1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khái niệm, cơ cấu (các cấp độ) của ý thức pháp luật, tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật

34 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khái Niệm, Cơ Cấu (Các Cấp Độ) Của Ý Thức Pháp Luật, Tư Tưởng Pháp Luật Và Tâm Lý Pháp Luật
Người hướng dẫn P. T. S. Đỗ Hoàng Anh
Trường học Học Viện Hàng Không Việt Nam
Chuyên ngành Luật học
Thể loại báo cáo thực tập
Năm xuất bản 2022-2023
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các hành vi pháp luật, các mối quan hệ pháp luật của con người đều được thực hiện dựa trên cơ sở tâm lí pháp luật, tư tưởng pháp luật và quan điểm, quan niệm về pháp luật của con người t

Trang 1

HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT NAM KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT NAM KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 3

MỤC LỤC

1.6 THỰC TRẠNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA CỘNG ĐỒNG HIỆN NAY 14 1.7 GIẢI PHÁP VÀ TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC NÂNG CAO

CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG PHÁP LUẬT

2.3.1 NÊU ĐIỂM GIỐNG & KHÁC NHAU VỀ TƯ TƯỞNG PHÁP LUẬT

2.4.1 SỰ TÁC ĐỘNG CỦA DƯ LUẬN XÃ HỘI ĐẾN TƯ TƯỞNG PHÁP LUẬT 22 2.5 ỨNG DỤNG CỦA TƯ TƯỞNG PHÁP LUẬT VÀO ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN 24

3.4.2 BIỂU HIỆN VÀ VÍ DỤ CỦA TÂM LÝ PHÁP LUẬT TÍCH CỰC TRONG ĐỜI SỐNG 27

3.4.4 BIỂU HIỆN VÀ VÍ DỤ CỦA TÂM LÝ PHÁP LUẬT TIÊU CỰC TRONG ĐỜI SỐNG 28

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

Lý do chọn đề tài:

Trong quá trình xây dựng, phát triển và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay, có rất nhiều yếu tố gây ảnh hưởng đến việc chấp hành pháp luật nhưng một trong những yếu tố gây ảnh hưởng quan trọng nhất có thể kể đến là ý thức pháp luật

Ý thức pháp luật được xem như tiền đề cho việc chấp hành, xây dựng, phát triển hệ thống pháp luật, để có thể nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, quản lý xã hội Đồng thời, ý thức pháp luật còn giúp nâng cao trình độ văn hoá pháp lý, nâng cao nhân phẩm, nhân cách của mỗi cá nhân Từ đó, giúp cho mỗi cá nhân có trách nhiệm pháp lý cũng như trách nhiệm của bản thân đối với gia đình và xã hội

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

Mục tiêu:

Bài tiểu luận giúp nâng cao trình độ nhận thức, hiểu biết hơn về tầm quan trọng của ý thức pháp luật Đồng thời, giúp ta hiểu thêm về những tư tưởng cũng như tâm lý để có thể có được ý thức tốt trong biết thực hiện pháp luật

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Đề tài có ba nhiệm vụ:

Giải thích ý thức, tư tưởng và tâm lý khi thực hiện pháp luật là gì?

Các vấn đề tác động đến ý thức pháp luật trong cuộc sống?

Liên hệ các vấn đề thực tiễn có liên quan đến ý thức pháp luật

Phương pháp nghiên cứu:

Trang 6

Tiểu luận được nghiên cứu bằng cách tổng hợp một số phương pháp như đan xen giữaviệc tổng hợp và phân tích, có sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn đời sống.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Kết cấu của bài tiểu luận kết thúc học phần:

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm có ba chương và các mục như sau:

CHƯƠNG 1: Ý THỨC PHÁP LUẬT

CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG PHÁP LUẬT

CHƯƠNG 3: TÂM LÝ PHÁP LUẬT

Trang 7

CHƯƠNG 1: Ý THỨC PHÁP LUẬT 1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT

Khái niệm của ý thức pháp luật:

