1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đánh giá dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái rừng khu bảo tồn thiên nhiên cham chu, tỉnh tuyên quang

90 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đánh giá dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái rừng khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang
Tác giả Nguyễn Thị Hải Yến
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Hiểu
Trường học Đại học Thái Nguyên - Trường Đại học Nông Lâm
Chuyên ngành Khoa học Môi trường
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 2,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THỊ HẢI YẾN NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ DỊCH VỤ ĐIỀU TIẾT CỦA HỆ SINH THÁI RỪNG KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN CHAM CHU, TỈNH TUYÊN QUANG LUẬN VĂN

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ DỊCH VỤ ĐIỀU TIẾT CỦA

HỆ SINH THÁI RỪNG KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN CHAM CHU, TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Thái Nguyên, 2022

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ DỊCH VỤ ĐIỀU TIẾT CỦA

HỆ SINH THÁI RỪNG KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN CHAM CHU, TỈNH TUYÊN QUANG

Chuyên ngành: Khoa học Môi trường

Mã số ngành: 8 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Hiểu

Thái Nguyên, 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu được sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

HỌC VIÊN

Nguyễn Thị Hải Yến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn Thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ

Trước tiên, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến TS Nguyễn Văn Hiểu người đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến TS Võ Thanh Sơn cùng nhóm Đề tài KH&CN cấp Đại học Quốc gia Hà nội năm 2020, mã số QG.20.43 “Nghiên cứu đánh giá dịch vụ hệ sinh thái phục vụ phát triển bền vững tại khu bảo tồn Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang” đã không ngừng hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô trong khoa Môi trường và Phòng đào tạo – Đào tạo sau đại học, trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh

Thái Nguyên, ngày 22 tháng 11 năm 2022

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hải Yến

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

1.1 Cơ sở khoa học 4

1.1.1 Hệ sinh thái và dịch vụ hệ sinh thái 4

1.1.2 Giá trị của rừng và dịch vụ hệ sinh thái rừng 9

1.2 Tổng quan về Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Cham Chu 12

1.2.1 Lịch sử hình thành Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu 12

1.2.2 Vị trí địa lý 14

1.2.3 Địa hình, đá mẹ và đất đai 14

1.2.4 Khí hậu 16

1.2.5 Thuỷ văn 17

1.2.6 Điều kiện kinh tế - xã hội 17

1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về giá trị dịch vụ hệ sinh thái 19

1.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 19

1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 22

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 27

Trang 6

2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27

2.3 Nội dung nghiên cứu 27

2.4 Phương pháp nghiên cứu 27

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 27

2.4.2 Phương pháp viễn thám 28

2.4.3 Phương pháp Hệ thống thông tin địa lý và phương pháp bản đồ 29

2.4.4 Phương pháp chuyển giao giá trị 30

2.4.5 Phương pháp đánh giá và xây dựng bản đồ trữ lượng các bon 32

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

3.1 Hiện trạng và diễn biến sử dụng đất của Khu bảo tồn Cham Chu giai đoạn 1986-2020 36

3.2 Đánh giá tổng giá trị dịch vụ điều tiết của các hệ sinh thái trong Khu bảo tồn trong giai đoạn 1986 – 2020 44

3.3 Đánh giá giá trị dịch vụ điều tiết của các hệ sinh thái theo xã trong Khu bảo tồn Cham Chu trong giai đoạn 1986 – 2020 48

3.4 Đánh giá và xây dựng bản đồ tích tụ các-bon Khu bảo tồn Cham Chu 55

3.5 Đánh giá dịch vụ thụ phấn cho cây trồng của các xã thuộc Khu bảo tồn Cham Chu 65

CHƯƠNG IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68

4.1 Kết luận 68

4.2 Kiến nghị 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

PHỤ LỤC 76

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2 1 Chuyển đổi giá trị dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái cho Khu bảo tồn Cham Chu 31 Bảng 2 2 Hệ số chuyển đổi trữ lượng gỗ (m3) và sinh khối cho rừng nhiệt đới (tấn) (BCEF Biomass Conversion And Expansion Factors) 34 Bảng 2 3 Một số hệ số được sử dụng để tính toán lưu trữ các bon 34 Bảng 3.1 Diện tích các dạng sử dụng đất cho KBT Cham Chu qua các giai đoạn sử dụng ảnh viễn thám 37 Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất trong các xã của KBT Cham Chu năm 1986 39 Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất trong các xã của KBT Cham Chu năm 1998 40 Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất trong các xã của KBT Cham Chu năm 2007 41 Bảng 3.5 Hiện trạng sử dụng đất trong các xã của KBT Cham Chu năm 2017 42 Bảng 3.6 Hiện trạng sử dụng đất trong các xã của KBT Cham Chu năm 2020 43 Bảng 3.7 Một số loại hình dịch vụ điều tiết của các hệ sinh thái chính theo các loại sử dụng đất của KBT Cham Chu 46 Bảng 3.8 Ước tính giá trị dịch vụ điều tiết của các hệ sinh thái cho mỗi loại

sử dụng đất của KBT Cham Chu 47 Bảng 3 9 Ước tính giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái trong các xã của KBT Cham Chu 49 Bảng 3.10 Ước tính giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái trong các xã của KBT Cham Chu năm 1986 50 Bảng 3.11 Ước tính giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái trong các xã của KBT Cham Chu năm 1998 51 Bảng 3.12 Ước tính giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái trong các xã của KBT Cham Chu năm 2007 52 Bảng 3.13 Ước tính giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái trong các xã của KBT Cham Chu năm 2017 53

Trang 9

Bảng 3.14 Ước tính giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái trong các xã của KBT Cham Chu năm 2020 54 Bảng 3.15 Tổng trữ lượng gỗ theo các xã của KBT Cham Chu năm 2020 57 Bảng 3.16 Tổng sinh khối theo các xã của KBT Cham Chu năm 2020 58 Bảng 3.17 Tổng trữ lượng các bon theo các xã của KBT Cham Chu năm

2020 60 Bảng 3.18 Tổng tích tụ khí các-bon-nic (CO2) theo các xã của KBT Cham Chu năm 2020 61 Bảng 3.19 Tổng giá trị mua bán tín chỉ cacbon theo các xã của KBT Cham Chu năm 2020 63 Bảng 3.20 Hiệu quả của thụ phấn trong sản xuất nông nghiệp trong một số loài cây ăn quả chính tại các tại hai huyện của Khu bảo tồn Cham Chu 66 Bảng 3.21 Hiệu quả của thụ phấn trong sản xuất cam tại các xã của Khu bảo tồn Cham Chu giai đoạn 2015 – 2020 67

Trang 10

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 3.1 Phân vùng chức năng của Khu Bảo tồn Cham Chu (trái) và hiện trạng tài nguyên rừng trong KBT (phải) 36 Hình 3.2 Diễn biến sử dụng đất thuộc các xã của KBT 38 Hình 3.3 Giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái theo dạng sử dụng đất KBT Cham Chu giai đoạn 1986-2020 (triệu USD) 47 Hình 3.4 Giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái theo các xã của khu bảo tồn Cham Chu năm 1986 (Triệu USD) 50 Hình 3.5 Giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái theo các xã của khu bảo tồn Cham Chu năm 1998 (Triệu USD) 51 Hình 3.6 Giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái theo các xã của khu bảo tồn Cham Chu năm 2007 (Triệu USD) 52 Hình 3.7 Giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái theo các xã của khu bảo tồn Cham Chu năm 2017 (Triệu USD) 53 Hình 3.8 Giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái theo các xã của khu bảo tồn Cham Chu năm 2020 (Triệu USD) 55 Hình 3.9 Tổng trữ lượng gỗ phân theo các xã của KBT Cham Chu năm 2020 (m3) 57 Hình 3.10 Tổng sinh khối theo các xã của KBT Cham Chu năm 2020 (tấn) 59 Hình 3.11 Bản đồ trữ lượng gỗ của KBT Cham Chu (m3/ha) 59 Hình 3.12 Bản đồ sinh khối của KBT Cham Chu (tấn/ha) 59 Hình 3.13 Tổng trữ lượng các bon theo các xã của KBT Cham Chu năm 2020 (tấn) 60 Hình 3.14 Tổng tích tụ các bon theo các xã của KBT Cham Chu năm 2020 (tấn) 62 Hình 3.15 Bản đồ trữ lượng các bon của KBT Cham Chu (tấn/ha) 62 Hình 3.16 Bản đồ tích tụ khí CO2 của KBT Cham Chu (tấn/ha) 62 Hình 3.17 Tổng giá trị mua bán tín chỉ cacbon theo các xã của KBT Cham Chu năm 2020 (USD) 64 Hình 3.18 Bản đồ giá trị mua bán tín chỉ các bon (USD/ha) 64 Hình 3.19 Giá trị do thụ phấn đóng góp trong sản xuất cam trong các xã KBT Cham Chu giai đoạn 2015-2020 (Tỷ đồng) 67

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam được xem là trung tâm đa dạng sinh học của thế giới với các hệ sinh thái tự nhiên phong phú và đa dạng Hệ sinh thái rừng (HSTR) chiếm tỷ lệ lớn ở Việt Nam, bao gồm các kiểu HST: Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới; rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới; rừng lá rộng thường xanh trên núi đá vôi; rừng lá kim tự nhiên; rừng thưa cây họ dầu; rừng khô hạn tự nhiên; rừng tràm đầm lầy nước ngọt; rừng tre, nứa; rừng ngập mặn Các khu rừng ở Việt Nam là nơi cư trú và sinh sống của hầu hết các loài động, thực vật hoang dã trên cạn, đồng thời cũng là nơi có ĐDSH cao nhất Năm 1990, diện tích rừng là 9.175.000

ha, độ phủ của rừng chỉ chiếm 27,8%, nhưng nhờ phát triển trồng rừng mà tính đến hết ngày 31/12/2021, diện tích đất có rừng bao gồm cả rừng trồng chưa khép tán là 14.745.201 ha; trong đó, rừng tự nhiên là 10.171.757 ha; rừng trồng là 4.573.444 ha Diện tích đất có rừng đủ tiêu chuẩn để tính tỷ lệ che phủ toàn quốc

là 13.923.108 ha, tỷ lệ che phủ là 42,02%

Hệ sinh thái rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với con người và đặc biệt duy trì môi trường sống, đóng góp vào sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Hệ sinh thái rừng có vai trò trong việc phòng hộ đầu nguồn nhờ khả năng giữ đất, kiểm soát xói mòn, ngăn ngừa sự bồi lắng và tích tụ bùn, cát trong dòng chảy Bên cạnh đó, các hệ sinh thái rừng của Việt Nam cũng có khả năng điều tiết dòng nước, giảm thiểu lũ lụt và cải thiện chất lượng nước Có khả năng tích

tụ khí CO2, làm giảm lượng khí thải nhà kính

Tuyên Quang là một tỉnh miền núi nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam Đối với tỉnh Tuyên Quang, rừng là nguồn tài nguyên quý giá, là một trong những nguồn lực quan trọng cho quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế của tỉnh trước mắt và lâu dài Rừng là một bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, là nhu cầu, là đối tượng hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội,… của nhân

