Những biện pháp chủ yếu nhất mà chế độ dân chủ của giai cấp vô sản sử dụng vào việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới thể hiện ở những công việc như: hạn chế quyền tư hữu; dần dần t
Trang 1CHỦ ĐỀ: Dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa (Đề cương gợi ý: Sự ra đời, phát triển của các nền dân chủ trên thế giới Quá trình hình thành, phát triển của nền dân chủ XHCN ở VN;Bản chất, đặc trưng của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, tính tất yếu xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; Liên hệ với thực tiễn dân chủ ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay)
-HẠN NỘP NỘI DUNG: 12H30 THỨ TƯ
(1/3/2023) HẠN NỘP PP: 12H THỨ BẢY (4/3/2023)
-LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm tới đây, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan
xen; đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; đòi hỏi toàn dân ta tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; không ngừng gia tăng tiềm lực của quốc gia; đưa Việt Nam phát triển nhanh chóng và bền vững Để thực hiện các quan điểm, mục tiêu, định hướng và nhiệm vụ trọng tâm đã đề ra, việc cấp thiết là nhận thức những vấn đề cơ bản cũng như bản chất của nền dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa
Vấn đề cần hướng đến là những quy luật, tính quy luật chính trị, xã hội của quá trình phát sinh, hình thành và phát triển của nền dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, những điều kiện, con đường, hình thức, phương pháp đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động cũng quan trọng không kém nhằm hiện thực hóa quá trình quá
độ lên chủ nghĩa xã hội
Trong quá trình nghiên cứu, dựa vào những nguồn tài liệu có giá trị và đáng tin cậy như các bài báo, các tác phẩm có liên quan hay cái nhìn của các cá nhân là những người nổi tiếng, ta có được dữ liệu để khai thác các khía cạnh khác nhau để có một cái nhìn khách quan và chuyên sâu hơn Trên cơ sở sử dụng phương pháp luận chung nhất là chủ nghĩa duy vật biện biện chứng và và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, ta có thể chọn lọc được những thông tin mang tính chính xác cao và cần thiết nhất để phục vụ cho đề tài nghiên cứu
CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC NỀN DÂN CHỦ TRÊN THẾ GIỚI
1.1: Lịch sử khái quát của nền dân chủ trên thế giới
Thuật ngữ dân chủ ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII - VI trước công nguyên Các nhà tư tưởng Lạp cổ đại đã dùng cụm từ "demokratos" để nói đến dân chủ, trong đó Demos là nhân dân (danh từ) và kratos là cai trị (động từ) Theo đó, dân chủ được hiểu là nhân dân cai trị và sau này được các nhà chính trị gọi giản lược là quyền lực của nhân dân hay quyền lực thuộc về nhân dân Nội dung trên của khái niệm dân chủ về cơ bản vẫn giữ nguyên cho đến ngày nay
Dân chủ là một hiện tượng xã hội đã có mầm mống xuất hiện từ thời xa xưa, bởi nó là yếu tố không thể thiếu trong sự tồn tại và phát triển của đời sống con người Từ thời kì xã hội nguyên thủy, con người đã biết cùng nhau góp sức để sản xuất của cải vật chất, chống lại những điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên, do đó việc cử
ra một người để chỉ huy, điều khiển nhằm đảm bảo hoạt động sản xuất của cải vật chất diễn ra bình thường Những người chỉ huy có thể là những người có ưu thế về sức mạnh, trí tuệ, tuổi tác Khi xã hội bắt đầu phân hóa giai cấp thì giai cấp nắm tư liệu sản xuất trở thành chủ thể nắm giữ quyền lực công và họ dùng quyền lực này trước hết là để bảo vệ lợi ích giai cấp của mình Đó cũng chính là lúc giai cấp chủ nô lập ra nhà nước dân chủ chủ nô của mình (chẳng hạn như nhà nước Aten ở Hy Lạp) Tuy nhiên, nền dân chủ chủ nô này mang tính chất dân chủ không hoàn toàn bởi lẽ giai cấp chủ nô thâu tóm mọi quyền lực và lợi ích trong xã hội Do đó, nền dân chủ Aten chỉ giới hạn tại một phần nhỏ dân số Sau đó, ở xã hội phong kiến, hầu như không tồn tại