Ý thức pháp luật là một trong những bộ phận tạo thành nên đời sống pháp luật bên cạnh các lĩnh vực xây dựng và thực hiện pháp luật Trong xã hội hiện nay, ý thức pháp luật giữ vai trò hết sực quan trọng đới với việc hình thành nhận thức, thái độ và hành viứng xử của con người Do vậy các hoạt động của con người đều phải dựa vào ý thức của chính mình Các hành vi pháp luật, các mối quan hệ pháp luật của con người đều được thực hiện dựa trên cơ sở tâm lí pháp luật, tư tưởng pháp luật và quan điểm, quan niệm về pháp luật của con người thông qua các thời kỳ khác nhau Vì vậy, việc thực hiện pháp luật của con người trong xã hội có liên quan chặt chẽ đến yếu tố tâm lí pháp luật và tư tưởng pháp luật

Ý thức pháp luật là tổng thể những quan điểm, quan niệm về pháp luật, là tình cảm vàtâm trạng của con người đối với pháp luật Do vậy, ý thức pháp luật được hình thành thông qua những quan điểm, quan niệm của con người từ sự cần thiết phải có các quy tắc xử sự phù hợp

Ý thức pháp luật ra đời, tồn tại và phát triển từ nhu cầu khách quan của đời sống xã hội, khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định (đó là giai đoạn bắt đầu có sự phân chia về giai cấp), đó là khi các phương tiện điều chỉnh xã hội như: đạo đức, tôn giáo, tập quán, niềm tin không còn phù hợp nữa, nó không cò đủ khả năng để quản lí

xã hội có hiệu quả Lúc này cần phải có một công cụ mới ra đời, đó là ý thức pháp luật,

để thiết lập ra một trật tự xã hội mới ổn định, kỷ cương Từ nhu cầu khách quan này của đời sống xã hội, con người đã nhận thức được xã hội (đã phản ánh được tồn tại xã hội) và đã tạo nên ở họ những tư tưởng, quan điểm, quan niệm về sự cần thiêt phải điều

Trang 8

chỉnh các quan hệ trong xã hội bằng pháp luật, một phương tiện điều chỉnh hữu hiệu nhất.

Về mặt triết học, ý thức pháp luật là một trong những hình thái ý thức xã hội, nó thuộcthượng tầng kiến thức xã hội, nó chịu sự quy định của cơ sở kinh tế Tuy nhiên, ý thức pháp luật còn chịu sự ảnh hưởng của các hình thái ý thức xã hội khác ở những mức độ khác nhau Như vậy, ý thức pháp luật là sự phản ánh những điều kiện xã hội (vật chất, chính trị, lịch sử, ), đó là những điều kiện cần phải được điều chỉnh bằng pháp luật, thông qua những quan điểm, quan niệm, tư tưởng, học thuyết, tình cảm, tâm trạng và niềm tin pháp lý Từ sự phân tích trên, thi ý thức pháp luật có thể định nghĩa như sau:

“Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm thịnh

hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người, cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội”

Đặc điểm cơ bản của ý thức pháp luật:

Thứ nhất, ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, chịu sự quy định của tồn tại

xã hội:

Vào các thời kì khác nhau thì thái độ, nhận thức, tình cảm, quan niệm, quan điểm của con người về pháp luật là do những điều kiện khách quan của thời kì đó quy định C.Mác đã khẳng định: “Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ, trái lại chính sự tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” Tuy nhiên, tồn tại cả

xã hội và ý thức pháp luật luôn có mối quan hệ biện chứng không thể tách rời nhau Ý thức pháp luật chỉ là sự phản ánh tồn tại xã hội, tồn tại xã hội có vai trò chi phối, quyết định ý thức pháp luật Do đó khi tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức pháp luật cũng thay đổi theo Tồn tại xã hội như thế nào thì ý thức xã hội như thế ấy Ví dụ, ý thức pháp

Trang 9

luật của người dân trong thời kì phong kiến chịu sự quyết định và chi phối của các điềukiện như kinh tế, tập quán, đạo đức, hà khắc, bóc lột nhân dân nên người dân thời kì này họ thường có tâm lí “ Phép Vua thua lệ làng”, thờ ơ đối với pháp luật, chống đối vàcoi thường pháp luật Tuy nhiên trong điều kiện xây dựng nhà nước Pháp quyền XHCNnhư ở Việt Nam hiện nay, là “Nhà nước của đan, do dân và vì dân”, với một nền kinh tếthị trường mở, quyền con người được đề cao đã có tác động mạnh đến ý thức pháp luật của mỗi công dân Để đảm bảo quyền lợi cho mỗi công dân và để hội nhập thành công thì ý thức pháp luật của mỗi công dân đang ngày càng được nâng cao.

