Khái niệm về chiến lược: - Chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp là một chưông trình hành động tổngquát: Xác định các mục tiêu dài hạn, cơ bản của một doanh nghiệp, lựa chọn cácđườn
CƠ SỞ LÝ LU Ậ N V Ề CHI ẾN LƯỢ C C Ủ A DOANH NGHI Ệ P
Quy trình ho ạch đị nh chi ến lượ c kinh doanh c ủ a doanh nghi ệ p
2.1 Phân tích môi trường kinh doanh
Các yếu tố môi trường ảnh hưởng mạnh mẽ đến doanh nghiệp, tác động trực tiếp đến quá trình quản trị chiến lược Do đó, việc lựa chọn chiến lược cần được xây dựng dựa trên các điều kiện môi trường đã được nghiên cứu kỹ lưỡng.
Môi trường tổ chức bao gồm các yếu tố, lực lượng và thể chế bên ngoài doanh nghiệp mà các nhà quản trị không thể kiểm soát, nhưng chúng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Các yếu tố khách quan, không thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp, có tác động mạnh mẽ đến môi trường vi mô và hoàn cảnh nội bộ, tạo ra cơ hội và nguy cơ cho tổ chức mà không liên quan trực tiếp đến lợi nhuận Trong đó, yếu tố kinh tế đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức thu hút tiềm năng của các chiến lược khác nhau Môi trường kinh tế luôn chứa đựng những cơ hội và thách thức đa dạng đối với từng doanh nghiệp, với các yếu tố kinh tế chủ yếu tác động đến hoạt động của họ.
Xu hướng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng sản phẩm quốc dân (GNP) phản ánh tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người hàng năm Các chỉ tiêu này giúp dự đoán dung lượng thị trường của từng ngành và thị phần của các doanh nghiệp, từ đó cung cấp cái nhìn tổng quan về sự phát triển kinh tế.
Lãi suất và xu hướng lãi suất trong nền kinh tế tác động mạnh mẽ đến quyết định đầu tư, tiết kiệm và tiêu dùng của người dân Điều này dẫn đến ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp.
Cán cân thanh toán quốc tế.
Tỷ giá hối đoái đang có xu hướng biến động, ảnh hưởng đến điều kiện kinh doanh chung và tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức cho các doanh nghiệp.
Mức độ lạm phát ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ đầu tư trong nền kinh tế Lạm phát cao hoặc thiểu phát đều có tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế Vì vậy, việc duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức hợp lý là cần thiết để khuyến khích sự tăng trưởng của thị trường.
Các chính sách tiền tệ của nhà nước
Các yếu tố chính phủ, chính trị và pháp luật ngày càng ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp, đóng vai trò là người điều khiển và loại bỏ quy định, cũng như là nguồn trợ cấp Những yếu tố này có thể tạo ra cơ hội và mối đe dọa cho cả tổ chức lớn và nhỏ Đặc biệt, trong các ngành phụ thuộc vào hợp đồng hoặc trợ cấp của chính phủ, dự báo chính trị trở thành yếu tố quan trọng trong việc phân tích môi trường bên ngoài Sự thay đổi trong luật về bằng sáng chế, luật chống độc quyền, tỷ lệ thuế và các nhóm gây sức ép có thể tác động mạnh mẽ đến các công ty Với sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các nền kinh tế, thị trường và chính phủ, doanh nghiệp cần xem xét ảnh hưởng của các biến số chính trị đối với việc xây dựng và thực hiện chiến lược cạnh tranh.
Các quy định về thành lập công ty
Các luật lệ quyền sở hữu, chống độc quyền
Những đạo luật về bảo vệ môi trường
Những đạo luật về thuế
Các chế độ đãi ngộ đặc biệt
Những luật lệ về thuê mướn lao động
Công nghệ đóng vai trò quan trọng trong mọi ngành công nghiệp, ảnh hưởng đến sản phẩm, dịch vụ, và thị trường Sự tiến bộ kỹ thuật không chỉ tạo ra cơ hội mà còn mang đến những thách thức cho doanh nghiệp, giúp hình thành lợi thế cạnh tranh và thay đổi vị trí giá cả trong ngành Nó có thể dẫn đến sự xuất hiện của thị trường và sản phẩm mới, đồng thời làm cho các sản phẩm hiện tại trở nên lỗi thời Việc nhận diện và đánh giá các cơ hội và đe dọa công nghệ là yếu tố then chốt trong quản trị chiến lược Để thúc đẩy sự phát triển công nghệ, doanh nghiệp cần chú ý đến nhiều vấn đề quan trọng.