Trang 2dân chủ bởi quyền lực nằm tuyệt đối vào tay vua, mệnh lệnh của vua là thánh chỉ, mọi tầng lớp dưới phải tuân thủ
Nhận thấy xã hội phong kiến lạc hậu lỗi thời đồng thời cũng kìm hãm sự tự do cá nhân cũng như gây khó khăn trong trao đổi hàng hóa, mở rộng thị trường, các nhà cách mạng tư sản đã tiến hành cuộc cách mạng tư sản nhằm xóa bỏ chế độ phong kiến, lập ra một chế độ mới nhằm đảm bảo công bằng dân chủ Tuy nhiên, đó chỉ là những “lời nói suông”, những “lời hứa hẹn không thực hiện được” của giai cấp tư sản Họ nắm trong tay
tư liệu sản xuất, bóc lột giai cấp tư sản thông qua giá trị thặng dư khiến những cuộc đấu tranh nổi dậy, họ buộc phải nhờ vào thế lực phong kiến cũ để đàn áp những cuộc đấu tranh này Do đó, nền dân chủ tư sản chỉ mang tính chất nửa vời, không triệt để bởi dân chủ tư sản chỉ mang lại lợi ích cho giai cấp tư sản chứ không phải mọi thành phần, giai cấp trong xã hội
Một nền dân chủ khác mà trong đó lợi ích cộng đồng được đảm bảo, đảm bảo nhà nước luôn phục vụ vì dân,
do dân và của dân là dân chủ xã hội chủ nghĩa Đó là xã hội mà đại đa số người dân được xác định là chủ thể xã hội, nhân dân làm chủ xã hội Khi nhân dân được làm chủ xã hội, được thụ hưởng những thành quả của mình tạo ra thì trở thành động lực to lớn thúc đẩy xã hội phát triển Do đó có thể đảm bảo đời sống ấm no, hạnh phúc cho người dân cũng như đảm bảo dân chủ hoàn toàn
Trang 31.2: Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về dân chủ
Theo “Đại Từ điển Tiếng Việt”, dân chủ là "nhân dân có quyền tham gia, bàn bạc vào công việc chung, được tôn trọng quyền lợi của từng thành viên trong xã hội" Tuy nhiên, dưới góc độ Chủ nghĩa xã hội khoa học -một trong ba bộ phận của chủ nghĩa Mác Lênin, ta chủ yếu tiếp cận vấn đề dân chủ dựa trên quan niệm của Mác Lê-nin
Theo đó, dân chủ có những giá trị to lớn về mặt khoa học, cách mạng cũng như thực tiễn
Thứ nhất, dân chủ nên được nhận thức trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để tạo ra sự đột phá có tính cách mạng trong nhận thức và thực hành dân chủ Dân chủ phản ánh tính chất các mối quan hệ xã hội, trình độ cũng như yêu cầu phát triển của xã hội, nhất là trong lĩnh vực kinh tế Từ quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm về hình thái kinh tế - xã hội và mối quan hệ giữa
cơ sở hạ tầng - kiến trúc thượng tầng, dân chủ được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin lý giải một cách khoa học, nhất là về cơ sở, nguồn gốc, bản chất và yếu tố ảnh hưởng của nó Bởi vì, “Trong sự sản xuất
xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của
họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị”.([1])
Thứ hai, xác định giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử của dân chủ tư sản trên tinh thần khoa học và cách mạng
Từ những hạn chế đó, cần nhận thức được rằng, dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu cần đạt được tại nước ta Trước tiên, ta có thể thấy, dân chủ tư sản có tính tiến bộ và cách mạng bởi nó nhằm kết thúc sự lỗi thời, độc đoán chuyên quyền của xã hội phong kiến Dân chủ tư sản làm cho đấu tranh giai cấp trở nên rộng rãi, công khai, có ý thức “Chế độ cộng hòa tư sản, nghị viện, đầu phiếu phổ thông, - tất cả những cái đó, xét về phương diện phát triển của xã hội trên toàn thế giới, đều là một bước tiến rất lớn” ([2]) Tuy nhiên, dân chủ tư sản lại mang tính nửa vời, không triệt để Dân chủ tư sản là một vỏ bọc để cho giai cấp tư sản bóc lột sức lao động của giai cấp vô sản thông qua giá trị thặng dư Cái dân chủ mà giai cấp tư sản gây dựng nên chỉ hiện hữu trên mặt giấy của các bản Hiến pháp sau cuộc cách mạng tư sản nhưng lại không có cơ chế rõ ràng để bảo vệ cái
mà họ cho là dân chủ đó Do đó, dân chủ tư sản hoàn thành khi mang lại lợi ích căn bản cho giai cấp tư sản và làm cho cuộc đấu tranh vì dân chủ của quần chúng đi đến thoái trào; đồng thời, dẫn đến việc giai cấp tư sản thỏa hiệp với giai cấp phong kiến, sợ hãi và đàn áp các lực lượng dân chủ và cách mạng Những hành động của giai cấp tư sản đã đi ngược lại mục tiêu ban đầu của cuộc đấu tranh vì dân chủ