Thứ hai, tính độc lập tương đối của ý thức pháp luật:

Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội có tính độc lập tương đối Với tư cách

là một bộ phận của ý thức xã hội, ý thức pháp luật xuất hiện, nảy sinh trên nền tảng tồntại xã hội nhất định, cụ thể là nó ra đời, biến đổi cùng với nhà nước và pháp luật, tức là khi xã hội đã phân chia thành giai cấp Ý thức pháp luật bị quyết định bởi tồn tại xã hội Tuy nhiên, ý thức pháp luật cũng có tính độc lập tương đối, được biểu hiện cụ thể trên các phương diện sau:

Ý thức pháp luật có thể lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội Mỗi kiểu nhà nước và pháp luật tương ứng với một kiểu phương thức sản xuất đã không còn, nhưng ý thức pháp luật của nó vẫn có thể tồn tại dai dẳng trong tồn tại xã hội mới Nhiều tư tưởng, tâm lí quan điểm, quan niệm và thói quen của quá khứ vẫn tồn tại trong nếp sống, suy nghĩ vàhành động của nhiều người dân trong xã hội Ví như hủ tục bắt vợ của người Mông, dù chưa đủ tuổi kết hôn nhưng đã bị họ nhà trai kéo về thì cô gái phải theo nhà trai về làm

vợ dù chư đủ tuổi kết hôn dẫn tới tình trạng tảo hôn vẫn còn diễn ra Có rất nhiều người

đã biết tảo hôn là vi phạm pháp luật nhưng thấy bạn bè xung quanh đã có vợ thì họ cũng gấp gáp tìm vợ với quan niệm lấy vợ cho bớt khổ

Ý thức pháp luật có thể tiến bộ hơn so với tồn tại xã hội Những tư tưởng pháp luật, đặc biệt là những tư tưởng khoa học pháp lý của các lực lượng tiến bộ đang cầm quyền

Trang 10

có tác dụng to lớn trong việc hình thành và phát triển một nền pháp luật tiên tiến, thúc đẩy sự phát triển của xã hội Quan điểm của C.Mác – Ăng ghen về các vấn đề triết học,chính trị, pháp lí những tư tưởng này đến ngày nay vẫn còn giá trị về thời đại.

Thứ ba, tính kế thừa của ý thức pháp luật:

Tính kế thừa của ý thức pháp luật trong quá trình phát triển Trong quá trình phát triểncủa mình, ý thức pháp luật luôn giữ lại những tư tưởng, quan điểm pháp lý của các thời

kì trước Đặc biệt là những tư tưởng, quan điểm tiến bộ thì nó sẽ tạo điều kiện cho xã hội phát triển, cho nền chính trị, pháp lý được hoàn thiện và ngược lại sẽ cản trở nhữngnhân tố tích cực trong xã hội phát triển Ví như tư tưởng “phân chia quyền lực” của Aristotle từ thời cổ đại là một trong những tư tưởng tiến bộ và nó có ảnh hưởng sâu sắctới tư tưởng chính trị, pháp lý ngày nay

Thứ tư, tính giai cấp của ý thức pháp luật:

Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, các giai cấp khác nhau luôn có những điều kiệnkinh tế, chính trị, xã hội khác nhau, lợi ích khác nhau và do vậy, ý thức pháp luật của các giai cấp cũng có những nội dung và hình thức phát triển khác nhau Giai cấp thống trị, vì muốn củng cố, duy trì, bảo vệ địa vị chính trị và lợi ích kinh tế của giai cấp mình,nên luôn luôn tìm mọi cách để hợp thức hóa ý chí của giai cấp mình thành pháp luật thông qua con đường nhà nước

Pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị Ý chí đó được nâng lên thành luật, thành các quy tắc ứng xử mang tính chất bắt buộc phải thực hiện đối với toàn xã hội Pháp luật luôn bảo vệ cho giai cấp thống trị, là vũ khí chính trị của giai cấp thống trị đểchống lại các giai cấp, tầng lớp xã hội khác và đưa hoạt động quản lý xã hội đi theo quỹ đạo, ý muốn của mình Các giai cấp, tầng lớp xã hội không được nắm quyền thống trị cũng có ý thức pháp luật của mình, song ý thức pháp luật của những bộ phận xã hội này không được phản ánh đầy đủ trong hệ thống luật pháp Chỉ có ý thức pháp luật của

Trang 11

giai cấp thống trị mới được phản ánh đầy đủ trong nội dung, hình thức biểu hiện và quátrình thực thi pháp luật hiện hành.