Mô hình phát triển công nghệ
Chính sách phát triển công nghệ quốc gia
Chiến lược phát triển công nghệ
Sự bảo vệ bằng phát minh sáng chế chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các yếu tố xã hội và văn hóa, tác động đến sản phẩm, dịch vụ, thị trường và người tiêu dùng Các tổ chức, dù lớn hay nhỏ, vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận, đều phải đối mặt với những cơ hội và thách thức từ những biến số văn hóa, xã hội Những yếu tố này thường thay đổi chậm, khiến chúng trở nên khó nhận diện.
Tỉ lệ tăng dân số
Phong cách sống, làm việc, tơn giáo
Kết cấu dân số chịu ảnh hưởng lớn từ các yếu tố tự nhiên như vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên và cảng biển Những yếu tố này không chỉ là đầu vào quan trọng cho nhiều ngành kinh tế mà còn tạo ra thế mạnh cho khu vực Vì vậy, khi xây dựng chiến lược phát triển, cần chú trọng đến các điều kiện tự nhiên này.
Các vấn đề ô nhiễm môi trường
Sự thiếu hụt năng lượng
Sự tiêu phí đến tài nguyên thiên nhiên
- Bao gồm các yếu tố bên ngoài tổ chức, định hướng sự cạnh tranh, liên quan trực tiếp đến sự hoàn thành những mục tiêu của doanh nghiệp
Tình hình cạnh tranh trong một ngành được xác định bởi năm yếu tố cơ bản, và sức mạnh tổng hợp của những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến tiềm năng lợi nhuận của ngành Tiềm năng lợi nhuận được đánh giá thông qua lợi nhuận dài hạn trên vốn đầu tư.
Cạnh tranh trong một ngành sẽ liên tục điều chỉnh để giảm lợi tức trên vốn đầu tư, cho đến khi đạt đến mức lợi tức sàn, tương tự như lợi tức trong một ngành “cạnh tranh hoàn hảo” theo quan điểm của các nhà kinh tế học.
Tất cả năm yếu tố cạnh tranh đều ảnh hưởng đến cường độ cạnh tranh và mức lợi nhuận trong ngành, trong đó yếu tố mạnh nhất sẽ đóng vai trò thống trị và trở nên quan trọng trong việc hoạch định chiến lược Một trong những yếu tố này là nguy cơ từ doanh nghiệp mới gia nhập ngành.
Các doanh nghiệp mới gia nhập ngành thường mang theo năng lực sản xuất và khát vọng chiếm lĩnh thị phần, dẫn đến việc giá cả bị ép xuống hoặc chi phí tăng lên, làm giảm lợi nhuận Ngoài ra, các công ty đa dạng hóa thông qua việc mua lại doanh nghiệp trong ngành từ các lĩnh vực khác cũng sử dụng nguồn lực của họ để cải tổ Vì vậy, việc mua lại một doanh nghiệp nên được xem như là một hình thức gia nhập mới, mặc dù không có doanh nghiệp mới nào được thành lập.
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜ NG KINH DOANH C Ủ A VINAMILK
Phân tích ngành s ữ a t ạ i Vi ệ t Nam và d ự báo đến năm 2020
2.1 Tổng quan ngành sữa Việt Nam:
Mặc dù mức tiêu thụ sữa đầu người tại Việt Nam đã tăng từ 9kg năm 2003 lên 15.7kg năm 2011 với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm đạt 8.1%, nhưng vẫn còn thấp so với mức trung bình của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và thế giới Hiện tại, mức tiêu thụ sữa tại Việt Nam chỉ đạt 16% so với mức trung bình khu vực và 7% so với mức dinh dưỡng khuyến nghị hàng ngày.