Thứ ba, hình thành quan điểm về dân chủ nhằm giải quyết những nhiệm vụ lịch sử của cách mạng vô sản và
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Xây dựng nền dân chủ là một mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản của cách mạng
vô sản “Như chúng ta đã thấy trên kia, bước thứ nhất trong cuộc cách mạng công nhân là giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị, là giành lấy dân chủ”([3]) Sau khi giành được chính quyền, giai cấp vô sản thông qua nhà nước của mình để từng bước tổ chức cho toàn dân tham gia quản lý nhà nước một cách dân chủ Những biện pháp chủ yếu nhất mà chế độ dân chủ của giai cấp vô sản sử dụng vào việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới thể hiện ở những công việc như: hạn chế quyền tư hữu; dần dần tước đoạt ruộng đất, xí nghiệp, đường sắt, tàu thủy của địa chủ và tư sản, thực hiện cạnh tranh trong công nghiệp nhà nước; tịch thu tài sản của giai cấp bóc lột; tổ chức lao động trong giai cấp vô sản; thủ tiêu sự cạnh tranh giữa công nhân với nhau, trả tiền công bình đẳng cho người lao động; tất cả mọi người trong xã hội đều có nghĩa vụ lao động như nhau; tiến hành những cải tạo kinh tế và xã hội nhằm không ngừng phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của nhân dân lao động Không đặc quyền, không áp chế, không bất công, là những nguyên tắc của nền dân chủ vô sản
[1]C Mác và Ph Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t 13, tr 14 - 15
[2]V.I Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t 39, tr 94
C Mác và Ph Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t 4, tr 626
Trang 41.3 Quan niệm Hồ Chí Minh về dân chủ:
1.4 Một số nền dân chủ tiêu biểu trên thế giới
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
2.1 Chủ trương và quá trình hình thành, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Trong quá trình hình thành và phát triển các nền dân chủ trong lịch sử và tiệm cận nhất là nền dân chủ tư sản, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng nền dân chủ tư sản còn nhiều hạn chế để phát triển, đấu tranh cho dân chủ trong lâu dài, do đó theo quy luật, tất yếu cần một nền dân chủ mới để khắc phục những nhược điểm của các nền dân chủ trước đó, cao hơn nền dân chủ tư sản và đó chính là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa hay còn gọi là nền dân chủ vô sản Trên tổng thể lịch sử phát triển của các nền dân chủ, nền dân chủ tư sản chính là bậc thang, là một giai đoạn tất yếu, hay nói cách khác nếu không có nền dân chủ tư sản thì sẽ không xuất hiện, tồn tại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Thực chất, mầm mống của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã nảy sinh từ trong cuộc đấu tranh giai cấp ở Pháp và Công xã Paris năm 1871, nhưng chỉ đến khi Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 thành công vang dội, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mới chính thức được xác lập Sự ra đời của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa chính
là một bước đột phá trong quá trình đấu tranh cho dân chủ từ trước đến nay Tuy “sinh sau đẻ muộn” nhưng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vẫn từng bước phát triển, dần trở nên hoàn thiện hơn, bởi lẽ được kế thừa những giá trị, tinh hoa, kinh nghiệm của các nền dân chủ trước đó, đã tạo bước đệm vững chắc giúp cho nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa khắc phục được những khuyết điểm, đồng thời bổ sung và làm sâu sắc thêm những giá trị cốt lõi của một nền dân chủ phát triển Như Lênin đã chỉ ra, đối với chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa “Phát triển dân chủ đến cùng, tìm ra những hình thức của phát triển ấy, đem thí nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn”, là một trong những nhiệm vụ cấu thành của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là vấn đề mang tính quy luật