Trang 12

dân Tuyên Quang Trong suốt hai thập kỷ 1970-1990, tài nguyên rừng của Tuyên Quang đã suy giảm một cách nghiêm trọng, độ che phủ của rừng đạt 68% vào những năm 1970 giảm xuống 32% vào năm 1986 và đến năm 1991 thì độ che phủ của rừng chỉ còn 28% Hiện nay, tổng diện tích rừng của Tuyên Quang là 395.055,28 ha Trong đó diện tích rừng tự nhiên là 229.145,72 ha, diện tích rừng trồng là 165.909,56 ha và đang phấn đấu tăng độ che phủ của rừng đạt trên 64,8% vào năm 2025 Tuyên Quang có hai KBT thiên nhiên: KBTTN Cham Chu và KBTTN Na Hang Khu BTTN Cham Chu nằm trên địa phận hành chính của 5 xã, trong đó có 2 xã thuộc huyện Hàm Yên và 3 xã thuộc huyện Chiêm Hóa Tổng diện tích tự nhiên của 5 xã là 40.231 ha, trong khi đó diện tích của KBT là 15.590,9 ha, chiếm 38,8% diện tích tự nhiên của các xã

Cho đến nay, các giá trị kinh tế, xã hội và văn hóa của hệ sinh thái được coi như là “vốn tự nhiên” chưa được xem xét đầy đủ trong quá trình lập quy hoạch phát triển Điều này dẫn đến sự suy thoái hệ sinh thái, suy giảm đa dạng sinh học và làm giảm khả năng cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái, do đó làm suy yếu sự phát triển và hạn chế đáng kể các cơ hội về kinh tế và xã hội Biến đổi khí hậu và sự gia tăng các hiện tượng cực đoan khí hậu đang làm trầm trọng hơn các vấn đề mà mỗi quốc gia đang phải đối mặt Một trong những nguyên nhân gây biến đổi khí hậu là sự gia tăng của các khí thải nhà kính đặc biệt là khí CO2 Sử dụng bền vững các giá trị dịch vụ hệ sinh thái điều tiết để giải quyết các thách thức toàn cầu, như biến đổi khí hậu, không chỉ có ý nghĩa về mặt sinh thái, mà còn có cả ý nghĩa về mặt kinh tế

Đánh giá được giá trị của hệ sinh thái được xem như một công cụ hiệu quả để tính toán các lợi ích hữu hình và vô hình; cũng như giúp hình dung hậu quả từ việc suy thoái và mất đi của các dịch vụ hệ sinh thái Việc đánh giá giá trị dịch vụ hệ sinh thái là cần thiết để tăng cường nhận thức và thúc đẩy các hoạt động bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái Các hệ sinh thái “khỏe mạnh”

Trang 13

cung cấp các lợi ích to lớn cho cộng đồng, giúp cho việc đạt được các mục tiêu lớn hơn về xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững Xuất phát từ nhu

cầu thực tiễn trên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đánh giá dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái rừng khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang” nhằm đánh giá tổng quan giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái và khả

năng tích tụ các bon của khu bảo tồn loài và sinh cảnh Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá được giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái của Khu bảo tồn Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn 1986-2020

- Xây dựng được bản đồ trữ lượng các bon tại Khu bảo tồn Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang

- Xây dựng được bản đồ tích tụ các bon tại Khu bảo tồn Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Bổ sung kết quả giá trị dịch vụ điều tiết HST và khả năng tích tụ các bon của HST rừng làm cơ sở cho việc đánh giá hệ sinh thái tại Khu bảo tồn Thiên nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Xác định được giá trị dịch vụ điều tiết HST và xây dựng bản đồ trữ lượng các bon làm cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch phát triển bền vững khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang

Trang 14

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học

1.1.1 Hệ sinh thái và dịch vụ hệ sinh thái

a Hệ sinh thái

Hệ sinh thái là một hệ thống mở hoàn chỉnh bao gồm các quần xã sinh vật

và là khu vực sống của sinh vật còn được gọi là sinh cảnh Nói cách khác, hệ sinh thái là các quần thể gồm cả sinh vật có sự sống và không có sự sống, tất

cả cùng tồn tại và phát triển trong môi trường gọi là quần xã Những quần thể này ít nhiều có sự tương tác qua lại với nhau

Hệ sinh thái rừng bao gồm các loài sinh vật rừng và môi trường vật lý xung quanh Các nhân tố như nước, cây, đất,… đều giữ vai trò quan trọng cấu thành nên hệ sinh thái rừng Hệ sinh thái rừng giúp cân bằng sinh thái, nhờ lượng cây xanh lớn nên giúp ích khi Trái Đất đang gặp phải tình trạng hiệu ứng nhà kính Thành phần thực vật của rừng bao gồm cây thân gỗ, cây tái sinh, cây bụi, thành phần thảm tươi và thực vật ngoại tầng

– Yếu tố vô cơ: Bao gồm những nguyên tố và hợp chất hóa học có tác dụng

tổng hợp chất sống Yếu tố vô cơ có thể ở dạng khí, lỏng,…tham gia vào quá trình tuần hoàn vật chất

– Yếu tố hữu cơ: Là các chất giữ vai trò kết nối giữa yếu tố vô sinh và hữu

sinh; chất đó có thể là chất mùn, protein,…

Cấu trúc hệ sinh thái

Hệ sinh thái có 3 nhóm chính đó là:

Trang 15

– Sinh vật sản xuất: Còn được biết đến với tên gọi là sinh vật tự dưỡng, chủ yếu là các thực vật màu xanh, có khả năng quang hợp Các chức năng của nhóm sinh vật này là các hợp chất hữu cơ glucid, protein,…được tổng hợp từ các chất vô cơ có trong môi trường

– Sinh vật tiêu thụ: Gồm 3 bậc đó là 1,2,3 Nhóm này chủ yếu là động vật, sinh vật tiêu thụ bậc 1 tiêu thụ trực tiếp các sinh vật sản xuất; sinh vật tiêu thụ bậc 2 sẽ ăn sinh vật tiêu thụ bậc 1; sinh vật bậc 3 sẽ ăn sinh vật bậc 2

– Sinh vật phân hủy: Là các loại sinh vật, động vật nhỏ hoặc sinh vật hoại sinh,…có khả năng phân hủy chất hữu cơ Nhóm này sẽ bao gồm các nhóm sinh vật chuyển hóa chất vô cơ từ dạng này sang dạng khác

b Dịch vụ hệ sinh thái

Dịch vụ hệ sinh thái rừng (Forest Ecosystem Services) là lợi ích mang lại cho con người từ hệ sinh thái rừng (Mullan) Dịch vụ môi trường rừng (Forest Environment Services) nằm trong hệ thống dịch vụ hệ sinh thái rừng Trong đó dịch vụ môi trường rừ ng là những sản phẩm dịch vụ rừng cung cấp không phải

là sản phẩm trực tiếp như gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ

Dịch vụ hệ sinh thái rừng bao gồm:

Dịch vụ cung cấp: Đây là những sản phẩm có được từ các HST, bao gồm

lương thực, tơ sợi, nhiên liệu, nguồn gen, các chất sinh hóa, dược phẩm và thuốc

tự nhiên, các sản phẩm trang trí, nước ngọt

Các hệ sinh thái rừng của Việt Nam hiện đang cung cấp hàng loạt các hàng hoá khác nhau, được chia thành 3 nhóm: gỗ, củi và lâm sản ngoài gỗ (LSNG) Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2017), mỗi năm các hệ sinh thái rừng của Việt Nam cung cấp khoảng 18 triệu m3gỗ rừng trồng và rừng tự nhiên làm nguyên liệu để sản xuất bột giấy, ván dăm, trụ mỏ, dàn giáo, v.v Bên cạnh đó, mỗi năm các hệ sinh thái rừng của Việt Nam còn cung cấp khoảng 24,5 triệu tấn củi được sử dụng làm nhiên liệu cho các ngành công nghiệp dựa vào năng lượng nhiệt như chế biến thực phẩm, sản xuất đồ uống, v.v và được

Trang 16

sử dụng để nấu ăn và sưởi ấm trong các hộ gia đình Ngoài ra, hệ sinh thái rừng còn cung cấp hơn 60.000 tấn lâm sản ngoài gỗ có giá trị cho người dân và cho nền kinh tế Đến thời điểm hiện tại, khoảng 3.830 loài dược liệu (trong đó, 1.800 loài có giá trị dược lý), 500 loài tinh dầu, 620 loài nấm, 820 loài tảo, 40 loài mây, 76 loài cho nhựa thơm, 600 loài cho tannin, 823 loài cho dầu béo,

186 loài đặc hữu đã được tìm thấy ở Việt Nam Lâm sản ngoài gỗ được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là trong các hộ gia đình dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa (ví dụ, lá cây dùng làm thực phẩm cho gia súc, củi để nấu ăn, trái cây, hoa, mật ong, vỏ cây để làm thức ăn

và thuốc, v.v.) Lâm sản ngoài gỗ cũng là nguồn nguyên liệu thô để sản xuất nhiều mặt hàng có giá trị (như: tinh dầu, thủ công mỹ nghệ, trang sức, v.v.) phục

vụ nhu cầu trong nước lẫn xuất khẩu (Trần Thị Thu Hà, 2019)

Dịch vụ điều tiết: là những nguồn lợi có được từ hoạt động điều tiết

của các quá trình HST, bao gồm duy trì chất lượng không khí, điều tiết khí hậu, điều tiết nước, kiểm soát xói lở, lọc nước và xử lí chất thải, điều tiết dịch bệnh ở người, kiểm soát sinh vật, thụ phấn, phòng chống bão

Các hệ sinh thái rừng của Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc phòng

hộ đầu nguồn nhờ khả năng giữ đất, kiểm soát xói mòn, ngăn ngừa sự bồi lắng

và tích tụ bùn, cát trong dòng chảy Bên cạnh đó, các hệ sinh thái rừng của Việt Nam cũng có khả năng điều tiết dòng nước, giảm thiểu lũ lụt và cải thiện chất lượng nước Suy thoái rừng do khai thác bừa bãi và thay đổi sử dụng đất gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với khả năng phòng hộ đầu nguồn của hệ sinh thái này Ngoài ra, các hệ sinh thái rừng cũng giúp giảm lưu lượng nước chảy trên bề mặt và tăng khả năng thẩm thấu nước vào đất Theo Thái Phiên và Trần Đức Toàn (1998) (dẫn theo Trần Thị Thu Hà, 2019), tốc độ dòng chảy bề mặt bên dưới các tán rừng thấp hơn 2,5 đến 2,7 lần so với tốc độ dòng chảy tại khu vực canh tác nông nghiệp Lưu lượng dòng chảy bề mặt trong rừng tự nhiên thấp hơn 3,5 đến 7 lần so với rừng trồng Trong rừng tự nhiên, tốc độ thẩm thấu