Hình 1 – Mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người (Nguồn: Food and Agriculture Policy Research Institute (FARPI)
Bảng 1 – Mức tiêu thụ sữa khuyến nghị tại Mỹ (2.000 cal)
Việt Nam hiện chỉ sản xuất đủ 21% nhu cầu sữa trong nước, trong khi 79% lượng sữa tiêu thụ phải được nhập khẩu Điều này cho thấy sự phụ thuộc lớn vào sản phẩm sữa nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
Hình 2 – Thống kê số lượng bò sữa và sản lượng sữa của Việt Nam
Hình 3 – Giá trị sữa nhập khẩu vào Việt Nam giai đoạn 2006 – 2012
Thị trường sữa tại Việt Nam có tính tập trung cao, với Vinamilk và Friesland chiếm tới 64% thị phần, trong khi các công ty nhỏ hơn chỉ nắm giữ phần còn lại Vinamilk dẫn đầu hầu hết các phân khúc như sữa chua, sữa đặc có đường và sữa nước, trong khi các nhãn hiệu nước ngoài chiếm ưu thế trong phân khúc sữa bột Cả Vinamilk và Friesland đều cung cấp đầy đủ các dòng sản phẩm từ sữa tiệt trùng đến sữa bột, nhưng các công ty khác gặp khó khăn trong việc thâm nhập vào thị trường sữa uống, không có công ty nào đạt thị phần trên 5% Các nhà máy sản xuất của các công ty sữa được đặt ở vị trí thuận lợi để phục vụ cho các thị trường lớn ở miền Bắc và miền Nam, trong khi Vinamilk là công ty duy nhất có nhà máy tại miền Trung.
Việt Nam, với dân số đứng thứ 13 thế giới và tốc độ tăng trưởng hàng năm gần 1.1%, đang chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng của tầng lớp trung lưu Đặc biệt, độ tuổi dưới 30 chiếm khoảng 54.1% tổng dân số, điều này tạo ra một thị trường tiềm năng lớn cho ngành sữa.
Theo đánh giá của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Quốc tế (OECD), số người thuộc tầng lớp trung lưu tại Việt Nam dự kiến sẽ tăng từ 8 triệu lên 44 triệu vào năm 2020 Sự gia tăng này sẽ thúc đẩy mạnh mẽ chi tiêu cho các sản phẩm sữa và nước giải khát giàu dưỡng chất, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng.
Dự báo mức tăng dân số và GDP giai đoạn 2012 – 2016 cho thấy sự đô thị hóa diễn ra nhanh chóng với tốc độ hơn 3% mỗi năm, cùng với sự gia tăng mức sống và nhận thức về sức khỏe Điều này dẫn đến xu hướng tiêu thụ nhiều sản phẩm sữa Tốc độ tăng trưởng thực của ngành sữa được dự báo sẽ đạt 6.5% mỗi năm.
Mức tiêu thụ sữa tại Việt Nam đã tăng đáng kể, với trung bình khoảng 15 lít sữa/người/năm, tuy nhiên vẫn thấp hơn so với Thái Lan (30 lít), Singapore (45 lít) và Ấn Độ (46 lít) Theo kế hoạch phát triển ngành sữa của Bộ Công Thương, dự báo nhu cầu sữa hàng năm sẽ đạt 21 lít/người vào năm 2015 và 34 lít/người vào năm 2025, tương đương mức tăng 5.6% mỗi năm Khi tính đến mức tăng trưởng dân số khoảng 0.9%/năm, ngành sữa sẽ có mức tăng trưởng thực dương khoảng 6.5%/năm.
Dự báo nhu cầu sữa tại Việt Nam đến năm 2025 cho thấy sữa bột, sữa nước và sữa chua có thể đạt mức tăng trưởng thực lần lượt là 8.9%, 7.9% và 6.1% Tuy nhiên, dòng sữa đặc sẽ chỉ duy trì mức tăng trưởng khiêm tốn khoảng 0.7% mỗi năm do đã bước vào giai đoạn bão hòa.
Chính phủ Việt Nam khuyến khích mở rộng trang trại bò sữa nhằm tự cung cấp 39% lượng sữa tiêu thụ vào năm 2020, giảm thiểu nhập khẩu Các doanh nghiệp sữa đang phát triển vùng nguyên liệu và chăn nuôi bò theo mô hình trang trại quy mô lớn, khép kín từ chăn nuôi đến tiêu thụ Vinamilk quản lý 05 trang trại bò sữa với tổng diện tích 170ha và 8200 con bò, đồng thời mở rộng thêm tại Thanh Hóa và Tây Ninh Công ty sữa Quốc tế hỗ trợ nông dân vay tiền mua bò giống và tập huấn kỹ thuật chăn nuôi, khuyến khích phát triển chăn nuôi hiệu quả TH Milk đầu tư 1.2 tỷ USD cho dự án chăn nuôi và chế biến sữa, với sự tư vấn của Afimilk Israel để xây dựng hệ thống chuồng trại và nhà máy chế biến hiện đại Dựa trên tình hình phát triển từ 2001-2009, Cục Chăn nuôi dự báo tốc độ tăng trưởng đàn bò sữa đạt 15%/năm giai đoạn 2010-2015 và 10%/năm giai đoạn 2016-2020, với tổng sản lượng sữa dự kiến đạt khoảng 1 triệu tấn vào năm 2020.