và hoàn thiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Trong quá trình kế thừa và phát triển những giá trị bền vững, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, càng mở rộng dần bao nhiêu, càng dẫn tới sự tiêu vong tới tư cách là một thiết chế chính trị, ngoài ra còn phát triển thêm những giá trị mới cho quá trình phát huy dân chủ Cụ thể hơn, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã tạo ra được điều kiện về vật chất và tinh thần để nhân dân được hưởng những quyền dân chủ được Hiến pháp, pháp luật ghi nhận, bởi khi nói đến xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, bước đầu tiên và quan trọng nhất đó chính là ghi nhận và bảo vệ quyền tự do, dân chủ của nhân dân, của những người dân lao động - người đã lật đổ ách thống trị của của bọn bóc lột để giành lấy
tự do, tạo điều kiện cho người dân được hưởng và thực hiện quyền dân chủ trong thực tế, đó chính là sự chuyển đổi “lượng thành chất” của quá trình đấu tranh dân chủ, phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa Theo hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, giai cấp vô sản không thể thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa, nếu họ không đi qua con đường đấu tranh cho dân chủ Sở dĩ, nếu không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ dân chủ thì chủ nghĩa xã hội không thể duy trì và đi đến thắng lợi Nguyên tắc của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là không ngừng phát triển, đổi mới, nâng cao mức độ giải phóng cho người dân lao động, vận động người dân tự giác tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội Mục tiêu cao cả mà nền dân chủ xã hội chủ nghĩa hướng tới đó chính là xây dựng và thiết lập xã hội tốt đẹp, nhân văn, tiến bộ, vì hạnh phúc mỗi con người
2.2/ Nhận thức cơ bản về dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng, phát triển xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Thực chất, dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ cao hơn về chất so với các nền dân chủ xuất hiện trước đó trong quá trình đấu tranh cho dân chủ, là nền dân chủ mà trong đó nhân dân, người dân lao động là chủ , nắm quyền làm chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, dân chủ và pháp luật nằm trong mối quan hệ thống nhất, biện chứng, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo của
Trang 5Đảng Tóm lại, nội dung cơ bản của dân chủ xã hội chủ nghĩa là tất cả quyền lực thuộc về nhân dân Như tại Việt Nam, Hiến pháp 2013 quy định: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân
mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhờ chính sách, đường lối đúng đắn mà Đảng đã đề ra, góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, đáp ứng được khát vọng của nhân dân, phù hợp với quy luật khách quan và thực tiễn của xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã khẳng định “Nước ta là một nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng trách nhiệm của dân…Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân.”, trong thời kỳ đổi mới Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh nhiệm vụ của Đảng phải nhận thức rõ vị trí, vai trò quan trọng của dân chủ đối với sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa
ở nước ta là kết tinh toàn bộ những giá trị từ các nền dân chủ trước đó, vừa kết hợp với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc để thể hiện, phát huy những giá trị dân chủ, dân chủ phải trở thành giá trị phổ biến trong xã hội, đi vào các quan hệ chính trị-xã hội, mọi lĩnh vực của đời sống “Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.” và “Xây dựng nền dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ thực sự thuộc về nhân dân là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam.” Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp của nhân dân, không có sự đoàn kết của quần chúng nhân dân thì sự nghiệp dựng xây nền dân chủ, đi lên chủ nghĩa xã hội sẽ thất bại Dân chủ chính là biểu hiện quan điểm giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã khẳng định chế độ xã hội chủ nghĩa