Trang 17

nước vào đất là 16,8 mm/phút, trong rừng trồng, tốc độ này là 10,2 mm/phút

và ở các khu vực có cỏ và cây bụi thì tốc độ giảm xuống còn 2,1 mm/phút Rừng tự nhiên lá rộng thường xanh với độ che phủ 70-80% có thể ngăn ngừa 9,5-11,7% nước mưa rơi xuống đất, trong khi đó các thảm thực vật có độ che phủ 30 - 40% chỉ có thể ngăn ngừa được 5,7% Nếu độ che phủ của thảm thực vật giảm từ 70-80% xuống 30-40%, xói mòn đất sẽ tăng 42,2% và dòng chảy trên mặt đất sẽ tăng 30,4% Tương tự, nếu độ che phủ của các rừng tre nứa được giảm từ 70-80% xuống 40-50% thì tốc độ xói mòn sẽ tăng 27,1% và dòng chảy

bề mặt sẽ tăng 33,8% Các hệ sinh thái rừng với nhiều tầng tán có khả năng trữ nước trong mùa mưa và cấp nước trong mùa khô rất hiệu quả Những năm gần đây, lũ lụt đã xảy ra liên tiếp tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung, gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng cho tính mạng và tài sản của người dân Lũ lụt gia tăng có một phần nguyên nhân là do nạn phá rừng ở các khu vực đầu nguồn

(Trần Thị Thu Hà, 2019)

Dịch vụ văn hóa: Đây là những nguồn lợi phi vật chất mà con người

có được từ các HST thông qua sự làm giàu về tinh thần, phát triển nhận thức, suy nghĩ, sáng tạo và trải nghiệm về mỹ học Những dịch vụ này bao gồm

sự đa dạng về văn hóa, các giá trị tinh thần và tôn giáo, hệ thống tri thức, các giá trị giáo dục, cảm hứng, các giá trị mỹ học, các mối quan hệ xã hội, cảm giác về nơi chốn, các giá trị di sản văn hóa, giải trí và du lịch sinh thái

Các hệ sinh thái rừng là một phần rất quan trọng của văn hóa Việt Nam cả

về mặt tinh thần lẫn mặt giải trí Các nghiên cứu nhân chủng học tại Việt Nam

đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa hệ sinh thái tự nhiên với sinh kế và văn hóa của người dân tộc bản địa Ví dụ, các nhóm người bản địa ở Tây Nguyên rất gắn bó với rừng Họ sử dụng gỗ để xây dựng nhà truyền thống và các vật dụng khác trong nhà, sử dụng cây rừng để làm thuốc, thu nhặt các lâm sản ngoài gỗ

để làm lương thực, chất đốt Thêm vào đó, tất cả các nghi lễ văn hóa ở đây đều liên quan đến rừng và tài nguyên thiên nhiên Ngoài ra, hầu hết các hệ sinh thái

Trang 18

rừng có tính đa dạng sinh học cao và có vẻ đẹp hữu hình, lôi cuốn đều được quy hoạch thành các vườn quốc gia và rừng đặc dụng, cung cấp cơ hội cho nền công nghiệp giải trí tại Việt Nam, đặc biệt là ngành du lịch sinh thái – một ngành có nhiều tiềm năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giúp đa dạng hoá sinh

kế và xoá đói giảm nghèo thông qua việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp tại địa phương và tạo ra các cơ hội để người dân địa phương có thể tiếp thị các sản phẩm thủ công mỹ nghệ cũng như các loại lâm sản ngoài gỗ như mật ong, dược

liệu (Trần Thị Thu Hà, 2019)

Dịch vụ hỗ trợ: là những dịch vụ cần thiết cho sự sinh ra của tất cả

các dịch vụ HST khác Dịch vụ hỗ trợ khác với ba loại dịch vụ khác ở chỗ những tác động của nó đối với con người hoặc là gián tiếp hoặc diễn ra trong một khoảng thời gian rất dài Dịch vụ hỗ trợ bao gồm sản xuất sơ cấp, hình thành đất, chu trình dinh dưỡng, chu trình nước, sự cung cấp môi trường

sống,

Dịch vụ hỗ trợ của các hệ sinh thái rừng Việt Nam không có tác động rõ ràng và trực tiếp đến nền kinh tế nhưng chúng là nền tảng cho nhiều hoạt động kinh tế có lợi cho con người Các hoạt động sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào khả năng cung cấp như nước, cải thiện độ phì đất của các hệ sinh thái rừng Quá trình thụ phấn của nhiều loại cây trồng phụ thuộc vào việc môi trường xung quanh có duy trì được đủ số lượng các loài thụ phấn hay không Sự phụ thuộc của hoạt động sản xuất nông nghiệp vào các hệ sinh rừng thể hiện ở chỗ, bất kỳ thay đổi nào của hệ sinh thái rừng ngay lập tức sẽ gây ra những tác động đáng kể về năng suất của hệ thống nông nghiệp liên quan Các dịch vụ hỗ trợ của hệ sinh thái rừng không chỉ ảnh hướng đến địa điểm và hình thức canh tác

mà còn ảnh hưởng tới giá trị kinh tế của diện tích đất canh tác Mặc dù đất canh tác được định giá một phần bởi giá trị của cây trồng nhưng giá trị kinh tế của đất canh tác cũng phụ thuộc vào chi phí sản xuất có liên quan đến dịch vụ hệ

Trang 19

sinh thái như tăng cường độ phì, độ xốp của đất hay kiểm soát dịch bệnh (Trần Thị Thu Hà, 2019)

1.1.2 Giá trị của rừng và dịch vụ hệ sinh thái rừng

a Đối với lĩnh vực kinh tế

Rừng và hệ sinh thái rừng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường và an ninh quốc phòng trên toàn cầu Các sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ (LSNG) đang tạo sinh kế và thúc đẩy phát triển kinh tế trên toàn cầu Hiện nay tính trung bình trên toàn thế giới thu nhập

từ rừng chiếm tỉ trọng 28% trong tổng thu nhập của hộ gia đình trên toàn cầu Khi gặp rủi ro và thiên tai, tối thiểu 8% dân số toàn cầu dựa vào rừng như phao cứu an toàn đầu tiên Chand (2011) (dẫn theo Phạm Thu Thủy, 2021) cũng khẳng định rằng rừng cung cấp nguyên liệu thô cho hơn 5.000 sản phẩm với trị giá tối thiểu 23 triệu USD/năm trên toàn thế giới Hàng hóa và dịch vụ từ rừng đóng góp 450 tỷ USD/năm cho nền kinh tế toàn cầu Các quốc gia trên thế giới,

cả nước đang phát triển và đang phát triển đang ngày càng ghi nhận nhiều hơn giá trị kinh tế mà rừng và hệ sinh thái rừng đem lại (Phạm Thu Thủy, 2021)

Ở Mỹ, giá trị kinh tế của đa dạng sinh học tối thiểu là 57 tỷ USD trong

đó 0,7% tổng giá trị là từ việc tạo ra nguồn phân bón tự nhiên, 4,3% là đóng góp của dịch vụ thụ phấn, 8% là giá trị kinh tế của việc kiểm soát dịch hại của động vật ăn cỏ bản địa và 87% là giá trị của dịch vụ giải trí (Phạm Thu Thủy, 2021)

Ở Brazil, giá trị kinh tế về giá trị hấp thụ CO2 ở rừng Amazon được ước tính là 1.625USD/ha/năm, trong đó rừng nguyên sinh là 4.000 – 4.400 USD/ha/năm, rừng thứ sinh là 1.000 – 3.000 USD/ha/năm và rừng thưa là 600 – 1,000 USD/ha/năm Giá trị của lâm sản ngoài gỗ gấp 10 lần so với gỗ khai thác và cao hơn hai lần so với giá trị của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất

ở rừng nhiệt đới Amazon (Phạm Thu Thủy, 2021)

Trang 20

Ở Úc, Dịch vụ điều tiết cacbon của hệ sinh thái là 6$–120$/ha/năm tại Nam Úc Giá trị đóng góp của rừng vào du lịch sinh thái là 1,5$–10,2$/ha/năm (Phạm Thu Thủy, 2021)

b Đối với văn hoá, xã hội

Rừng và dịch vụ sinh thái rừng cung cấp nhiều giá trị xã hội và văn hóa quan trọng Rừng và ngành lâm nghiệp tạo cơ hội việc làm cho xã hội Ngành lâm nghiệp tạo ra 45,15 triệu việc làm chính thức và 60 triệu việc làm không chính thức trên toàn thế giới với tổng thu nhập tối thiểu đạt 580 tỉ USD mỗi năm Đặc biệt với ngành lâm sản ngoài gỗ bao gồm thu hái, trồng trọt và buôn bán, chế biến lâm sản ngoài gỗ mang lại việc làm cho 1,5 tỉ người ở thành thị nông thôn (Phạm Thu Thủy, 2021)

Rừng đóng góp vào đảm bảo an ninh lương thực Với nhu cầu ngày càng tăng từ dân số dự kiến đạt 9 tỷ người vào năm 2050, đảm bảo rằng tất cả mọi người và mọi quốc gia đều được tiếp cận với thực phẩm đầy đủ và bổ dưỡng được sản xuất theo phương thức bền vững về mặt môi trường, kinh tế, và văn hóa xã hội là một trong những thách thức lớn nhất của thế kỉ 21 (Phạm Thu Thủy, 2021)

Tại Việt Nam, rừng và các sản phẩm từ rừng cũng đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo dinh dưỡng và sinh kế của người dân Tại Vườn Quốc Gia Cát Tiên, người dân hiện thu hoạch trên 100 loài thực vật để dùng cho bữa ăn hàng ngày và bán ra ngoài Tại vùng Tây Bắc, Việt Nam, người H’mong đang dùng tối thiểu 249 loài cây vừa để dùng cho bữa ăn, chữa bệnh và tạo ra nguồn thu nhập Tại Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, các loại rau dại từ rừng đóng góp đáng kể vào lượng vi chất dinh dưỡng tổng thể, chủ yếu là lượng hấp thụ caroten, vitamin C và canxi cho phụ nữ ở các khu vực này Việc thu hái và bán các loại lâm sản ngoài gỗ như măng, cỏ chổi và rau rừng đã giúp người dân vượt qua tình trạng thiếu lương thực trầm trọng tại nhiều địa phương tại Việt Nam Vùng cao phía Nam bắc Việt có sự phát triển nhanh chóng của

