CẢM HỨNG THẾ SỰ THỂ HIỆN QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC NỬA CUỐI THẾ KỈ 19 1, Khái niệm Thế Đời, sự sự việc Thế sự là việc đời Cảm hứng thế sự là bày tỏ suy nghĩ, tình cảm của con người về hiện thực[.]
Trang 1CẢM HỨNG THẾ SỰ THỂ HIỆN QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC NỬA CUỐI THẾ KỈ 19
1, Khái niệm
Thế: Đời, sự: sự việc
Thế sự là việc đời.
Cảm hứng thế sự là bày tỏ suy nghĩ, tình cảm của con người về hiện thực cuộc sống, hiện thực xã hội.
2, Một số tác phẩm tiêu biểu:
*Chốn quê_ Nguyễn Khuyến
- Tác giả
1.Vài nét về tiểu sử, cuộc đời, những mốc quan trọng:
Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), hiệu Quế Sơn, quê Yên Đổ, Bình Lục,
Hà Nam
Gia đình: Nhiều người đỗ đạt, làm quan to dưới triều Lê – Mạc Đến đời cụ thân sinh thì nghèo túng
Đỗ đầu cá ba kì (Hương, Hội, Đình) nên được gọi là Tam nguyên Yên Đồ
Từng làm các chức quan dưới triều Nguyễn
Năm 1884, Nguyễn Khuyến xin về hưu, ở làng quê
2 Sự nghiệp sáng tác, những tác phẩm chính, vài nét về một số tác phẩm tiêu biểu:
Về số lượng: Nguyễn Khuyến để lại hơn tám trăm tác phẩm
Vẻ thể loại: thơ, câu đối, hát nói (viết bằng chữ Hán và chữ Nôm)
3 Một số đặc điểm nội dung và nghệ thuật:
– Về nội dung:
Trang 2Sáng tác của Nguyễn Khuyến thể hiện tâm sự yêu nước, u hoài trước sự đổi thay của thời cuộc
Khắc họa đậm nét khung cảnh làng quê và tâm tình của người nông dân Trào phúng thâm thúy, sâu cay
– Nghệ thuật thơ văn Nôm:
Sử dụng các thể văn chương quen thuộc: thất ngôn bát cú Đường luật câu đối, hát nói, song thất lục bát, thể nào cũng thành công
Đưa tiếng nói sinh hoạt, dân dã, bình dị vào các câu thơ truyền thống một cách tỉnh tế, sâu sắc, tự nhiên, hóm hỉnh
Đưa nhiều tục ngữ, thành ngữ, từ láy khiến lời thơ giàu chất tạo hình, gợi cảm
Sành bút pháp ước lệ truyền thống và bút pháp tả thực
4 Những đóng góp của tác giả cho nền văn học nước nhà:
– Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ lớn cuối cùng của thời trung đại
– Ông được mệnh danh là nhà thơ của dân tình và làng cảnh Việt Nam
- Tác Phẩm:
Nguyễn Khuyên là một con người luôn mang nỗi đau đời, đau cho nhân tình thế thái Cũng đă có một thời ông ra làm quan, làm quan đấy nhưng ngày đêm vẫn canh cánh trong lòng những nỗi niềm tất tả về cuộc sống Triều đình nhà Nguyễn đã gây cho ông một vết thương lòng nhức buốt Ông trở về quê làm bạn với cỏ cây, chim muông, núi đồi và sống một cuộc đời chan hòa giữa lòng nhân dân Có lẽ phải nói rằng chính cuộc sống nơi thôn quê bình lặng này đã làm cho Nguyễn Khuyến có được những vần thơ có giá trị để đời Là một người đã từng mười năm làm quan, ấy vậy nhưng khi trở về quê, ông lại rất dễ bắt nhịp với cuộc sống
Trang 3của những người nông dân khổ cực, bởi cao xa hơn hết ông có một tấm lòng giàu tình yêu thương và luôn trang trải với đời, với người
Ông chung nỗi buồn đau với dân tình xơ xác Đề tài trong thơ Nguyễn Khuyến trước hết là phong cảnh đồng quê, sinh hoạt nông thôn Đó là cảnh làm ăn thất bát, cảnh vỡ đê lụt lội, là lời than nợ hoặc lời thăm hối
ân cần Tất cả những tâm tình ây, ông nói đâu phải chỉ cho chính bản thân mình mà cho cả một làng quê nghèo đói, cho hết thảy những sô" phận nhỏ bé đang sông thoi thóp trong cơ hàn, nghiệt ngã
Người nông dân trong thơ ông hiện lên thật tất bật Ây vậy mà cuộc đời cũng có khá lên được đâu, hỏa hoạn này đến hỏa hoạn khác cứ kéo nhau