mà nhân dân Việt Nam xây dựng là xã hội do nhân dân nắm quyền làm chủ, cốt lõi trong quá trình xây dựng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta là tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền làm chủ của nhân dân, quyền và nghĩa vụ phải đi đôi với nhau Cơ chế để nhân dân làm chủ, Đảng đã xây dựng và ban hành nguyên tắc: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ Trong đó, “Đảng và Nhà nước đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân; khẳng định “vai trò, chủ thể, vị trí trung tâm” của nhân dân trong toàn bộ quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc” Nhân dân là chủ thể chính của xã hội, không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm, nghĩa vụ tham gia đóng góp vào hoạch định, thực thi chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, thực hiện quyền làm chủ thông qua phương thức dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp Tóm lại, dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là chế độ dân thực sự, không phải chỉ mang tính chất hình thức Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân là nhiệm vụ trọng yếu, bởi dân chủ là giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội, cũng là mục tiêu cao cả mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước, Nhân dân hướng tới, kiên trì theo đuổi Nếu không dựng xây được nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, sẽ không thể đi lên chủ nghĩa xã hội Để đạt được như vậy cần “ một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân,
do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”, phải “hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hoà với lợi ích chính đáng của con người…” Đường lối, chính sách do Đảng dẫn dắt, lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ để phát huy, xây dựng tính dân chủ tạo dựng nên mối quan hệ thống nhất về mục tiêu và lợi ích giữa các chủ thể tham gia Ngoài ra, xây dựng nền dân chủ là một quá trình lâu dài, khó khăn cần thời gian và sự đồng lòng, kiên định của Đảng, Nhà nước và Nhân dân
2.3 Những cơ hội của Việt Nam khi xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Thành công của Việt Nam trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa chính là kết hợp hài hòa giữa nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về dân chủ để có chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật phù hợp, là giữa lý thuyết về dân chủ với việc thực hành dân chủ trên mọi mặt của đời sống xã hội Do đó, quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước luôn được quan tâm đặc biệt
Sự tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân được đặt lên hàng đầu Bên cạnh đó, nước ta gắn quyền công dân đi liền với nghĩa vụ và trách nhiệm cũng đi liền đối với xã hội Song, khi xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa như thế, Việt Nam ta đã gặt hái được nhiều thành công nhất định trong nhiều lĩnh vực chủ chốt Thể chế thực thi các quyền làm chủ của nhân dân từng bước được xác lập, cụ thể hóa
và đi vào cuộc sống như một lẽ đương nhiên Ý thức dân chủ của công dân và của xã hội, trình độ làm chủ của nhân dân được nâng lên rõ rệt Nhiều chủ trương, biện pháp phát huy vai trò tích cực, chủ động của nhân dân
đã được thực hiện hiệu quả Niềm tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước được củng cố và trở thành quan
hệ hữu cơ, bền chặt
Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế có bước phát triển quan trọng là cơ sở cho sự bảo đảm dân chủ trong các
