chủ thể độc lập trong quan hệ quốc tế với những chủ thể khác của luật quốc tế
Do đó, điều ước quốc tế của ASEAN bao gồm hai bộ phận
Một là, điều ước quốc tế được kí kết trong khuôn khổ ASEAN (được kí kết giữacác nước thành viên với nhau) làm cơ sở pháp lí cho sự ra đời và hoạt động củaASEAN, gồm tuyên bố Băng Cốc năm 1967, Hiến chương ASEAN năm 2007 vànhững điều ước thiết lập khuôn khổ hợp tác nội khối giữa các thành viên, bao gồm
Trang 6các điều ước được kí kết trong lĩnh vực chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa – xãhội.
Trang 7Hai là, điều ước quốc tế được kí kết giữa ASEAN với các chủ thể khác của luậtquốc tế nhằm điều chỉnh quan hệ hợp tác ngoại khối của Hiệp hội như Hiệp địnhthương mại tự do ASEAN – Trung Quốc, Hiệp định thương mại tự do ASEAN –Autrallia – New Zealand
Đối với tập quán quốc tế, mặc dù ASEAN không ghi nhân một tập quán riêngbiệt nào nhưng là một chủ thể của luật quốc tế nên ASEAN cũng phải tuân theonhững tập quán quốc tế phổ biến toàn cầu như các tập quán trong lĩnh vực ngoạigiao lãnh sự
Bên cạnh đó, các loại nguồn bổ trợ khác của luật quốc tế như các nguyên tắcpháp luật chung, phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế, hành vi pháp lý đơnphương, học thuyết về luật quốc tế cũng là một trong các loại nguồ bổ trợ củapháp luật Cộng đồng ASEAN Tuy nhiên, so với các văn bản có tính chất khuyếnnghị do ASEAN ban hành, các loại nguồn luật này cũng không được áp dụng phổbiến
III Đánh giá vai trò nguồn bổ trợ (Luật mềm – Soft Law) đối với các hoạt động hợp tác của ASEAN
Trong những năm vừa qua, hoạt động hợp tác của ASEAN phát triển cả về chiềurộng và chiều sâu, nó không chỉ diễn ra trong nội bộ tổ chức hoặc giữa các thànhviên của tổ chức mà còn được xúc tiến giữa ASEAN với các quốc gia ngoàiASEAN như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mĩ, Nga, với các thiết chế và các tổ chức
Trang 8quốc tế như Liên minh châu Âu (EU), Chương trình phát triển của Liên hợp quốc(UNDP), Liên
Trang 9hợp quốc, Để đạt được những kết quả trên, ta không thể không nhắc đến vai tròcủa hệ thống pháp luật và đặc biệt là luật mềm.
Nguồn bổ trợ (Luật mềm – Soft Law) gồm những văn kiện mặc dù không có giátrị pháp lí ràng buộc nhưng lại có ý nghĩa lớn đối với ASEAN trong việc địnhhướng hợp tác hoặc cụ thể hóa các nội dung hợp tác Những văn kiện này là sự giảithích, làm sáng tỏ các nội dung pháp lí quy định trong các điều ước quốc tế kí kếttrong khuôn khổ của ASEAN, đồng thời trong một số trường hợp là cơ sở hình
thành nên các điều ước quốc tế của ASEAN Ví dụ: Tuyên bố về cách ứng xử của
các bên ở Biển Đông (DOC) được ASEAN và Trung Quốc ký tháng 10 – 2002, coiđây là một bước quan trọng tiến đến hình thành Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông(COC) Nhân dịp này, ASEAN và Trung Quốc cũng ký Hiệp định khung về Hợptác kinh tế toàn diện ASEAN – Trung Quốc, theo đó dự kiến hoàn thành Khu vựcmậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc là năm 2010 với sáu nước ASEAN cũ vànăm 2015 với bốn nước ASEAN mới DOC không mang tính ràng buộc về mặtpháp lí, đơn thuần chỉ là tuyên bố chính trị Do đó tuyên bố này không có hiệu lựcthực tế nhằm ngăn chặn hay chế tài các hành động gây căng thằng trên Biển Đôngnhư bắt giữa ngư dân hay mở rộng các căn cứ quân sự trên các đảo hay bãi đá đãchiếm đóng Sau gần một thập kỷ DOC ra đời, ASEAN và Trung Quốc đã thôngqua được Bản quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC ngày 21/7/2011 tại Bali,Indonesia
Bản chất của luật mềm là đưa ra các quy tắc xử sự chung cho các chủ thể, tạonên sự khuyến khích, kêu gọi thực hiện hoàn toàn dựa trên tinh thần tự nguyện, tạocho các chủ thể có sự lựa chọn hành vi tối ưu cho mình Ở đây, sự tin tưởng và tựnguyện chính là nền tảng và là cơ sở của sự thỏa thuận Khi một vấn đề được đưa
ra thỏa thuận, tự bản thân các chủ thể nhận thức được rằng họ không thể nằm ngoài