Trang 21

thị trường hàng hóa cho nhiều loại lâm sản ví dụ như cây thảo quả đen (Amomum aromaum) đã được ghi nhận là nguồn thu nhập chủ đạo cho nhiều

hộ gia đình dân tộc thiểu số ở vùng cao này (Phạm Thu Thủy, 2021)

c Đối với môi trường

Rừng bao phủ 30% diện tích đất trên thế giới và là nơi sinh sống của khoảng 90% các loài động vật, thực vật, côn trùng và chim trên đất liền Rừng cũng là một trong những bể chứa carbon lớn nhất thế giới, hấp thụ 2,4 tỷ tấn carbon dioxide mỗi năm và lưu trữ hàng tỷ tấn (Smith T, 2012) Rừng lưu trữ các-bon, điều hòa khí hậu ở quy mô địa phương, khu vực và lục địa, bằng cách tạo ra độ ẩm và lượng mưa trong khí quyển, đồng thời kiểm soát nhiệt độ Mất rừng và suy thoái rừng làm giảm sự thoát hơi nước, do vậy sẽ làm giảm lượng mưa ở một số vùng tới 30% lượng thông thường (Climate Change Post, 2017) Đất rừng dự trữ khoảng 60% trong tổng lượng carbon dự trữ trong bể chứa cacbon trên cạn Khoảng 30% CO2 do con người tạo ra là từ việc phá rừng (Wouter VG và Martijin S, 2019) Houghton và cộng sự (2015) cho rằng rừng nhiệt đới có thể bù đắp phần lớn lượng carbon thải ra từ việc giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch, giúp ổn định và sau đó giảm nồng độ CO2 trong khí quyển Ngoài ra, 75% nguồn nước trên thế giới đến từ các khu rừng cung cấp cho hơn 90% dân số toàn cầu Tại một số nước phát triển, năng lượng gỗ cung cấp gần 25% tổng nguồn cung năng lượng (Unece, 2021)

Nhận thức được vai trò của rừng và ngành lâm nghiệp, Điều 5 Thỏa Thuận Paris đã nhấn mạnh vai trò về tầm quan trọng của rừng trong giảm thiểu

và thích ứng biến đổi khí hậu đồng thời thúc đẩy về cơ chế giảm phát thải tự phá rừng và suy thoái rưng (REDD+) Ngành lâm nghiệp cũng được coi là ngành chủ đạo trong Cam Kết tự nguyện quốc gia (NDCs) của hơn 75% quốc gia trên toàn thế giới và trên 85% quốc gia tại Châu Á Thái Bình Dương Tính tới thời điểm năm 2020, trên 86% NDCs toàn cầu đề cập tới kinh tế xanh liên quan đến rừng ngập mặn (Phạm Thu Thủy, 2021)

Trang 22

Đa dạng sinh học của rừng cũng được coi là một dịch vụ hệ sinh thái quan trọng của toàn cầu nhưng cho tới nay giá trị kinh tế của đa dạng sinh học (ĐDSH) vẫn chưa được hiểu đầy đủ do nhiều chức năng quan trọng của đa dạng sinh học không thể được lượng hóa và thương mại trên thị trường (Knoke et al, 2020) Có nhiều cách hiểu đa dạng sinh học, từ việc nhìn nhận những sự phong phú của loài và số lượng loài, cho tới chức năng hệ sinh thái, trách nhiệm của các nước phát triển trả cho các nước đang phát triển để các nước này bảo vệ giá trị hệ sinh thái trên toàn cầu (Hanley N, Perrings C, 2019) Giá trị kinh tế trực tiếp của tính đa dạng sinh học là những giá trị của các sản phẩm sinh vật mà được con người trực tiếp khai thác và sử dụng cho nhu cầu cuộc sống của mình Còn giá trị gián tiếp là những lợi ích bao gồm số lượng và chất lượng nước, bảo

vệ đất, tái tạo, giáo dục, nghiên cứu khoa học, điều hòa khí hậu và cung cấp những phương tiện cho tương lai của xã hội loài người

1.2 Tổng quan về Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Cham Chu

1.2.1 Lịch sử hình thành Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu

Khu bảo tồn thiên nhiên nằm trên địa phận hai huyện Hàm Yên và Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Năm 2000 đã được Cục Kiểm lâm - Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn đề xuất vào danh mục các khu rừng đặc dụng Việt Nam trực thuộc sự quản lý của UBND tỉnh Tuyên Quang Theo Tổ chức Động thực vật Quốc tế (FFI) và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu là một điển hình về sự đa dạng sinh học cả về hệ sinh thái rừng, thảm thực vật rừng và động thực vật rừng; đặc biệt có loài Voọc mũi hếch, là loài quý hiếm và đặc hữu của Việt Nam và Thế giới

Năm 2001, Chi cục Kiểm lâm Tuyên Quang đã phối hợp với Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật tiến hành xây dựng Dự án Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu, UBND tỉnh Tuyên Quang phê duyệt tại Quyết định số 1536/QĐ-

UB ngày 21 tháng 9 năm 2001 và được ghi vào trong tổng số 62 Khu bảo tồn thiên nhiên thuộc hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam

Trang 23

Năm 2005, thực hiện Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 05/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất) và văn bản số 843/BNN-KL ngày 06/04/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc rà soát rừng đặc dụng; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tuyên Quang đã rà soát quy hoạch lại rừng đặc dụng Cham Chu, làm cơ sở cho việc thực hiện quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Khu Bảo tồn thiên nhiên Cham Chu Theo kết quả rà soát, Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu nằm trên địa phận 5 xã: Yên Thuận, Phù Lưu - huyện Hàm Yên; Hạ Lang, Trung Hà, Hoà Phú - huyện Chiêm Hoá; với quy

mô 15.590,9 ha

Thực hiện Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004, Luật Đa dạng sinh học năm 2005, Luật Bảo vệ môi trường năm 2008; Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng, Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11/11/2011 của Bộ NN

và PTNT về hướng dẫn việc thi hành Nghị định số 117/2010/NĐ-CP; Quyết định số 1770/QĐ- ngày 31/12/2012 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc điều chỉnh quy hoạch phân 3 loại rừng (phòng hộ, đặc dụng, sản xuất) tỉnh Tuyên Quang; Quyết định số 523 ngày 31/12/2012 của UBND tỉnh Tuyên Quang "về việc phê duyệt Quy hoạch Bảo vệ phát triển rừng tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2011-2020"; Khu BTLSC Cham Chu nằm trên địa phận 5 xã: Yên Thuận, Phù Lưu - huyện Hàm Yên; Hạ Lang, Trung Hà, Hoà Phú - huyện Chiêm Hoá; với quy mô 15.263,2 ha

Khu Bảo tồn thiên nhiên Cham Chu có chức năng và nhiệm vụ chính như sau:

- Bảo vệ nguyên vẹn các hệ sinh thái rừng tự nhiên hiện có;

- Bảo vệ nguồn gen các loài động vật , thực vật quý hiếm, đặc biệt là các loài động thực vật đặc hữu và cảnh quan thiên nhiên;

Trang 24

- Tổ chức công tác tuyên truyền và giáo dục phổ cập cho nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường

- Góp phần ổn định và nâng cao đời sống cho người dân trong vùng đệm của Khu Bảo tồn thiên nhiên Cham Chu

- Phía Đông giáp các xã Minh Quang, Tâm Mỹ, Phúc Thịnh, Tân Thịnh của huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang

- Phía Tây giáp xã Yên Lâm và Yên Phú, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang

- Phía Nam giáp xã Bình Xa, huyện Hàm Yên và xã Yên Nguyên, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang

- Phía Bắc giáp huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang

Diện tích quy hoạch của khu bảo tồn đến năm 2020 tầm nhìn đến năm

2030 là 15 262,3 ha (Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, 2014b) Hiện khu bảo tồn thuộc sự quản lý của Hạt kiểm lâm Khu BTTN Chạm Chu thuộc Chi cục Kiểm lâm, sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tuyên Quang

1.2.3 Địa hình, đá mẹ và đất đai

1.2.3.1 Địa hình

Phần lớn diện tích Khu bảo tồn loài sinh cảnh Cham Chu có kiểu địa hình núi trung bình (701 - 1700 m); độ cao trung bình toàn khu vực khoảng 900m Có ba đỉnh cao ở trung tâm gồm Cham Chu (1.587m), Pù Loan

Trang 25

(1.154m) và Khau Vuông (1.218m) Có thể chia địa hình Khu BTLSC Cham Chu thành một số kiểu sau:

- Phía Tây - Bắc có hệ thống núi đá vôi nằm trên địa bàn 2 xã Trung Hà

và Yên Thuận; các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam (núi Khuổi

My, Núi Cánh Tiên, núi Quân Tinh)

* Địa hình đồng bằng:

- Phía Đông núi Cham Chu là dải đất tương đối bằng phẳng dài hơn 21

km (đường chim bay) Là nơi sinh sống của hầu hết dân cư xã Trung Hà, Hà Lang và Tân An;

- Phía Tây là dải đất bằng dài hơn 20 km; nơi sinh sống, định cư và canh tác của 5 xã Yên Thuận, Bạch Xa, Minh Khương, Minh Dân và Phù Lưu, huyện Hàm Yên

* Kiểu địa hình ngập nước:

Ngoài 2 kiểu trên, địa hình ngập nước cũng được coi là khá quan trọng, tuy diện tích không lớn nhưng nó đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành

vi khí hậu của kiểu sinh thái ngập nước, là nguồn cung cấp nước, hình thành hệ

Trang 26

sinh thái tự nhiên giàu tính đa dạng sinh học của khu vực; địa hình này tồn tại

ở các dạng: Ao, hồ, sông, suối và các thủy vực

1.2.3.2 Đá mẹ và đất đai

- Đá mẹ: Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam, đất đai thuộc huyện Hàm Yên, Chiêm Hóa và khu vực Khu Bảo tồn thiên nhiên Cham Chu được hình thành từ sản phẩm phong hóa của một số loại đá mẹ chủ yếu là: đá phiến,

đá cát kết, đá phiến kết tinh và các đá biến chất khác

- Một số loại đất chính:

+ Đất Feralit màu đỏ vàng trên núi trung bình, núi cao: Chủ yếu tập trung ở độ cao từ 700m - 1700m so với mặt nước biển, loại đất này có quá trình Feralit yếu, quá trình mùn hoá tương đối mạnh, là vùng phân bố của các thảm rừng tự nhiên

+ Đất Feralit màu vàng trên núi thấp: Phân bố ở độ cao từ 300 - 700m, hình thành trên các loại đá mẹ sa thạch, phiến thạch, là vùng phân bố các thảm rừng tự nhiên phục hồi sau khai thác

+ Đất đá vôi thung lũng: đất có tính kiềm, được hình thành từ sản phẩm phong hóa của đá sa thạch, biến chất, đá vôi; thích hợp với một số loài cây ăn quả có múi (Cam, chanh )

+ Đất bồn địa và thung lũng: Bao gồm đất phù sa mới, cũ, sản phẩm đất

dốc tụ, sản phẩm hỗn hợp; loại đất này được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp 1.2.4 Khí hậu

Khí hậu của Khu BTTN Cham Chu có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa hè nóng, ẩm; mùa đông khô, lạnh Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 - 9, khí hậu ẩm, mưa nhiều Mùa khô từ tháng 10 kéo dài đến tháng 3 năm sau, kèm theo gió lạnh và khô Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22,9oC Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất (tháng 1) xuống đến 15,5oC Nhiệt

độ trung bình tháng nóng nhất (tháng 7) lên đến 28,2oC Biên độ giao động giữa tháng lạnh và nóng nhất lên đến 7,3oC Độ ẩm trung bình 85%