Trang 6lĩnh vực khác của đời sống xã hội Đường lối xây dựng và phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh, hình thức phân phối, bình đẳng trước pháp luật, hoạt động theo pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, đã tạo nền điều kiện nền tảng cho việc thực hành và phát huy dân chủ Dân chủ trong lĩnh vực văn hóa
-xã hội được đẩy mạnh và thực thi hiệu quả hơn Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và các giải pháp hữu hiệu trong các lĩnh vực y tế, văn hóa, giáo dục, thể thao, công nghệ, môi trường… ngày càng hoàn thiện và đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống Nhiều văn bản pháp luật đã cụ thể hóa các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, phù hợp hơn với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật được luật hóa và từng bước đi vào cuộc sống Công bằng, bình đẳng xã hội có bước tiến bộ rõ rệt Việt bảo đảm quyền con người, quyền công dân ngày càng được quan tâm và phát huy hiệu quả tích cực Trong lĩnh vực chính trị, dân chủ trong Đảng, trong các tổ chức nhà nước, đoàn thể và xã hội trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan dân cử được mở rộng và phát huy hiệu quả tích cực Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý các hành vi vi phạm quyền dân chủ được chú trọng hơn Hệ thống chính trị có những đổi mới theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả; dân chủ hóa, công khai minh bạch trong phương thức hoạt động, qua đó dân chủ xã hội ngày càng được phát huy, hiệu quả
Về dân chủ trong Đảng, trước hết, các việc thực hiện dân chủ trong các mặt hoạt động của Đảng, như việc công tác lý luận, công tác tư tưởng, công tác tổ chức và cán bộ, công tác kiểm tra… đã có nhiều chuyển biến tích cực Cụ thể như:
Thứ nhất, những thành tựu có ý nghĩa lịch sử của sự đổi mới trong 30 năm qua chính là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo và sự nỗ lực phấn đấu bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân ta, đồng thời cũng là thành công của quá trình thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa Sở dĩ có các chủ trương, đường lối đúng đắn như trên là do có dân chủ thảo luận (trưng cầu dân ý) và Đảng ta biết lắng nghe ý kiến đóng góp của hàng triệu cán bộ, đảng viên, của các nhà khoa học và của chủ thể đặc biệt là nhân dân
Thứ hai, nói đến công tác tư tưởng, Đảng ta đã thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng của các hoạt động tuyên truyền, thuyết phục và vận động quần chúng Trong thực tế, kết quả của công tác tư tưởng thể hiện
ở chỗ: Tiếp tục giữ vững ổn định chính trị và tính dân chủ, người dân ngày càng được biết nhiều hơn về các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Cùng với việc dân biết, dân cũng được bàn bạc, cũng như tham gia ý kiến về nhiều việc quan trọng Nhờ vậy, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhận được nhiều sự đồng tình, ủng hộ từ quảng đại quần chúng nhân dân
Thứ ba, ở công tác tổ chức, cán bộ đã có nhiều chuyển biến tích cực hơn như: Các cơ quan Đảng, Nhà nước và các đoàn thể được sắp xếp lại, kiện toàn theo một hướng tinh gọn, nâng cao đầy hiệu quả Nhiều chủ trương, quan điểm, giải pháp về công tác cán bộ được thể chế hóa, cụ thể hóa thành các quy chế, quy định Bên cạnh đó, Đảng cũng đã triển khai tương đối đồng bộ các khâu đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ Từ đó, công tác tổ chức, cán bộ chuyển hướng theo hướng dân chủ hóa
Thứ tư, công tác kiểm tra, giám sát phải thực hiện trong cả hệ thống chính trị, kiểm tra, giám sát từng người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ở các cấp trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; kiểm tra, giám sát việc chấp hành các chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và Nhà nước Trong thời gian qua, công tác kiểm tra, giám sát được cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, có nhiều đổi mới và đạt được những kết quả quan trọng