1.2 VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT:

Thứ nhất, vai trò của ý thức pháp luật trong đời sống kinh tế

Đời sống kinh tế của xã hội là tổng thể những mối quan hệ, tương tác lẫn nhau của con người liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người với một nguồn lực có giới hạn

Ý thức pháp luật có thể góp phần thúc đẩy đời sống kinh tế phát triển, bởi lẽ ý thức pháp luật là tiền đề trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhà nước

Hệ thống pháp luật nhà nước nếu phản ánh đúng quy luật phát triển kinh tế, phản ánh đúng nhu cầu và xu hướng phát triển của một chế độ kinh tế - xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất định thì mới có tác dụng thúc đẩy và tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế

- xã hội mới phát triển Do đó, nhà nước với tư cách là người trực tiếp sáng tạo pháp luật trước hết phải nhận thức được những đòi hỏi khách quan của đời sống kinh tế - xã hội thực tiễn, những yêu cầu đặt ra trong quá trình phát triển của kinh tế - xã hội để phản ánh kịp thời vào hệ thống pháp luật

Pháp luật là công cụ quản lý kinh tế của đất nước thông qua việc thể chế hóa các chính sách, kế hoạch phát triển thành hệ thống các quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế đạt hiệu quả, nên việc nâng cao ý thức pháp luật sẽ góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống luật pháp hiện hành nhằm điều chỉnh phù hợp các quan hệ kinh tế Nhờ hệ thống pháp luật, các chủ thể kinh tế được đảm bảo quyền

tự do và lợi ích hợp pháp, đồng thời họ cũng xác định được nghĩa vụ và quyền hạn của mình trong sản xuất, phân phối, lưu thông và tiêu dùng và do vậy, ý thức pháp luật của

họ cũng được củng cố, nâng cao

Trang 12

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, sự phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo đang diễn ra với khoảng cách ngày càng lớn, cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt, các vấn đề kinh tế - xã hội trở nên phức tạp và gay gắt hơn (sự cạnh tranh không lành mạnh, kinh tế phát triển mất cân đối, phát sinh nhiều tiêu cực, hành vi tham nhũng, lãng phí và tệ nạn xã hội ) Điều này càng cần đến sự điều chỉnh của pháp luật, đặc biệt là cần đến ý thức pháp luật tự giác, tích cực của các chủ thể tham gia hoạt động trong nền kinh tế thị trường

Thứ hai, vai trò của ý thức pháp luật trong đời sống chính trị

Trong điều kiện của Nhà nước pháp quyền, pháp luật có vị trí tối thượng; ý thức pháp luật cũng giữ vị trí quan trọng, là bộ phận ý thức xã hội chủ đạo trong hệ thống ý thức

xã hội Ở nước ta hiện nay, ý thức pháp luật thích ứng với tính chất của nhà nước kiểu mới, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Ý thức pháp luật giúp con người có khả năng nhận thức, đánh giá về đời sống pháp luật với các vấn đề, như thực trạng của đời sống pháp luật hiện hành; các tài liệu, ấn phẩm thông tin pháp lý; tình trạng pháp chế; công tác tổ chức, áp dụng và thi hành luật pháp của các cơ quan nhà nước; hoạt động thực hiện pháp luật của các tổ chức xã hội, thái độ và hành vi của các tầng lớp nhân dân với pháp luật; tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi của bản thân, của người khác; sự công bằng hay chưa trong việc áp dụng pháp luật đối với hoạt động của các cơ quan, tổ chức xã hội; v.v