Trang 27

1.2.5 Thuỷ văn

Khu BTTN Cham Chu có hệ thống sông, suối dày đặc cộng với lượng mưa hằng năm lớn, hệ thống sông suối đã góp phần tạo nên độ ẩm không khí cao về mùa mưa Phía Tây là sông Lô và cũng là ranh giới của khu bảo tồn, phía Đông có hệ thống sông Khuổi Guồng bắt nguồn từ thung lũng xã Trung

Hà chảy qua địa phận xã Hà Lang, hợp lưu với hệ thống sông Tân Thành và sông Phúc Ninh ở phía Tây Nam khu bảo tồn

Tổng lượng mưa trung bình năm đạt 1.641mm, đặc biệt có 4 tháng (6,7,8,9) có lượng mưa trung bình trên 230mm, chiếm 65,24% tổng lượng mưa năm Điều này gây nên hiện tượng lũ lụt, xói mòn đất và các thiệt hại về người, môi trường và kinh tế Trong những năm gần đây lũ lụt thường xuyên xảy

ra trong khu vực, gây thiệt hại lớn về người và của cải

1.2.6 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.2.6.1 Dân số

Theo thống kê dân số tính đến hết năm 2017, dân số sống trong khu bảo tồn

là 29.703 nhân khẩu, sinh sống tại 6.832 hộ gia đình, trên địa bàn 83 thôn bản

Có 8 dân tộc cùng sinh sống gồm: Tày, Dao, Kinh, Hoa, Nùng, La Chí, Cao Lan và H’Mông, trong đó: Dân tộc Tày với 15.522 người (chiếm 52,3%), dân tộc Dao với 7.343 người (chiếm 24,7%), dân tộc Kinh 4.749 người (chiếm 16,0%), các dân tộc khác là 2.089 người ( chiếm 7,0%) Mỗi dân tộc có phong tục, tập quán canh tác và phương thức sử dụng đất khác nhau Chính

sự khác nhau đó đã tạo nên sự khác biệt trong việc tác động đến tài nguyên rừng

ở đây Cần phải có những chiến lược và chính sách phù hợp, hài hoà giữa các dân tộc để đạt được mục đích phát triển bền vững và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên nơi đây

1.2.6.2 Lao động, tập quán và kinh tế

Lực lượng lao động trong vùng phần lớn là sản xuất nông nghiệp chiếm 85% dân số toàn vùng, còn lại là lao động thuộc các ngành nghề khác bao gồm:

Trang 28

Cán bộ cấp xã, huyện, cán bộ y tế, giáo dục, dịch vụ, công nhân lâm nghiệp thuộc các Công ty lâm nghiệp Với lực lượng lao động nhiều nhưng cơ cấu ngành nghề đơn điệu (chủ yếu là sản xuất nông nghiệp theo mùa vụ, năng suất lao động thấp) dư thừa lao động và nhiều thời gian nông nhàn, do đó gây sức

ép đến tài nguyên rừng Phần lớn lao động nông nghiệp chưa qua đào tạo, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực tế, sự truyền nghề từ các thế hệ ông cha; do đó việc tiếp cận và ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất còn chậm Năng suất vật nuôi cây trồng chưa cao, đời sống và thu nhập của người dân sống trong vùng lõi tuy được cải thiện nhưng so với các địa phương trong huyện và tỉnh vẫn còn ở mức thấp

Nằm trong vùng lõi của Khu BTTN Chạm Chu có 235,8 ha đất sản xuất nông nghiệp, chiếm 1,51% diện tích tự nhiên toàn khu, trong đó có 112,7

ha trồng cây hàng năm, trung bình 0,195 ha/người Như vậy quỹ đất dành cho sản xuất lương thực của người dân còn thấp, đó cũng là nguyên nhân khiến người dân phải tận dụng đất nương rẫy và xâm canh vào đất lâm nghiệp (đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng) để trồng cây lương thực, cây công nghiệp đáp ứng cuộc sống Đặc biệt là Cam sành Hàm Yên đã có thương hiệu trên thị trường cả nước Đây là một nguồn thu ổn định góp phần nâng cao đời sống của nhân dân Tuy nhiên, do phát triển diện tích cây Cam sành trong điều kiện quy hoạch chưa đồng bộ nên dẫn đến tình trạng xâm canh vào diện tích rừng tại các phân khu phục hồi sinh thái của Khu BTTN Chạm Chu

Bên cạnh đó, người dân trong vùng còn phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi cá Chính những sản phẩm này cũng bổ sung nguồn thu kinh tế cho hộ gia đình Tuy nhiên, việc chăn nuôi chỉ dừng lại ở hình thức hộ gia đình

và mang tính tự phát là chính Bởi vậy, cần phải có quy hoạch một diện tích nhất định dành cho vùng chăn thả, đặc biệt là các thôn bản nằm trong khu phục hồi sinh thái để giảm các áp lực, bất lợi đến tài nguyên rừng, từ loại hình chăn nuôi tự phát này

Trang 29

1.2.6.3 Cơ sở hạ tầng

Giáo dục: cơ sở vật chất như trường lớp và đội ngũ giáo viên được quan tâm phát triển Các lớp học mầm non được mở đến thôn bản, xóa bỏ thôn bản trắng về giáo dục mầm non Tuy nhiên ở một số cộng đồng người H’Mông, Cao Lan tỉ lệ đi học còn thấp, đặc biệt là cộng đồng người H’Mông UBND xã

và cán bộ giáo viên phải xuống tận thôn, vào hộ gia đình để vận động, giải thích cho con em họ đi học trở lại Tuy nhiên tình trạng bỏ học vẫn thường xảy ra

Y tế: có 2 bệnh viện tuyến huyện và 100% các xã đều có trạm y tế xã, 70% số thôn bản có cán bộ y tế Tuy nhiên đội ngũ cán bộ y tế có năng lực chuyên môn cao còn thiếu

Giao thông: Điều kiện giao thông còn nhiều hạn chế Các con đường liên

xã, liên thôn chủ yếu là đường đất, đá với rất nhiều đoạn lầy lội nên việc đi lại rất khó khăn

Mạng lưới điện: Toàn bộ 5 xã với 77/83 thôn bản có điện lưới quốc gia, tuy nhiên đường dây tải điện còn yếu và thường xuyên xảy ra mất điện

1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về giá trị dịch vụ hệ sinh thái

1.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Acharya RP và cộng sự (2019) đã tiến hành nghiên cứu xu hướng toàn cầu

về định giá dịch vụ hệ sinh thái rừng, thông qua phân tích các bài báo, ấn phẩm Dịch vụ hệ sinh thái rất quan trọng đối với đời sống con người, giúp duy trì tăng trưởng kinh tế và sinh kế của người dân Trên toàn cầu, nghiên cứu định giá dịch

vụ hệ sinh thái đã tăng lên rõ rệt trong hai thập kỷ qua, một phần do ảnh hưởng của chủ nghĩa môi trường và sự suy giảm đáng kể của dịch vụ hệ sinh thái Nghiên cứu đã sử dụng phân tích, tổng hợp thông tin từ 1156 bài báo trên tạp chí được bình duyệt từ năm 1994-2017 Kết quả cho thấy các nước Tây Âu bao gồm: Anh có số lượng bài báo cao nhất (33%), tiếp theo là Hoa Kỳ (15%) và Trung Quốc (13%) Các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp chỉ có khoảng 14% tổng số bài báo Hơn 80% các nghiên cứu đánh giá tổng quát chức năng của rừng

Trang 30

nhưng phần lớn tập trung vào các dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái (lưu trữ/hấp thụ cacbon/điều hoà khí hậu) Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các quốc gia có thu nhập cao cho thấy khoảng cách rất lớn ở các quốc gia có thu nhập thấp

và trung bình thấp

Nghiên cứu của Costanza và cộng sự (1997) là một trong những nghiên cứu đầu tiên về định giá giá trị dịch vụ hệ sinh thái Nhóm nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp chuyển giao giá trị thị trường, để đưa ra các ước tính định giá giá trị dịch vụ hệ sinh thái rừng Theo nghiên cứu ước tính rằng giá trị dịch vụ hệ sinh thái của rừng và đất ngập nước chiếm 38% tổng giá trị dịch vụ

hệ sinh thái Chỉ riêng giá trị dịch vụ hệ sinh thái rừng ôn đới đạt 300 USD/ha/năm (giá trị tiền đô la Mỹ năm 1994)

Ioanna Grammatikopoulou và cộng sự (2021), cho rằng phần lớn các dịch

vụ hệ sinh thái ở quy mô toàn cầu được cung cấp bởi các quần xã sinh vật rừng Việc công nhận giá trị của dịch vụ hệ sinh thái rừng là vô cùng quan trọng trong quy hoạch phát triển bền vững Tác giả sử dụng phương pháp chuyển giao giá trị, để phân tích và đánh giá giá trị DVHST Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng giá trị của rừng là khoảng 2842 USD/ha/năm, trong đó giá trị dịch vụ điều tiết

và hỗ trợ có giá trị cao nhất

Nitanan và cộng sự (2020), đã thực hiện nghiên cứu về “Tổng giá trị kinh

tế của các dịch vụ hệ sinh thái rừng trong các khu rừng nhiệt đới của Malaysia” Theo tác giả tổng giá trị kinh tế bao gồm: các dịch vụ thị trường thu được từ gỗ

và lâm sản ngoài gỗ; các dịch vụ phi thị trường: giải trí, bảo vệ rừng đầu nguồn, giá trị bảo tồn) Tuy nhiên rất khó có thể định lượng chính xác được giá trị tiền

tệ của các dịch vụ hệ sinh thái rừng Kết quả của nghiên cứu này ước tỉnh tổng giá trị dịch vụ hệ sinh thái rừng trong các khu rừng nhiệt đới của Malaysia là 13

tỷ RM ( giá trị tiền Malaysia năm 2020)

Pant, K.P và cộng sự (2012) đã thực hiện nghiên cứu giá trị dịch vụ hệ sinh thái rừng khu vực núi Kangchenjunga ở phía đông Nepal Theo nghiên cứu,

Trang 31

giá trị dịch vụ hệ sinh thái từ các khu bảo tồn có giá trị cao đối với cuộc sống của con người, nhưng chúng chưa được công nhận và sử dụng đúng cách, hợp lý Việc thiếu sự công nhận một phần do chưa định lượng rõ ràng về giá trị kinh tế của hệ sinh thái trong khu vực Kết quả nghiên cứu này đã ước tính được giá trị tiền tệ của hàng hóa và dịch vụ được cung cấp bởi hệ sinh thái rừng của ba huyện Taplejung, Panchthar và Ilam xung quanh núi Kangchenjunga ở phía đông Nepal Sử dụng phương pháp thị trường để định giá các dịch vụ cung cấp; phương pháp chuyển giao lợi ích định giá cho các dịch vụ điều tiết, hỗ trợ Lợi ích kinh tế của các dịch vụ hệ sinh thái rừng ở ba huyện ước tính đạt khoảng 125 triệu USD, tương đương 360 USD/ha/năm (giá trị tiền tệ năm 2012) Gần 80% tổng lợi ích thu được từ các dịch vụ cung cấp Ước tính giá trị kinh tế của các dịch vụ hệ sinh thái sẽ tạo điều kiện hiểu biết về tầm quan trọng của việc bảo tồn

hệ sinh thái Các nhà hoạch định chính sách có thể sử dụng các ước tính trong phân tích lợi ích và hỗ trợ ra các quyết định bảo tồn hệ sinh thái phù hợp