sự thỏa thuận này; vì vấn đề đặt ra có nguy cơ đe dọa hoặc ảnh hưởng đến lợi íchcủa chính quốc gia đó nếu họ không chung tay cùng cộng đồng ngăn chặn và giảiquyết Trên cơ sở của sự tự nguyện, nếu một chủ thể vi phạm các quy tắc hay cácđiều kiện thỏa thuận, chủ thể này hoàn toàn không chịu bất cứ hình thức chế tàinào để phạt hay bắt buộc dừng lại mà chỉ đơn giản, chịu sự “nhắc nhở, phê bình”của các chủ thể tự nguyện khác hay tệ nhất là gánh chịu những dư luận không tốt
sẽ ảnh hưởng rất lớn đến vị thế và uy tín của chủ thể trên trường quốc tế Một khimột chủ thể quyết định tham gia vào tổ chức hay góp mặt trong một sự thỏa thuận,
Trang 10chứng tỏ chủ thể đó đã đồng ý với các điều khoản, quy định được đưa ra, nếu cố ý
vi phạm, thì đồng nghĩa
Trang 11với việc không tôn trọng tổ chức chung và các thành viên còn lại, đánh mất niềmtin của các chủ thể khác đối với mình Do đó, nếu một chủ thể bị các chủ thể khác
cô lập, thì sẽ trở nên cực kỳ bất lợi cho chủ thể đó trong việc phát triển và mở rộnggiao lưu, hợp tác quốc tế
ASEAN với sự đa dạng của các yếu tố kinh tế, văn hóa, địa lý và thể chế của cácquốc gia thành viên dẫn đến sự phức tạp và tồn tại sự không đồng nhất của các vấn
đề pháp lý Vì vậy, luật mềm cho ta thấy được ưu thế, đưa các lợi ích rõ ràng hơn
so với những quy định ràng buộc pháp lý phát sinh từ các điều ước, các quy định
và chỉ thị Có nhiều vấn đề có sự bất đồng sâu sắc, khó tìm được tiếng nói chunggiữa các quốc gia phát triển và những quốc gia đang phát triển về một số vấn đề.Luật mềm được xem như là một lựa chọn linh hoạt, nó tránh được sự cam kết ngaylập tức và kiên quyết thực hiện cho một số quốc gia cần có thời gian để thực hiệncam kết
Luật mềm giúp các quốc gia mạnh dạn hơn khi tham gia vào các quan hệ quốc tế
vì nó không mang tính ràng buộc pháp lý cao, các bên có thể nỗ lực thực hiện camkết tùy theo điều kiện của từng quốc gia cụ thể Đối với các quốc gia còn yếu hayđang phát triển luật mềm giúp các quốc gia tự tin hơn thì thực hiện cam kết, vìtrong cam kết mang tính mềm thường các chủ thể chỉ cần cố gắng, nỗ lực thực hiệnchứ không áp đặt cao về mặt kết quả phải thực hiện được
Nằm trong các nhóm nước đang phát triển như Việt Nam với điều kiện kinh tế
-xã hội còn nhiều hạn chế thì việc tham gia các Điều ước quốc tế, các Hiệp địnhquốc tế, dần tạo nên một quá trình cho sự phát triển cũng như hình thành mộtbước đệm thúc đẩy Việt Nam mạnh dạn hơn với “sân chơi” khu vực và quốc tế
KẾT LUẬN
Ngày nay, không một quốc gia nào trên thế giới có thể đứng cô lập tách biệtkhỏi hệ thống kinh tế, chính trị toàn cầu Sức ép quốc tế đang đòi hỏi mỗi quốc giaphải có những chính sách khong chỉ phù hợp với điều kiện trong nước mà còn phảitính đến những yếu tố quốc tế Với diễn biến của quá trình vận động trên phạm vitoàn cầu, những vấn đề toàn cầu mà một quốc gia riêng lẻ không thể giải quyết đòihỏi mối quan tâm sự phụ thuộc lẫn nhau và sự phối hợp của nhiều quốc gia trên thếgiới để có thể đi tới một giải pháp hữu hiệu
Trang 12DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Pháp luật cộng đồng ASEAN, NxbCông an nhân dân, Hà Nội, 2016
2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật quốc tế, Nxb Công an nhândân, Hà Nội, 2019
3 Nguyễn Thị Thuận, Pháp luật Công đồng ASEAN – Một số vấn đề lí luận vàthực tiễn, tạp chí Luật học số đặc san ASEAN, 2018
4 Hồ Ánh Nguyệt, Cộng đồng ASEAN – tương lai và triển vọng hợp tác, tạpchí Luật học số 09/2007
Trang 13BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN: PHÁP LUẬT CỘNG ĐỒNG ASEAN
ĐỀ BÀI: 01
Trang 14Đề 1: Phân tích cấu trúc nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN, từ đó đánhgiá vai trò của nguồn bổ trợ (Luật mềm – Soft law) đối với các hoạt động hợptác của ASEAN.
Trang 15MỞ ĐẦU
Trong hệ thống pháp luật mỗi quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế, vấn đềnguồn của pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về pháp lý cũng như thực tiễn.ASEAN là một tổ chức quốc tế liên kết khu vực thành công trên thế giới Vậy,nguồn luật xây dựng nên hệ thống pháp luật của tổ chức này có những đặc thù gì?