Mỗi người dân cũng như cán bộ, công chức, người có chức vụ, quyền hạn muốn đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật thì phải có sự nhận thức pháp luật đầy đủ, chính xác Ý thức pháp luật và hành vi pháp luật của cán bộ, công chức có ảnh hưởng sâu rộng, trực tiếp đến nhiều cá nhân khác, nhất là đội ngũ cán bộ tư pháp, bởi một trong những thẩm quyền quan trọng của họ là có thể ban hành những quyết định làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền hạn hay nghĩa vụ pháp lý, có thể đưa lại lợi ích hoặc thiệt hại về vật chất, tinh thần cho các tổ chức, cá nhân khác có liên quan Nếu đội

Trang 13

ngũ cán bộ, công chức có ý thức pháp luật cao, có thái độ tôn trọng pháp luật, có hành

vi tích cực trong việc chấp hành pháp luật thì hiệu quả tác động của ý thức pháp luật trong cuộc sống sẽ cao, góp phần duy trì trật tự, kỷ cương xã hội

Thứ ba, vai trò của ý thức pháp luật trong đời sống văn hóa - tư tưởng

Ý thức pháp luật luôn có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các hình thái ý thức xã hội khác Những quan điểm, tư tưởng pháp luật khoa học, tiến bộ góp phần củng cố, phát huy những nhân tố tích cực ở các hình thái ý thức xã hội khác; đồng thời khắc phục những quan niệm không phù hợp, ảnh hưởng xấu đến lợi ích của các giai cấp, đến đời sống cộng đồng và tiến bộ xã hội, chẳng hạn như: những tàn tích của ý thức pháp luật phongkiến, tư sản, ý thức pháp luật của người tiểu nông, sản xuất nhỏ, Ý thức pháp luật cao giúp khắc phục tình trạng xâm phạm quyền tự do dân chủ của nhân dân Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa đã góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân các dân tộc trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc và dân chủ, kiên quyết chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa sôvanh nước lớn

Ý thức pháp luật quyết định hiệu quả của việc thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống Ý thức pháp luật cao là cơ sở cho những ứng xử có văn hóa của con người khi con người có ý thức tôn trọng nhau thông qua việc nghiêm chỉnh chấp hành, tuân thủ pháp luật

Trong một số trường hợp, hệ thống các quy phạm pháp luật chưa cụ thể, chi tiết để hướng dẫn cho hoạt động xã hội của con người, thì ý thức pháp luật vẫn có thể góp phần điều chỉnh hành vi con người một cách phù hợp, nâng cao tính nhân văn, nhân đạo trong hành vi ứng xử giữa người với người

Ý thức pháp luật được xem là điều kiện quan trọng, tiền đề tư tưởng trực tiếp cho việcxây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật Ý thức pháp luật cao là điều kiện

để việc biên soạn, ban hành pháp luật được tiến hànhnhanh chóng và thuận lợi Nếu có

Trang 14

nhận thức đúng đắn và đầy đủ về tình hình kinh tế - xã hội, xác định đúng những quan

hệ xã hội cơ bản cần có sự điều chỉnh của pháp luật, có quy trình và kỹ thuật lập pháp khoa học, phù hợp thì hệ thống pháp luật của đất nước sẽ đạt mức độ hoàn thiện cao

1.3 CƠ CẤU CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT:

Ở góc độ chung, ý thức pháp luật được hợp thành từ tư tưởng pháp luật và tâm lí phápluật Tư tưởng pháp luật là toàn bộ những quan điểm, quan niệm, học thuyết, trường phái lí luận về pháp luật Tư tưởng pháp luật mang tính khoa học phản ánh đúng đắn các mối quan hệ vật chất của xã hội và quy luật phát triển khách quan cùa xã hội Ngược lại, tư tưởng pháp luật thiếu tính khoa học hoặc phản khoa học cũng phản ánh các mối quan hệ vật chất của xã hội nhưng đó là sự phản ánh sai lầm, xuyên tạc và thiếu tính khách quan Tư tưởng pháp luật không đơn thuần là sản phẩm, biểu đạt chínhthống của một chế độ ở một giai đoạn lịch sử mà nó còn hàm chứa các giá trị khoa học được đúc kết, kế thừa từ thực tế của nền văn minh pháp lý nhân loại Tư tưởng pháp luật được xây dựng trên một nền tảng tri thức pháp luật có tính kế thừa qua các giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội

- Tư tưởng pháp luật: đó là tổng thể những quan điểm, quan niệm, học thuyết, sự hiểu biết về pháp luật;

- Tâm lí pháp luật: là sự phản ánh những tâm trạng, cảm xúc, thái độ tình cản đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lí cụ thể khác Tâm lý pháp luật của cá nhân chịu sự tác động bởi các yếu tố: môi trường xã hội, văn hóa, tôn giáo, học vấn, tính cách, quan

hệ xã hội của cá nhân đó

Giữa tâm lí pháp luật và tư tưởng pháp luật có mối quan hệ qua lại, khăng khít với nhau Tâm lí pháp luật ra đời và phản ánh thái độ của con người trước pháp luật một cách tự hát, chưa hoàn chỉnh và chịu sự chi phối của tư tưởng pháp luật Ngược lại, sự phát triển của tư tưởng pháp luật cũng chịu ảnh hưởng của tâm lí pháp luật Đây là hai

Trang 15

trình độ phản ánh đời sống pháp luật nhưng có mối quan hệ tác động lẫn nhau trong sự hình thành ý thức pháp luật; sự đan xen và mức độ tác động qua lại giữa chúng còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc.

Sự kết hợp hài hòa giữa tâm lí pháp luật và tư tưởng pháp luật thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật, được biểu hiện thành hành vi pháp luật Hành vi pháp luật là hành động có ý thức của con người diễn ra trong môi trường điều chỉnh của pháp luật Nói cách khác hành vi pháp luật là hành động có ý thức được xác định trước bằng các quy phạm pháp luật Trong mọi trường hợp, hành vi pháp luật chỉ có thể là hành vi hợp pháp hay hành vi bất hợp pháp Hành vi pháp luật hợp pháp là hành vi phì hợp với các đòi hỏi của pháp luật, trong khuôn khổ của pháp luật; hành vi pháp luật bấthợp pháp là hành vi trái với quy định của pháp luật hiện hành

1.4 CÁC HÌNH THỨC CƠ BẢN CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT (PHÂN LOẠI): Căn cứ và cấp độ và phạm vi nhận thức:

Ý thức pháp luật thông thường (hay còn gọi là ý thức pháp luật phổ thông) là những quan niệm, sự hiểu biết và thái độ, tình cảm của con người được hình thành từ mức độ nhận thức cơ bản đối với các quy định pháp luật cũng như các hiện tượng pháp lí thường nhật xảy ra trong đời sống xã hội Ý thức pháp luật thông thường có tính sinh động, cụ thể phản ánh tư duy, cảm quan trực tiếp đối với các hiện tượng thực tiễn Nó không phản ánh tính hệ thống, chiều sâu của nhận thức và không hình thành nên cơ sở

lí luận chuyên biệt về đối tượng và sự tác động điều chỉnh

Ý thức pháp luật mang tính lí luận là phạm trù, cấp độ ý thức bậc cao trong nền tảng ýthức xã hội, được thể hiện dưới dạng các học thuyết, quan điểm, trường phái về pháp luật, điều chỉnh pháp luật Đó là hệ thống lí luận mang tính khái quát hóa, khoa học và được trải nghiệm từ thực tiễn đời sống xã hội Ý thức pháp luật mang tính lí luận là cơ

sở, nền tảng nhận thức chỉ đạo quá trình xây dựng pháp luật, điều chỉnh pháp luật, giáo

Trang 16

dục và đào tạo pháp luật, tổ chức thực hiện và bảo vệ các giá trị của pháp luật trên thựctế.