Tóm lại, nghiên cứu về giá trị dịch vụ HST rừng trên thế giới cho thấy, rừng có nhiều giá trị DVMT Tuy nhiên việc lượng giá giá trị DVHST rừng rất phức tạp Giá trị DVHST thay đổi trong phạm vi rất rộng và phụ thuộc vào nhiều yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội như vị trí địa lý, mật độ dân cư, trình độ nhận thức, mức sống cộng đồng, trình độ sản xuất, nhu cầu thị trường, chính sách nhà nước… Tuy các nghiên cứu về DVHST mới chỉ được thực hiện ở một số quốc gia phát triển, nhưng các nghiên cứu đã chỉ ra rằng giá trị dịch vụ môi trường của HST rừng cao hơn nhiều so với các giá trị là gỗ hoặc lâm sản ngoài gỗ

Trong xu thế hiện nay, thế giới đã công nhận những giá trị dịch vụ của HST mang lại và nhiều giá trị DVHST đang được thể chế thành công ước, cam kết quốc tế, như sáng kiến REDD+ (là một sáng kiến quốc tế, cung cấp và hỗ trợ tài chính cho những nước đang phát triển để giảm tình trạng khí thải gây hiêu ứng nhà kính gây biến đổi khí hậu), nghị định thư Kyoto (là một nghị định liên quan đến Công ước khung Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu tầm quốc tế của

Trang 32

Liên Hợp Quốc với mục tiêu cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính ) và thoả thuận Cancun… Vì vậy việc tiến hành các nghiên cứu chuyên sâu về giá trị dịch vụ HST là việc làm cần thiết và cấp bách hiện nay nhằm thúc đẩy việc

bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu

1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Cùng với những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế của hệ sinh thái rừng, đã có một số nghiên cứu về các giá trị dịch vụ hệ sinh thái ở Việt Nam Những nghiên cứu đánh giá giá trị dịch vụ HST cho các KBT và Vườn quốc gia (VQG) không nhiều Mà chủ yếu tập trung nghiên cứu vào các loại hệ sinh thái rừng ngập nước, rừng ngập mặn Các nghiên cứu cụ thể về giá trị dịch vụ HST

đã được thực hiện, nhưng còn nhiều hạn chế Song, một số nghiên cứu cũng đã làm rõ được một số giá trị về hệ sinh thái rừng ở Việt Nam

Tác giả Huỳnh Đức Hoàn (2021), thực hiện đề tài nghiên cứu “ Dịch vụ

hệ sinh thái trong khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ - thành phố

Hồ Chí Minh” Đề tài sử dụng các phương pháp lượng giá trị kinh tế dịch vụ

hệ sinh thái: phương pháp lượng giá sơ cấp ( sử dụng các thông tin sơ cấp để tạo ra các thông tin mới và phương pháp chuyển giao giá trị) Kết quả nghiên cứu đã các định được các dịch vụ hệ sinh thái và ước lượng các giá trị về mặt kinh tế cũng như môi trường đối với điều kiện dân sinh kinh tế, văn hóa – xã hội của cộng đồng dân cư trong và xung quanh khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ Giá trị dịch vụ cung cấp: giá trị gỗ củi thu được 39.518.400.000 đ/năm; giá trị dịch vụ văn hóa: dịch vụ du lịch và giải trí phát triển, hàng năm thu hút 200.000 lượt khách đến tham quan (trong đó 20% là khách nước ngoài); dịch vụ du lịch văn hóa, tín ngưỡng cũng mang lại giá trị kinh tế đáng kể, hàng năm nơi đây thu hút hơn 120.000 lượt người đến tham quan, tìm hiểu Giá trị dịch vụ điều hòa: giá trị tính bằng tiền từ khả năng hấp thụ CO2 của rừng là 2.169.845.702.500 đồng

Trang 33

Ngô Văn Ngọc (2011) Nghiên cứu "Giá trị kinh tế dịch vụ môi trường rừng Khu bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen, tỉnh Long An” đã được thực hiện trong thời gian từ tháng 02 đến tháng 06 năm 2011 Mục tiêu nghiên cứu nhằm lượng hóa một số giá trị dịch vụ môi trường rừng của Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen Các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu này gồm: phương pháp điều tra phỏng vấn, phương pháp chi phí du hành cá nhân (Individual Travel Cost Method) và phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Value Method) Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị lưu giữ, hấp thụ các bon trên mặt đất hàng năm của khu rừng tràm này là 1.256.221.559 đồng; giá trị cảnh quan giải trí ước tính là 478.285.000 đồng và giá trị tồn tại là 109.956.000 đồng Tổng các giá trị kinh tế dịch vụ môi trường hàng năm của hệ sinh thái Khu bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen ước tính là 1.844.462.559 đồng Giá trị kinh tế dịch vụ môi trường rừng trung bình hàng năm của một ha rừng là 1.225.162 đồng

Nguyễn Thị Diệu Linh (2021), “ Đánh giá dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước khu vực cửa sông Tiên Yên, Quảng Ninh” Nghiên cứu này đã đánh giá đồng thời 11 loại giá trị kinh tế cho 10 HST ĐNN Tiên Yên khi tích hợp nhiều phương pháp định giá khác nhau với tổng giá trị kinh tế ĐNN Tiên Yên là 449,5

tỷ VNĐ Trong đó, HST nông nghiệp mang giá trị lớn nhất là 144,6 tỷ đồng chiếm 32,17% tổng giá trị toàn khu vực và có giá trị trung bình 1ha cao nhất là 42,02 triệu VNĐ/ha Bên cạnh đó, RNM vẫn được đánh giá là HST tự nhiên có giá trị DVHST cao Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học quan trọng góp phần luận chứng đề xuất đưa khu bảo tồn ĐNN Đồng Rui trở thành khu dự trữ sinh quyển thế giới hay khu RAMSAR, giúp các nhà quản lý lựa chọn được các chính sách, cơ chế quản lý các HST ĐNN bền vững

Đặng Kinh Bắc (2017) “Đánh giá dịch vụ văn hóa trên cơ sở tiếp cận địa mạo học – Nghiên cứu trường hợp tại khu vực Sa Pa tỉnh Lào Cai” Nghiên cứu đã phân tích chi tiết ảnh hưởng của các chỉ tiêu địa mạo tới tiềm năng cung

Trang 34

cấp dịch vụ văn hóa trong khu vực Sa Pa Phân tích chỉ ra khu vực Sa Pa có tiềm năng dịch vụ văn hóa cao, đặc biệt là khu vực vườn Quốc gia Hoàng Liên, phía tây dãy núi Hàm Rồng và thung lũng Sa Pa Các loại hình hệ sinh thái rừng, ruộng lúa và mặt nước mang lại nhiều giá trị thẩm mỹ, tinh thần và kiến thức văn hóa cho người dân hơn các loại hình hệ sinh thái khác Kết quả cho thấy phương pháp tiếp cận trên cơ sở địa mạo giúp các nhà khoa học và các bên liên quan có được những hoạch định không gian phát triển văn hóa và du lịch phù hợp cho các vùng khác nhau trong tương lai

Đặng Kinh Bắc (2020) “Đánh giá tiềm năng cung cấp dịch vụ hệ sinh thái đụn cát ven biển khu vực Sơn Trà (Đà Nẵng) – Tam Kỳ (Quảng Nam)” Trong nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp: kế thừa, tổng hợp tài liệu, điều tra và khảo sát thực địa; phương pháp phân tích hệ thống tin địa lý; phương pháp định lượng DVHST trên cơ sở tham vấn chuyên gia Kết quả nghiên cứu cho thấy: Các đụn cát xám có giá trị DVHST điều tiết, duy trì và văn hóa thấp nhất so với các đụn cát còn lại Giá trị của các dịch vụ điều tiết, duy trì HST tại các đụn cát vàng và nâu đạt rất cao hơn 36.000 Giá trị này cao hơn giá trị DVHST của bốn nhóm đụn cát phôi thai, tiền tiêu, xám và trắng Liên quan tới DVHST văn hóa, các đụn cát phôi thai/tiền tiêu, trắng và vàng có giá trị gần như nhau, dao động từ 29.000 đến 32.000 DVHST cung cấp, các hệ sinh thái đụn cát cung cấp ở mức đồng đều khoảng từ 10.000 đến 12.000 Kết quả nghiên cứu cho thấy các đụn cát này có tiềm năng dịch vụ hệ sinh thái cao, có tác dụng bảo vệ các hệ sinh thái trong đất liền khỏi tác động của hiện tượng thời tiết cực đoan liên quan tới biến đổi khí hậu, nước biển dâng Và đóng vai trò quan trọng trong điều tiết sạt lở bờ biển

Nguyễn Xuân Cự (2016) “Phân tích và đánh giá tiềm năng khai thác các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước nội địa ở tỉnh Quảng Ninh” Tác giả cùng cộng sự đã tiến hành phân tích và đánh giá tiềm năng của DVHST đất ngập nước bằng cách sử dụng các phương pháp như: phương pháp thu thập số liệu

Trang 35

thứ cấp từ các báo cáo, nghiên cứu khoa học đã được công bố, kết hợp với khảo sát thực địa bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn qua các bảng câu hỏi

mở, để làm rõ được vấn đề liên quan đến vai trò của đất ngập nước, tài nguyên

do đất ngập nước mang lại; giá trị của DVHST được đánh giá dựa trên phương pháp tiếp cận đánh giá thiên niên kỷ các hệ sinh thái Kết quả nghiên cứu cho thấy các HST đất ngập nước ở Quảng Ninh rất phong phú, đa dạng; đặc biệt có vai trò quan trọng đối với sinh kế của các dân cư địa phương; là nguồn cung cấp thực phẩm, lương thực chính và tạo công việc cho phần lớn người dân trong tỉnh Các dịch vụ HST có vai trò trong điều tiết khí hậu, hạn chế lũ lụt Các vùng đất ngập nước còn là nơi diễn ra văn hóa, tín ngưỡng; là nơi nghỉ dưỡng

và đóng góp trong sự phát triển du lịch, kinh tế xã hội của tỉnh

Dịch vụ hệ sinh thái đã góp phần to lớn vào phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam, mỗi ngành kinh tế sử dụng một nhóm loại hình dịch vụ sinh thái khác nhau phụ thuộc vào nhu cầu yếu tố đầu vào của ngành đó gồm bốn nhóm dịch vụ chính: (i) dịch vụ cung cấp, (ii) dịch vụ điều tiết, (iii) dịch vụ văn hóa

và (iv) dịch vụ hỗ trợ Các loại hình dịch vụ này sẽ có xu hướng giảm dần nếu không có những biện pháp khai thác, sử dụng hiệu quả giữa bảo tồn và phát triển, do vậy cần có những giải pháp phù hợp, trong đó quan trọng nhất vẫn là

hệ thống chính sách và pháp luật phù hợp để giải quyết mối quan hệ giữa dịch

vụ hệ sinh thái và phát triển kinh tế – xã hội Muốn có những chính sách sát đúng, vấn đề cơ bản là phải đánh giá được các dịch vụ của hệ sinh thái đối với phát triển kinh tế – xã hội, lượng hóa được giá trị của các loại hình dịch vụ hệ sinh thái để làm căn cứ cho đưa ra những chính sách phù hợp, nhất là những chính sách kinh tế đối với bảo tồn, khai thác và sử dụng các dịch vụ hệ sinh thái