ập lên đôi vai đã quá mệt nhọc, vất vả của họ
Năm nay cày cấy vẫn chân thua
Chiêm mất đằng chiếm mùa mất mùa
Phần thuế quan Tây phần trả nợ
Nửa công đứa ở nửa thuê bò
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa
Chợ búa trầu cau chẳng giám mua
Tàn tiện thế mà sao chả khá
Nhờ trời rồi được mấy gian kho
(Chốn quê)
Cả bài thơ là một bức tranh hiện thực, trần trụi đến não lòng Quanh năm, cứ năm này qua năm khác, mùa này qua mùa khác nôi nhau, người dân phải “bán mặt cho đất”, “bán lưng cho trời” thế mà vẫn không thể nào ngóc đầu, khấm khá lên được Họ cật lực lao động đâu phải chỉ để
có miếng cơm nuôi miệng, mà còn phải trang trải bao nhiêu thứ nữa, nào
là thuế quan, nào là đứa ở, trả nợ Tằn tiện quá rồi, không dám ăn thế mà vẫn đói, vẫn khổ Cuộc sông của họ cứ quẩn quanh mùa này qua mùa khác và rất có thể là cả cuộc đời như thế, một cuộc đời chỉ lo miếng cơm manh áo mà đủ mệt Không đủ ăn chẳng phải là họ lười biếng, bê trễ công việc mà ĩà bởi
*Phố Hàng Song ( Tú Xương)
Trang 4- Tác giả:
Tiểu sử nhà thơ Trần Tế Xương
Nhà thơ Trần Tế Xương, tên lúc nhỏ là Trần Duy Uyên, đến khi đi thi Hương mới đổi là Trần Tế Xương (có bảng ghi là Kế Xương), tự Mặc Trai, hiệu Mộng Tích, ở khoa thi Quý Mão còn đổi là Cao Xương vì một mộng triệu không lành, nhưng cái tên quen thuộc trên thi đàn vẫn là Tú Xương Ông sinh ngày 10 tháng Tám năm Canh Ngọ (5.9 1870) ở làng
Vị “Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tính Nam Định (nay là phố hàng Nâu, TP Nam Định) trong một gia đình dòng dõi nho học Ông đi học sớm và học giỏi, mười lăm tuổi đã lều chõng đi thi Hương, nhưng mãi đến khoa thứ
tư (năm Giáp Ngọ – 1894) mới đỗ Tú tài Sau đó Tú Xương thí liền bôn khoa nữa, cho đến tận khoa Bính Ngọ (1906), cố giành cho được cái bằng Cứ nhân, nhưng đều hỏng cả Ngày rằm tháng Chạp năm Bính Ngọ (29.1.1907) Tú Xương về ăn giỗ ở quê ngoại (làng Đệ Tứ, huyện Mỹ Lộc), dọc đường gặp mưa, trời lại rét, ông bị cám nặng và mất ngay đêm đó Cuộc đời Tú Xương là cuộc đời của một nhà nho cuối mùa bất đắc chí Ông lớn lên chỉ kịp chứng kiến sự thất bại của các phong trào vũ trang chống Pháp, sự mở đầu của một chế độ mới trên đất nước mình – chế độ thực dân nửa phong kiến – mà ông thực sự căm ghét Ông sinh sau đẻ muộn, bước vào cửa Khổng sân Trình lúc Nhỏ học đã bắt đầu tàn
tạ, chế độ thi cử thối nát, cho nên dẫu tài năng nổi tiếng thần đồng, ông vẫn cứ trượt hoài trước cái bảng Cứ nhân thành Nam, chỉ một lần dính chút Tú tài “Đỗ đành may khỏi tiếng cha cu” Ông tự nhận mình là con người hào hoa, phóng khoáng, nhưng suốt đời vẫn không thoát ra khỏi cảnh nghèo túng, bần hàn… Những điều bất đắc chí đó đâu phải chỉ của riêng Tú Xương mà còn là của cả một lớp nho sĩ thất thế đương thời mà
Tú Xương là đại biểu Nó cũng là một trong những nhân tố góp phần hình thành cá tính nghệ thuật của Tú Xương
- Tác phẩm:
Tú Xương là nhà thơ trào phúng bậc thầy trong nền văn học Việt Nam Ngoài những bài thơ trào phúng sắc nhọn, lấy tiếng cười làm vũ khí chế giễu và đả kích sâu cay bộ mặt xấu xa, đồi bại của cái xã hội thực dân
Trang 5nửa phong kiến, ông còn có một số bài thơ trữ tình, chứa chất bao nỗi niềm của một nhà nho nghèo về tình người và tình đời sâu nặng
“Thương vợ” là bài thơ cảm động nhất trong những bài thơ trữ tình của
Tú Xương Nó là một bài thơ tâm sự, đồng thời cũng là một bài thơ thế