Ý thức pháp luật nghề nghiệp (còn gọi là ý thức pháp luật chuyên ngành) là phạm trù

ý thức chuyên sâu gắn với thực tiễn nghề nghiệp liên quan đến việc sử dụng công cụ pháp luật Xuất phát từ tính đa dạng về đối tượng điều chỉnh của pháp luật và thực tiễn hoạt động pháp lí trên nhiều lĩnh vực đã hình thành nên những mặt ý thức pháp luật có tính chuyên biệt, đặc thù gắn với từng lĩnh vực cụ thể Theo đó, nhiều loại chủ thể có ý thức pháp luật chuyên nghiệp bảo đảm việc thực thi các hoạt động pháp luật trên thực

tế như xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, đào tạo, nghiên cứu pháp luật hoặc hành nghề dịch vụ trực tiếp bào chữa, trợ giúp pháp lí, tư vấn pháp luật như luật

sư, luật gia, công chứng viên, tư vấn Đặc biệt, đội ngũ các chức danh nghề luật hoạt động trong các cơ quan bảo vệ pháp luật như thẩm phán, công tố viên, điều tra viên, thanh tra viên, thẩm định viên, giám định viên đòi hỏi và phải thể hiện năng lực và ý thức pháp luật chuyên nghiệp rất cao ưong quá trình thực thi công vụ Theo đỏ, trong lĩnh vực ý thức pháp luật nghề nghiệp có một số chủ thể là chuyên gia với ý thức pháp luật chuyên môn sâu đã đóng góp vai trò quan trọng trong giải quyết những vấn đề đặc thù, phức tạp của thực tiễn pháp lí

Căn cứ vào tiêu chí chủ thể của ý thức pháp luật:

Ý thức pháp luật cá nhân là quan niệm, sự hiểu biết và tình cảm, thái độ của cá nhân con người đối với pháp luật và các hoạt động thực tiễn pháp lí Ý thức pháp luật cá nhân phản ánh đặc điểm nhân cách cá nhân và điều kiện tồn tại của mỗi người do đó thường mang tính chủ quan, phiến diện Điều này cũng có nghĩa là khoảng cách và sự khác biệt nhất định về ý thức pháp luật giữa các cá nhân công dân trong xã hội luôn tồntại và rất khó đem lại sự tương đồng Tuy nhiên, ý thức pháp luật của cá nhân là cơ sở tạo lập ý thức pháp luật xã hội Việc giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật nói

Trang 17

chung chỉ có hiệu quả thực sự khi giải quyết được một cách căn bản những vấn đề thuộc về điều kiện tồn tại và ý thức của mỗi cá nhân.

Ý thức pháp luật nhóm (nhóm người): Tập hợp những cá nhân với sự liên kết theo những mục đích cụ thể tạo nên nhóm người có sự đồng điệu về lối sống, sự hiểu biết vàphương thức ứng xử Chẳng hạn, những nhóm người được hình thành từ sở thích, độ tuổi, chính kiến, quan niệm, lối sống Chính vì vậy, nhóm người cũng có các quan niệm, cách tiếp cận, thái độ tình cảm, sự đánh giá đối với pháp luật và thực tiễn pháp lí khá tương đồng Tuy nhiên, do tổ chức, cấu trúc nhóm nhìn chung khá lỏng lẻo và nhất thời nên việc nhận diện ý thóc pháp luật theo nhóm ít phục vụ cho việc giải quyết vấn

đề của thực tiễn điều chỉnh pháp luật

Ý thức pháp luật xã hội: Xã hội là một thiết chế mang tính cộng đồng của con người Phạm trù ý thức pháp luật xã hội được hiểu với nghĩa rộng là tổng thể những quan điểm, quan niệm, hệ thống tri thức về pháp luật và thái độ, tình cảm, sự đánh giá của cộng đồng các thành viên trong xã hội đối với các lĩnh vực của đời sống pháp lí Ý thứcpháp luật xã hội là yếu tố phản ánh điều kiện tồn tại xã hội, các đảm bảo của nhà nước, khuynh hướng định chế, điều chỉnh pháp luật cũng như trạng thái, trình độ văn hóa pháp lí của một quốc gia, dân tộc Mặt khác, ý thức pháp luật xã hội cũng mang tính phản biện, lên án đối với những khuynh hướng pháp luật không phù hợp, thái độ thờ ơ,coi thường pháp luật hoặc những hoạt động pháp lí làm phương hại quyền, lợi ích con người, xã hội Trong xã hội hiện đại, bảo vệ những giá trị nhân quyền, bảo đảm chủ quyền nhân dân, tôn trọng thực thi pháp luật là những yếu tố cốt lõi luôn hàm chứa trong nội dung của ý thức pháp luật

Ngày đăng: 23/05/2023, 15:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w