Để làm rõ về vấn đề này, em xin chọn đề tài số 1: “Phân tích cấu trúc nguồn của
pháp luật Cộng đồng ASEAN, từ đó đánh giá vai trò của nguồn bổ trợ (Luật mềm – Soft law) đối với các hoạt động hợp tác của ASEAN”.
NỘI DUNG
IV Khái quát về pháp luật Cộng đồng ASEAN
1 Định nghĩa
Pháp luật Cộng đồng ASEAN là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật
do ASEAN xây dựng và ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ của Cộng đồngASEAN, phát sinh trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị - an ninh và văn hóa – xãhội1
2 Đặc điểm
Thứ nhất, quan hệ do pháp luật Cộng đồng ASEAN điều chỉnh:
+ Quan hệ do pháp luật Cộng đồng ASEAN điều chỉnh chủ yếu là quan hệ phátsinh giữa các quốc gia trong Cộng đồng ASEAN Ngoài ra, pháp luật Cộng đồngASEAN còn điều chỉnh quan hệ hợp tác trong một số lĩnh vực giữa ASEAN vớicác đối tác ngoài ASEAN (hợp tác ngoại khối)
+ Quan hệ pháp luật Cộng đồng ASEAN phát sinh trong tất cả các lĩnh vực hợptác kinh tế, chính trị - an ninh và văn hóa – xã hội Cộng đồng ASEAN bao gồm 3trụ cột là Cộng đồng chính trị - an ninh, Cộng đồng văn hóa – xã hội và Cộng đồngkinh tế Do vậy pháp luật Cộng đồng ASEAN cũng được phân chia thành ba lĩnhvực chính: Luật Cộng đồng chính trị - an ninh, Luật Cộng đồng văn hóa – xã hội,Luật Cộng đồng kinh tế ASEAN
Thứ hai, xây dựng pháp luật Cộng đồng ASEAN:
+ Xây dựng trên nguyên tắc tham vấn và đồng thuận
+ Mọi quyết định của ASEAN trước khi được đưa ra phải được bàn bạc, thảoluận giữa các quốc gia thành viên
Trang 16Giáo trình Pháp luật Cộng đồng ASEAN, trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb CAND, Hà Nội, 2016, trang 50.
Trang 17+ Tham vấn: Là quá trình lâu dài, dẫn đến chậm trễ, khó khăn trong việc raquyết định vì các nước thành viên có trình độ kinh tế, chính trị, văn hóa -xã hộikhác nhau.
+ Đồng thuận: Tạo ra sự bình đẳng, các quốc gia đều có tiếng nói trong việc raquyết định liên quan đến vấn đề khu vực
Thứ ba, về thực thi pháp luật: Phụ thuộc vào nội dung hợp tác, phạm vi hợp tác,
thực thi pháp luật Cộng đồng ASEN là nghĩa vụ của các bên có liên quan, đượcthực hiện thông qua hoạt động của quốc gia thành viên, thiết chế cộng đồng và đốitác của ASEAN
Thứ tư, về giám sát thực thi pháp luật và giải quyết tranh chấp:
+ Chức năng giám sát thực thi pháp luật của Cộng đồng ASEAN được quy địnhcho tất cả các thiết chế của Cộng đồng, từ Hội nghị cấp cao đến ban thư kí củaASEAN Quy chế này được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật củaASEAN
+ Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN bao gồm: giải quyết tranh chấp vềchính trị - an ninh, kinh tế - thương mại và trong một số lĩnh vực chuyên ngành
V Cấu trúc nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN
ASEAN là một tổ chức quốc tế liên chính phủ - chủ thể của luật quốc tế Vì vậy,nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN mang bản chất là nguồn của luật quốc tế.Nguồn của luật quốc tế bao gồm hai loại là nguồn cơ bản và nguồn bổ trợ Do đó,cấu trúc của nguồn luật của ASEAN cũng bao gồm hai loại:
3 Nguồn cơ bản
Nguồn cơ bản bao gồm điều ước quốc tế và tập quán quốc tế Những điều ướcquốc tế là nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN thực chất chính là nguồn luậtcủa tổ chức quốc tế liên chính phủ, làm cơ sở pháp lí điều chỉnh quan hệ giữa cácthành viên của tổ chức đó cũng như quan hệ giữa tổ chức quôc tế với tư cách làmột chủ thể độc lập trong quan hệ quốc tế với những chủ thể khác của luật quốc tế
Do đó, điều ước quốc tế của ASEAN bao gồm hai bộ phận
Một là, điều ước quốc tế được kí kết trong khuôn khổ ASEAN (được kí kết giữacác nước thành viên với nhau) làm cơ sở pháp lí cho sự ra đời và hoạt động củaASEAN, gồm tuyên bố Băng Cốc năm 1967, Hiến chương ASEAN năm 2007 vànhững điều ước thiết lập khuôn khổ hợp tác nội khối giữa các thành viên, bao gồm