Hình 5 – Dự báo số lượng bò sữa và sản lượng sữa của Việt Nam đến năm 2020
Phân tích môi t rườ ng kinh doanh
3.1 Phân tích môi trường v ĩ mô
3.1.1 Yếu tố kinh tế: o Tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu phục hồi mặc dù ở mức thấp và chưa thực sự chắc chắn: Tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm 2013 (theo giá 2010 và so cùng kì năm trước) đạt 4,9%, tương đương mức tăng của cùng kì năm trước Tăng trưởng được duy trì chủ yếu nhờ cải thiện về tăng trưởng của khu vực xây dựng và dịch vụ, trong khi nông nghiệp, thủy sản và công nghiệp suy giảm.
Khách sạn và nhà hàng 8,0 7,0 6,5 8,8
Kinh doanh tài sản & dịch vụ tư vấn 5,0 3,5 0,6 1,8
Bảng 5 – Tăng trưởng giai đoạn 2010 – 6 tháng đầu năm 2012, % GDP o Những dấu hiệu cho thấy sản xuất có những chuyển biến tích cực bao gồm:
Chỉ số sản xuất công nghiệp đã tăng dần từ tháng 3/2013, mặc dù vẫn thấp hơn so với cùng kỳ năm trước Mức tăng chỉ số tồn kho đã giảm từ 21,5% vào ngày 01/01/2013 xuống còn 9,7% vào ngày 01/06/2013.
Trong 6 tháng đầu năm 2013, kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng tư liệu sản xuất tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sự chuyển biến tích cực trong sản xuất Tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu của khu vực trong nước cũng đạt 6,3%, cải thiện rõ rệt so với mức giảm 8,2% của cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm 2013 đã tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước, vượt mức 6,6% của 6 tháng 2012, trong đó khu vực kinh tế trong nước chỉ tăng 2,2% Tuy nhiên, sự phục hồi tăng trưởng vẫn chưa chắc chắn do cầu nội địa yếu và chi phí sản xuất cao, khiến mục tiêu tăng trưởng 5,5% trong năm 2013 trở thành một thách thức lớn.
Việt Nam hiện đang đối mặt với những thách thức kinh tế vĩ mô, trong đó nợ xấu gia tăng và sự thu hẹp trong tăng trưởng tín dụng đang làm chậm lại tốc độ tăng trưởng GDP.
Lạm phát tiếp tục được kiểm soát ở mức thấp so với các năm trước (CPI
8 tháng tăng 3,53% so với đầu năm).
Cán cân thanh toán tổng thể dự báo sẽ thặng dư từ 1,5 đến 2 tỷ USD trong năm 2013, mặc dù mức thặng dư này giảm đáng kể so với năm 2012 Cụ thể, trong 5 tháng đầu năm, mức thặng dư đạt 1,5 tỷ USD, giảm 79% so với cùng kỳ năm trước, trong khi cán cân vốn thặng dư chỉ đạt 2,56 tỷ USD, giảm 37% so với năm 2012.
Xuất khẩu trong 8 tháng đầu năm tăng 14,7%, chủ yếu nhờ vào sự đóng góp của khu vực FDI, trong khi khu vực trong nước chỉ tăng 3,1% Tương tự, nhập khẩu cũng ghi nhận mức tăng 14,9%, nhưng khu vực trong nước chỉ tăng 4%.
Thị trường tài chính tiền tệ được cải thiện, góp phần ổn định hơn kinh tế vĩ mô, nâng cao khả năng cung ứng vốn của nền kinh tế.
3.1.2 Yếu tố môi trường chính trị, chính sách và pháp luật:
Doanh nghiệp cần hiểu rõ các xu hướng chính trị và đối ngoại, cũng như các chính sách của Đảng và Nhà nước, vì chúng có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp.