Từ các nghiên cứu cho thấy, giá trị kinh tế của các dịch vụ hệ sinh thái (bao gồm các hệ sinh thái rừng) là thước đo về sự đóng góp của chúng cho phúc lợi của con người Giá trị kinh tế thường được thể hiện dưới dạng tiền tệ Trong

Trang 36

các nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, giá trị kinh tế của các dịch vụ

hệ sinh thái được quan sát qua giá thị trường – đại lượng phản ánh lợi ích của tiêu dùng và chi phí của sản xuất Trong trường hợp các dịch vụ hệ sinh thái không có thị trường thì giá trị kinh tế của chúng được đo lường bởi các phương pháp phi thị trường

Hiện nay có rất nhiều phương pháp để lượng giá giá trị các dịch vụ hệ sinh thái Các phương pháp này có thể chia thành 2 nhóm, gồm: các phương pháp lượng giá sơ cấp (sử dụng các dữ liệu sơ cấp để tạo ra thông tin mới/thông tin gốc) và các phương pháp chuyển giao giá trị (sử dụng các thông tin có sẵn cho các bối cảnh chính sách mới) Có thể thấy rằng hiện nay chúng ta đã có số lượng nghiên cứu đủ lớn, trong đó có nhiều nghiên cứu được thực hiện công phu, chất lượng và tạo ra các kết quả đáng tin cậy, có thể sử dụng làm đầu vào cho việc hoạch định chính sách liên quan đến hệ sinh thái rừng

Trang 37

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu đánh giá giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tiến hành nghiên cứu đánh giá giá trị dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái rừng khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu trên địa bàn huyện Hàm Yên (gồm

2 xã) và huyện Chiêm Hoá (gồm 3 xã) của tỉnh Tuyên Quang

2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm nghiên cứu: Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang

- Thời gian tiến hành: Tháng 7/2021 - 7/2022

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Hiện trạng và diễn biến sử dụng đất của Khu bảo tồn Cham Chu giai đoạn 1986-2020

- Đánh giá tổng giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái của Khu bảo tồn trong giai đoạn 1986-2020

- Đánh giá giá trị dịch vụ điều tiết theo xã trong Khu bảo tồn trong giai đoạn 1986-2020

- Đánh giá và xây dựng bản đồ tích tụ các-bon Khu bảo tồn Cham Chu

- Đánh giá dịch vụ thụ phấn cho cây trồng của các xã thuộc KBT Cham Chu

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập các tài liệu, tư liệu có liên quan đến tổng quan tình hình phát triển kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên của Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu

- Thu thập số liệu sản xuất nông nghiệp các loại cây ăn quả chính tại

Trang 38

huyện Chiêm Hóa và Hàm Yên từ Cục thống kê tỉnh Tuyên Quang

- Thu thập các tài liệu, báo cáo về công tác bảo vệ và phát triển rừng của Khu bảo tồn

2.4.2 Phương pháp viễn thám

Phương pháp viễn thám được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng và diễn biến sử dụng đất/độ phủ tại các thời điểm trong khoảng 40 năm từ năm 1986 cho tới năm 2020

Phương pháp viễn thám được thực hiện theo các bước sau đây:

i) Thu thập ảnh viễn thám cho khu vực nghiên cứu: Có 5 cảnh ảnh Landsat

cho các năm 1986, 1998, 2007, 2017, 2020 đã được tải từ website: https://earthexplorer.usgs.gov để sử dụng cho nghiên cứu này Những ảnh này được chỉnh lý và biên tập cho phạm vi không gian của vùng nghiên cứu tại KBTTN Cham Chu

ii) Khảo sát hiện trường: Thiết bị GPS được sử dụng để xác định tọa độ

của các dạng sử dụng đất đặc trưng và xác định những tuyến khảo sát trên địa bàn nghiên cứu Tổng cộng có 115 vị trí đã được khảo sát và đo tọa độ để thiết lập cơ sở dữ liệu, gồm tọa độ, đặc điểm về sử dụng đất, thảm thực vật và các bức ảnh minh họa cho từng điểm Cơ sở dữ liệu này sẽ phục vụ cho việc phân tích và phân loại ảnh viễn thám thành các dạng sử dụng đất cho toàn bộ khu vực nghiên cứu sau này Ngoài ra, những trao đổi tham vấn với người địa phương cũng góp phần làm rõ thực trạng và diễn biến sử dụng đất trong vùng

iii) Phân tích ảnh viễn thám để xác định được hiện trạng và diễn biến sử dụng đất cho vùng nghiên cứu: Phân tích ảnh viễn thám để xây dựng bản đồ sử

dụng đất/thảm phủ, bao gồm nhiều bước, được tóm tắt theo trình tự sau đây:

- Dữ liệu khảo sát mặt đất được tổ chức thành cơ sở dữ liệu dạng bản đồ các điểm GPS;

- Ảnh vệ tinh được chỉnh lý để có cùng hệ tọa độ với bản đồ GPS, từ đó xác định được vị trí các điểm điều tra mặt đất trên ảnh vệ tinh;

Trang 39

- Sử dụng các thông tin về từng loại sử dụng đất/thảm phủ đã được thu thập thông qua khảo sát tại thực địa để tạo thành “khóa ảnh”, giúp cho phần mềm máy tính phân loại các bức ảnh vệ tinh thành các dạng sử dụng đất Những thông tin này được sử dụng để đánh giá hiện trạng và diễn biến sử dụng đất/thảm phủ Trong nghiên cứu này, 6 nhóm sử dụng đất được xác định, bao gồm: (1) Rừng khép tán (close forest); (2) Rừng thưa (open forest); (3) Cây bụi; (4) Đất trống; (5) Ruộng lúa; (6) Mặt nước

Loại hình sử dụng đất “Rừng khép tán” bao gồm các kiểu thảm thực vật ở

độ cao dưới 700m như Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi thấp

và Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi cũng như các kiểu thảm thực vật ở độ cao trên 700m như Rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới và Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đá vôi Các hệ sinh thái rừng này thường có giá trị đa dạng sinh học cao và vì vậy, cũng có giá trị dịch vụ HST cao tương ứng

Loại hình sử dụng đất “Rừng thưa” chủ yếu là các loại rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác, chủ yếu phân bố ở độ cao dưới 700m do các hoạt động khai thác gỗ lạm dụng trong nhiều năm qua Ngoài ra loại hình sử dụng đất này còn

có các kiểu phụ như Rừng hỗn giao tre nứa - cây lá rộng, kiểu phụ rừng tre nứa (rừng phục hồi sau khai thác và nương rẫy trên độ cao 300-400m) và kiểu phụ thảm tươi, cây bụi, cây gỗ rải rác Những nghiên cứu tổng quan trên thế giới và

ở Việt Nam chưa có sự phân biệt giá trị dịch vụ HST cho các loại HST rừng khác nhau nên trong nghiên cứu này mặc định có giá trị của 2 loại rừng (rừng khép tán và rừng thưa) có giá trị dịch vụ HST cung cấp trong một năm là như nhau

2.4.3 Phương pháp Hệ thống thông tin địa lý và phương pháp bản đồ

Phương pháp Hệ thống thông tin địa lý và phương pháp bản đồ học được

sử dụng để phân tích và biểu diễn những kết quả phân tích ảnh viễn thám cũng như phân tích những dữ liệu không gian

Trang 40

Những phương pháp này cũng được sử dụng để đánh giá và xây dựng bản

đồ trữ lượng gỗ được thực hiện thông qua sử dụng cùng các phần mềm chuyên dụng như ArcGIS và MapInfo để biên tập và trích xuất các số liệu thống kê từ các bản đồ hiện trạng rừng chính thống của các cơ quan chức năng

Phương pháp này được thực hiện thông qua các bước sau:

- Thu thập những dữ liệu không gian về hiện trạng rừng tại các thời điểm khác nhau, bao gồm bản đồ liên quan tới quy hoạch bảo tồn và phát triển KBT Cham Chu; các bản đồ hiện trạng rừng và hệ thống thông tin tài nguyên rừng, bao gồm bản đồ tài nguyên rừng năm 2020

- Một số bản đồ nền bao gồm bản đồ cho các lớp thông tin về ranh giới hành chính, bản đồ thủy văn hay bản đồ ranh giới các phân khu chức năng

- Chiết xuất các số liệu thống kê liên quan tới sử dụng đất, hiện trạng và diễn biến tài nguyên rừng, trữ lượng rừng, đặc biệt là số liệu về trữ lượng gỗ tại địa điểm nghiên cứu Các trường liên quan tới trữ lượng gỗ theo ha trong khu vực và cho từng lô khoảnh được sử dụng để xây dựng bản đồ trữ lượng gỗ

- Phân tích dữ liệu và lập bản đồ cho Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu: Biên tập bản đồ nền khu vực nghiên cứu (KBT Cham Chu)

- Phân tích số liệu hiện trạng rừng năm 2020 và xây dựng bản đồ trữ lượng rừng KBT Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang, bao gồm bản đồ trữ lượng gỗ và bản

đồ mật độ trữ lượng gỗ

2.4.4 Phương pháp chuyển giao giá trị

Phương pháp chuyển giao giá trị (value transfer method – VT) hoặc phương pháp chuyển giao lợi ích (benefits transfer method – BT) là phương pháp rút gọn

để ước tính giá trị kinh tế hoặc tiền tệ, dựa trên việc sử dụng kết quả từ các nghiên cứu được thực hiện ở một nơi khác (Brander L.M, 2013) Phương pháp này có thể

áp dụng để ước tính tất cả các DV HST, nhưng việc sử dụng phương pháp này phụ thuộc vào vị trí của điểm nghiên cứu và mục tiêu của việc lượng giá Thế mạnh của phương pháp này nói chung là có chi phí thấp hơn với những nghiên