sự Bài thơ chứa chan tình thương yêu nồng hậu của nhà thơ đối với người vợ hiền thảo
Tú Xương có nhiều bài thơ, bài phú nói về vợ Bà Tú vốn là "con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ", một người con dâu giỏi làm ăn buôn bán, hiền lành được bà con xa gần mến trọng:
"Đầu sông bến bãi, đua tài buôn chín bán mười
Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào dơi nói thợ"
Nhờ thế mà ông Tú mới được sống cuộc đời phong lưu: "Tiền bạc phó cho con mụ kiếm - Ngựa xe chẳng thấy lúc nào ngơi"
"Thương vợ" là bài thơ cảm động nhất trong những bài thơ trữ tình của
Tú Xương Nó là bài thơ tâm sự, đồng thời cũng là bài thơ thế sự Bài thơ chứa chan tình thương yêu nồng hậu của ông Tú đối với người vợ hiền thảo của mình Sáu câu thơ đầu nói lên hình ảnh của bà Tú trong gia đình và ngoài cuộc đời: hình ảnh chân thực về một người vợ tần tảo, một người mẹ đôn hậu, giàu đức hi sinh
Hai câu thơ trong phần đề giới thiệu bà Tú là một người vợ rất đảm đang, chịu thương chịu khó Nếu như bà vợ của Nguyễn Khuyến là một phụ nữ "hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng, chân nam đá chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc" (câu đối của Nguyễn Khuyến) thì bà Tú là một người đàn bà:
Trang 6"Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng"
"Quanh năm buôn bán" là cảnh làm ăn đầu tắt mặt tối, từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác không được một ngày nghỉ ngơi Bà Tú "Buôn bán ở mom sông", nơi cái mảnh đất nhô ra, ba bề bao bọc sông nước; nơi làm ăn là cái thế đất chênh vênh Hai chữ ''mom sông" gợi tả một cuộc đời nhiều mưa nắng, một cảnh đời cơ cực, phải vật lộn kiếm sống, mới "Nuôi đủ năm con với một chồng" Một gánh nặng gia đình đè nặng lên đôi vai người mẹ, người vợ Thông thường, người ta chỉ đếm mớ rau, con cá, đếm tiền bạc, chứ ai "đếm" con,
"đếm" chồng (!) Câu thơ tự trào ẩn chứa nỗi niềm chua chát về một gia đình gặp nhiều khó khăn: đông con, người chồng đang phải "ăn lương vợ" Có thể nói, hai câu đầu, Tú Xương ghi lại một cách chân thực người
vợ tần tảo đảm đang của mình
Phần thực tô đậm thêm chân dung bà Tú, mỗi sáng mỗi tối đi đi về về
"lặn lội" làm ăn như "thân cò" nơi "quãng vắng" Ngôn ngữ thơ tăng cấp
tô đậm thêm nỗi cực nhọc của người vợ Câu chữ như những nét vẽ, gam màu nối tiếp nhau, bổ trợ và gia tăng: đã "lặn lội" lại "thân cò", rồi còn
"khi quãng vắng" Nỗi cực nhọc kiếm sống ở "mom sông" tưởng như không thể nào nói hết được! Hình ảnh "con cò", "cái cò" trong ca dao cổ: ''Con cò lặn lội bờ sông ", "Con cò đi đón cơn mưa ", "Cái cò, cái vạc, cái nông " được tái hiện trong thơ Tú Xương qua hình, ảnh "thân cò" lầm lũi, đã đem đến cho người đọc bao liên tưởng cảm động về bà Tú, cũng như thân phận vất vả, cực khổ, của người phụ nữ Việt Nam trong
xã hội cũ:
"Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông"
Trang 7"Eo sèo" là từ láy tượng thanh chỉ sự rầy rà bằng lời đòi, gọi liên tiếp dai dẳng; gợi tả cảnh tranh mua tranh bán, cảnh cãi vã nơi "mặt nước" lúc
"đò đông" Một cuộc đời "lặn lội", một cảnh sống làm ăn "eo sèo" Nghệ thuật đối đặc sắc đã làm nổi bật cảnh kiếm ăn nhiều cơ cực Bát cơm, manh áo mà bà Tú kiếm được "Nuôi đủ năm con với một chồng" phải
"lặn lội" trong mưa nắng, phải giành giật "eo sèo", phải trả giá bao mồ hôi, nước mắt giữa thời buổi khó khăn!