Tình hình chính trị ổn định của Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo ra việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, từ đó nâng cao nhu cầu tiêu dùng trong xã hội Sự ổn định này cũng có ảnh hưởng tích cực đến việc xây dựng và thực hiện các chiến lược của các doanh nghiệp, bao gồm cả Vinamilk.
Vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, đặc biệt là Công ty Vinamilk, trong việc đẩy mạnh xuất khẩu và tăng doanh thu Điều này giúp Vinamilk tiếp cận với máy móc, thiết bị và dây chuyền sản xuất hiện đại, từ đó nâng cao năng suất và hạ giá thành sản phẩm Tuy nhiên, sự phát triển này cũng đặt ra thách thức lớn cho Vinamilk khi phải cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài.
Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế và doanh nghiệp hoạt động trong mọi ngành nghề hợp pháp, tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp cần không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện hiệu quả hoạt động.
Sữa là sản phẩm thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của mọi tầng lớp xã hội Ngành sản xuất sữa không chỉ tạo ra nhiều việc làm mà còn sử dụng các nông sản trong nước như đường, trứng và nguyên liệu sữa Do đó, Nhà nước đã áp dụng nhiều chính sách ưu đãi cho ngành này, bao gồm các lợi ích trong Luật khuyến khích đầu tư như miễn giảm thuế đất, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế nhập khẩu máy móc thiết bị.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu, Quốc hội Việt Nam đã ban hành và tiếp tục hoàn thiện các Bộ Luật như Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư và Luật thuế nhằm thúc đẩy quá trình cải cách kinh tế.
Các nhân tố chính trị pháp luật đóng vai trò quan trọng trong khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, bao gồm hệ thống luật pháp, các văn bản dưới luật, và chính sách của nhà nước Một thể chế chính trị ổn định và luật pháp minh bạch sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Chẳng hạn, các luật thuế không chỉ đảm bảo sự công bằng giữa các doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm nội địa so với hàng hóa nước ngoài.
3.1.3 Yếu tố khoa học và công nghệ: Đây là yếu tố tạo ra nhiều cơ hội và cũng tồn tại nhiều thách thức buộc doanh nghiệp phải tìm hiểu kỹ Là một trong những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất nên đây là yếu tố quan trọng quyết định việc sản xuất của doanh nghiệp có hiệu quả hay không. o Sự phát triển của thị trường khoa học công nghệ :Công nghệ ngày càng phát triển đã đem lại cho Vinamilk nhiều cách thức tạo ra sản phẩm mới để khẳng định thương hiệu cho sản phẩm của mình Vinamilk đã ứng dụng nhiều thành tựu mới về các loại máy móc trang bị sản xuất ra các sản phẩm vừa đạt hiệu quả về chất lượng vừa tiện nghi Mặt khác khoa học công nghệ tác động tới khâu quảng cáo và mức độ truyền tin về sản phẩm: Khoa học phát triển đã đáp ứng được nhu cầu cung cấp sản phẩm cho người tiêu dùng bởi nhu cầu của người tiêu dùng càng gia tăng về chất lượng và số lượng Đồng thời khoa học công nghệ còn tạo ra một lực lượng sản xuất mới rất hiệu quả cho doanh nghiêp.giúp giảm bớt thời gian sản xuất sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất sản phẩm Mặt khác Vinamilk cũng như các doanh nghiệp khác cũng cần phải cảnh giác với việc sa đà đầu tư quá nhiều chi phí cho quảng cáo dẫn tới tăng giá thành của sản phẩm gây thiệt hại nhiều cho doanh nghiệp Một thách thức khác đó là các sản phẩm có chứa nhiều yếu tố khoa học công nghệ thường rất khó kéo dài chu kỳ sống bởi những đòi hỏi không nhỏ từ người tiêu dùng,dẫn đến việc lạc hậu về kỹ thuật của những dòng sản phẩm trên thị trường Chính vì vậy thách thức đặt ra là việc không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất sản phẩm. o Đối với các tổ chức tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học và áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ: đó là những cơ sở hữu ích sẽ tư vấn cho doanh nghiệp các cách thức chế biến sữa để phù hợp với khẩu vị tiêu dùng khác nhau Đây cũng là một trong số những thách thức tìm hiểu thị trường nhanh hơn thông qua các kênh tư vấn về chính sách khoa học công nghệ.