Ngày đăng: 23/05/2023, 15:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Cham Chu (2019), Báo cáo tổng kết công tác bảo vệ & phát triển rừng năm 2019 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác bảo vệ & phát triển rừng năm 2019 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2020
Tác giả: Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Cham Chu
Năm: 2019
16. Huỳnh Đức Hoàn (2021), “Dịch vụ hệ sinh thái trong khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ - thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí khoa học công nghệ, trang 62-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ hệ sinh thái trong khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ - thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Huỳnh Đức Hoàn
Nhà XB: Tạp chí khoa học công nghệ
Năm: 2021
18. Nguyễn Thị Diệu Linh (2021), “Đánh giá dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước khu vực cửa sông Tiên Yên, Quảng Ninh”, Tạp chí khoa học ĐHQGHN, tập 37, số 4 (2021) 96-106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước khu vực cửa sông Tiên Yên, Quảng Ninh
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Linh
Nhà XB: Tạp chí khoa học ĐHQGHN
Năm: 2021
19. Ngô Văn Ngọc (2011), "Giá trị kinh tế dịch vụ môi trường rừng Khu bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen, tỉnh Long An”, Tạp chí khoa học lâm nghiệp 1/2015 (3727-3736) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị kinh tế dịch vụ môi trường rừng Khu bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen, tỉnh Long An
Tác giả: Ngô Văn Ngọc
Nhà XB: Tạp chí khoa học lâm nghiệp
Năm: 2011
20. Võ Thanh Sơn và cs (2021), “Nghiên cứu đánh giá dịch vụ hệ sinh thái phục vụ phát triển bền vững tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang”, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, 20(1): 73-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá dịch vụ hệ sinh thái phục vụ phát triển bền vững tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang
Tác giả: Võ Thanh Sơn, cs
Nhà XB: Tạp chí Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2021
21. Phạm Thu Thủy, Trần NMH, Hoàng TL, Nguyên QT, Nguyên TTA, Nguyên TVA va Trần YL (2021), Dịch vụ Hệ sinh thái rừng Việt Nam: Từ lý thuyết đến thực tiễn tại 17 tỉnh Trung du miền núi phía Bắc, Báo cáo kĩ thuật 274. Bogor, Indonesia: CIFOR.Tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ Hệ sinh thái rừng Việt Nam: Từ lý thuyết đến thực tiễn tại 17 tỉnh Trung du miền núi phía Bắc
Tác giả: Phạm Thu Thủy, Trần NMH, Hoàng TL, Nguyên QT, Nguyên TTA, Nguyên TVA, Trần YL
Nhà XB: CIFOR
Năm: 2021
22. Acharya RP et al.(2019) Global trend of forest ecosystem services valuation – An analysis of publications Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global trend of forest ecosystem services valuation – An analysis of publications
Tác giả: Acharya RP, et al
Năm: 2019
23. Brander L.M., 2013. Guidance manual on value transfer methods for ecosystem services. United Nations Environment Programme, Nairobi, Kenya: vi + 69 pages. ISBN 978-92-807-3362-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guidance manual on value transfer methods for ecosystem services
Tác giả: Brander L.M
Nhà XB: United Nations Environment Programme
Năm: 2013
24. Callow JA, Ford-LIoyd BV, Newbury HJ, ed. 1997. Biotechnology and Plant Genetic Resources: Conservation and Use. Biotechnology in Agriculture Series 19. ISBN: 0851991424 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biotechnology and Plant Genetic Resources: Conservation and Use
Tác giả: Callow JA, Ford-LIoyd BV, Newbury HJ
Nhà XB: Biotechnology in Agriculture Series 19
Năm: 1997
25. Camille Bann và Bruce Aylward, 1994. The Economic Valuation of Tropical Forest Land Use Options: A Manual for Researchers Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Economic Valuation of Tropical Forest Land Use Options: A Manual for Researchers
Tác giả: Camille Bann, Bruce Aylward
Năm: 1994
27. Costanza R., 1997. The value of the world’s ecosystem services and natural capital. Nature, 387: pp. 253-259 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The value of the world’s ecosystem services and natural capital
Tác giả: Costanza R
Nhà XB: Nature
Năm: 1997
28. De Groot Rudolf et al., 2012. Global estimates of the value of ecosystems and their services in monetary units. Ecosystem Services, 1(1): pp. 50-61 29. Hanley N và Perrings C. 2019. The Economic Value of Biodiversity.Annual Review of Resource Economics 11, 1: 355–375 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global estimates of the value of ecosystems and their services in monetary units
Tác giả: De Groot Rudolf
Nhà XB: Ecosystem Services
Năm: 2012
30. Houghton RA, Byers B và Nassikas AA. 2015. A role for tropical forests in stabilizing atmospheric CO2. Nature Climate Change 5(12), 1022-1023 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A role for tropical forests in stabilizing atmospheric CO2
Tác giả: Houghton RA, Byers B, Nassikas AA
Nhà XB: Nature Climate Change
Năm: 2015
31. Ioanna Grammatikopoulou et al. (2021) “The value of forest ecosystem services: A meta-analysis at the European scale and application to national ecosystem accounting” Sách, tạp chí
Tiêu đề: The value of forest ecosystem services: A meta-analysis at the European scale and application to national ecosystem accounting
Tác giả: Ioanna Grammatikopoulou, et al
Năm: 2021
32. IPCC, 2006. Guidelines for National Greenhouse Gas Inventories. Volume 4: Agriculture, Forestry and Other Land Use. Chapter 4: Forest Land Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guidelines for National Greenhouse Gas Inventories. Volume 4: Agriculture, Forestry and Other Land Use
Tác giả: IPCC
Năm: 2006
33. Klein, Alexandra-Maria, Bernard E. Vaissie`re, James H. Cane, Ingolf Steffan-Dewenter, Saul A. Cunningham, Claire Kremen, and Teja Tscharntke, 2007. Importance of pollinators in changing landscapes for world crops. Proc. R. Soc. B (2007) 274, 303–313.doi:10.1098/rspb.2006.3721 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Importance of pollinators in changing landscapes for world crops
Tác giả: Alexandra-Maria Klein, Bernard E. Vaissie`re, James H. Cane, Ingolf Steffan-Dewenter, Saul A. Cunningham, Claire Kremen, Teja Tscharntke
Nhà XB: Proc. R. Soc. B
Năm: 2007
34. Knoke T, Kindu M, Schneider T và Gobakken T. 2021. Inventory of Forest Attributes to Support the Integration of Non-provisioning Ecosystem Services and Biodiversity into Forest Planning—from Collecting Data to Providing Information. Current Forestry Reports 7(1): 38-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inventory of Forest Attributes to Support the Integration of Non-provisioning Ecosystem Services and Biodiversity into Forest Planning—from Collecting Data to Providing Information
Tác giả: Knoke T, Kindu M, Schneider T, Gobakken T
Nhà XB: Current Forestry Reports
Năm: 2021
35. Losey JE và Vaughan M. 2006. The Economic Value of Ecological Services Provided by Insects.BioScience 55(4): 311-323 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Economic Value of Ecological Services Provided by Insects
Tác giả: Losey JE, Vaughan M
Nhà XB: BioScience
Năm: 2006
36. Nitanan, K.M et al. (2020) “ The total economic value of forest ecosystem services in the tropical forests of Malaysia” Sách, tạp chí
Tiêu đề: The total economic value of forest ecosystem services in the tropical forests of Malaysia
Tác giả: Nitanan, K.M, et al
Năm: 2020
37. Pant, K.P et al. (2012) “Value of forest ecosystem services: a quantitative estimation from the Kangchenjunga landscape in eastern Nepal” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Value of forest ecosystem services: a quantitative estimation from the Kangchenjunga landscape in eastern Nepal
Tác giả: K.P Pant, et al
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Phân vùng chức năng của Khu Bảo tồn Cham Chu (trái) - Nghiên cứu đánh giá dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái rừng khu bảo tồn thiên nhiên cham chu, tỉnh tuyên quang
Hình 3.1. Phân vùng chức năng của Khu Bảo tồn Cham Chu (trái) (Trang 46)
Hình 3.2. Diễn biến sử dụng đất thuộc các xã của KBT - Nghiên cứu đánh giá dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái rừng khu bảo tồn thiên nhiên cham chu, tỉnh tuyên quang
Hình 3.2. Diễn biến sử dụng đất thuộc các xã của KBT (Trang 48)
Hình 3.3. Giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái theo dạng sử dụng đất - Nghiên cứu đánh giá dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái rừng khu bảo tồn thiên nhiên cham chu, tỉnh tuyên quang
Hình 3.3. Giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái theo dạng sử dụng đất (Trang 57)
Bảng 3.10. Ước tính giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái trong các xã - Nghiên cứu đánh giá dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái rừng khu bảo tồn thiên nhiên cham chu, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.10. Ước tính giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái trong các xã (Trang 60)
Hình 3.5. Giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái theo các xã - Nghiên cứu đánh giá dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái rừng khu bảo tồn thiên nhiên cham chu, tỉnh tuyên quang
Hình 3.5. Giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái theo các xã (Trang 61)
Bảng 3.13. Ước tính giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái trong các xã - Nghiên cứu đánh giá dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái rừng khu bảo tồn thiên nhiên cham chu, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.13. Ước tính giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái trong các xã (Trang 63)
Số liệu tính toán cho thấy năm 2017 (xem Bảng 3.13, Hình 3.7), tổng giá - Nghiên cứu đánh giá dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái rừng khu bảo tồn thiên nhiên cham chu, tỉnh tuyên quang
li ệu tính toán cho thấy năm 2017 (xem Bảng 3.13, Hình 3.7), tổng giá (Trang 64)
Hình 3.8. Giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái theo các xã - Nghiên cứu đánh giá dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái rừng khu bảo tồn thiên nhiên cham chu, tỉnh tuyên quang
Hình 3.8. Giá trị dịch vụ điều tiết hệ sinh thái theo các xã (Trang 65)
Bảng 3.15. Tổng trữ lượng gỗ theo các xã của KBT Cham Chu năm 2020 - Nghiên cứu đánh giá dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái rừng khu bảo tồn thiên nhiên cham chu, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.15. Tổng trữ lượng gỗ theo các xã của KBT Cham Chu năm 2020 (Trang 67)
Bảng 3.17. Tổng trữ lượng các bon theo các xã của KBT Cham Chu - Nghiên cứu đánh giá dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái rừng khu bảo tồn thiên nhiên cham chu, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.17. Tổng trữ lượng các bon theo các xã của KBT Cham Chu (Trang 70)
Hình 3.14. Tổng tích tụ các bon theo các xã của KBT Cham Chu - Nghiên cứu đánh giá dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái rừng khu bảo tồn thiên nhiên cham chu, tỉnh tuyên quang
Hình 3.14. Tổng tích tụ các bon theo các xã của KBT Cham Chu (Trang 72)
Hình 3.18. Bản đồ giá trị mua bán tín chỉ các bon (USD/ha) - Nghiên cứu đánh giá dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái rừng khu bảo tồn thiên nhiên cham chu, tỉnh tuyên quang
Hình 3.18. Bản đồ giá trị mua bán tín chỉ các bon (USD/ha) (Trang 74)
Hình 3.17. Tổng giá trị mua bán tín chỉ cacbon theo các xã của KBT - Nghiên cứu đánh giá dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái rừng khu bảo tồn thiên nhiên cham chu, tỉnh tuyên quang
Hình 3.17. Tổng giá trị mua bán tín chỉ cacbon theo các xã của KBT (Trang 74)
Bảng 3.21. Hiệu quả của thụ phấn trong sản xuất cam tại các xã của Khu - Nghiên cứu đánh giá dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái rừng khu bảo tồn thiên nhiên cham chu, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.21. Hiệu quả của thụ phấn trong sản xuất cam tại các xã của Khu (Trang 77)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w