Tiếp theo là hai câu luận, Tú Xương vận dụng rất sáng tạo hai thành ngữ: ''một duyên hai nợ" và "năm nắng mười mưa", đối xứng nhau hài hòa, màu sắc dân gian đậm đà trong cảm nhận và ngôn ngữ biểu đạt:
"Một duyên hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công"
"Duyên'' là duyên số, duyên phận, "nợ" là cái "nợ" đời mà bà Tú phải cam phận, chịu đựng "Nắng", "mưa" tượng trưng cho mọi vất vả, khổ cực Các số từ trong câu thơ tăng dần lên: "một hai năm mười " làm nổi rõ đức hi sinh thầm lặng của bà Tú, một người phụ nữ chịu
thương chịu khó vì sự ấm no hạnh phúc của chồng con và gia đình "Âu đành phận" "dám quản công" giọng thơ nhiều xót xa thương cảm
Tóm lại, sáu câu thơ đầu, bằng tấm lòng biết ơn và cảm phục, Tú Xương
đã phác hoạ một vài nét rất chân thực và cảm động về hình ảnh bà Tú, người vợ hiền thảo của mình với bao đức tính đáng quý: đảm đang, tần tảo, chịu thương, chịu khó, thầm lặng hi sinh cho hạnh phúc gia đình Tú Xương thể hiện bút pháp điêu luyện trong sử dụng ngôn ngữ và sáng tạo hình ảnh Các từ láy, các số từ, phép đối, đảo ngữ, sử dụng sáng tạo
Trang 8thành ngữ và hình ảnh "thân cò" đã tạo nên ấn tượng và sức hấp dẫn của văn chương
Hai câu kết, Tú Xương sử dụng từ ngữ thông tục, lấy tiếng chửi nơi
"mom sông", lúc "buổi đò đông" đưa vào thơ rất tự nhiên, bình dị Ông
tự trách mình:
"Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không!"
Trách mình "ăn lương vợ" mà "ăn ở bạc" Vai trò người chồng, người cha chẳng giúp ích được gì, vô tích sự, thậm chí còn "hờ hững" với vợ con Lời tự trách sao mà chua xót thế! Ta đã biết, Tú Xương có văn tài, nhưng công danh dở dang, thi cử lận đận Sống giữa một xã hội "dở Tây
dở ta" chữ nho mạt vận, lúc mà "Ông nghè, ông cống cũng nằm co" cho nên nhà thơ tự trách mình, đồng thời cũng là trách đời đen bạc Ông không xu thời để vinh thân phì gia "tối rượu sâm banh, sáng sữa bò"
Hai câu kết là cả một nỗi niềm tâm sự và thế sự đầy buồn thương, là tiếng nói của một trí thức giàu nhân cách, nặng tình đời, thượng vợ con
mà gia cảnh nghèo Tú Xương thương vợ cũng chính là thương chính mình vậy Đó là nỗi đau thất thế của nhà thơ khi cảnh đời thay đổi!
Bài thơ "Thương vợ" được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật Ngôn ngữ thơ bình dị như tiếng nói đời thường nơi "mom sông" của những người buôn bán nhỏ, cách đây gần một thế kỉ Các chi tiết nghệ thuật chọn lọc vừa cá thể (bà Tú với "năm con, một chồng") vừa khái quát sâu sắc (người phu nữ ngày xưa) Hình tượng thơ hàm súc, gợi cảm: thương vợ, thương mình, buồn về gia cảnh thêm nỗi đau đời
"Thương vợ" là bài thơ trữ tình đặc sắc của Tú Xương nói về người vợ,
Trang 9người phụ nữ ngày xưa với bao tình cảm trân trọng tốt đẹp Hình ảnh bà
Tú được nói đến trong bài thơ rất gần gũi với người mẹ, người chị trong mỗi gia đình Việt Nam