Thứ năm, thực hành dân chủ thông qua các quan hệ trong nội bộ Đảng Đảng phải gương mẫu thực hành dân chủ không chỉ trong các hoạt động của Đảng, mà cả trong quan hệ nội bộ đảng mà chủ yếu là quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới Mặt ưu điểm của thực hành dân chủ trong quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới trong nội bộ đảng được thể hiện ở nhiều điều Sau khi có nghị quyết Đại hội và các hội nghị Trung ương, các cấp dưới thực hiện việc cụ thể hóa nhanh, gọn hơn trước Nhìn chung các cấp ủy đảng đã thể hiện sự chủ động, năng động cao hơn trong việc tổ chức chỉ đạo thực hiện nghị quyết và đưa nghị quyết vào cuộc sống Các cấp
Trang 7ủy đảng đã coi trọng công tác tổng kết thực tiễn và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết để báo cáo lên cấp trên Cấp trên đã chịu khó lắng nghe các ý kiến đóng góp của cấp dưới, cấp dưới đã mạnh dạn đóng góp ý kiến phê bình, xây dựng với cấp trên Cùng với việc kiểm tra từ trên xuống, đã bắt đầu có sự kiểm tra từ dưới lên Từ
đó, nhà nước đã khắc phục được một bước tình trạng cấp trên quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, dọa nạt cấp dưới, đồng thời khắc phục được phần nào tình trạng cấp dưới hối lộ, nịnh bợ cấp trên Đây là những thành tựu tương đối to lớn mà nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã đem đến cho Đảng ta
Về dân chủ trong Nhà nước, dân chủ trong Đảng gắn liền với dân chủ trong Nhà nước Nói về những thành tựu và hạn chế của việc thực hành dân chủ trong Đảng cũng tức là nói về thành tựu và hạn chế của việc thực hành dân chủ trong Nhà nước Tuy nhiên, dân chủ trong Nhà nước cũng có những nét đặc thù nhất định Nhà nước đã tạo những điều kiện thuận lợi để nhân dân nắm bắt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nắm được các thủ tục hành chính khi giải quyết các công việc liên quan với nhân dân, biết được quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước về sử dụng đất đai, về dự toán, quyết toán ngân sách… Đồng thời, cùng với việc dân biết, dân còn được bàn bạc nhiều việc quan trọng, như những dự án, mức đóng góp cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở địa phương, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch dân cư, điều chỉnh địa giới hành chính, phương án đền bù giải phóng mặt bằng… Khi ấy, Nhà nước đều hỏi ý kiến của nhân dân Quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân có nhiều tiến bộ trên một số phương diện, dần dần thể hiện đúng tư tưởng Hồ Chí Minh đem lại: Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Các cơ quan nhà nước đã từng bước đổi mới tổ chức và hoạt động, thích ứng và tổ chức tốt hơn yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mở cửa, hội nhập và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Trong những năm qua, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã có những tiến bộ nhất định trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp Quốc hội có những đổi mới quan trọng trong công tác lập pháp, đã thông qua một số lượng lớn luật, bộ luật, pháp lệnh mới với chất lượng ngày càng được nâng cao, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước và thực hành dân chủ Tăng cường một bước tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước, tránh được tình trạng ôm đồm, cồng kềnh và quan liêu trước đây, thực hiện sự phân cấp, giảm bớt phiền hà trong bộ máy hành chính Dần dần thực hiện được tư tưởng quan trọng là tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, Nhà nước phục
vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân và chịu sự giám sát
từ nhân dân Chúng ta đang phát huy việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa để bảo đảm dân chủ gắn với kỷ luật, kỷ cương; đồng thời, chỉ có thực hành dân chủ mới xây dựng được Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân
Về dân chủ trong xã hội, dân chủ trong Đảng, dân chủ trong Nhà nước và dân chủ trong xã hội có liên quan chặt chẽ với nhau, trong đó dân chủ trong Đảng có ý nghĩa quyết định quan trọng Nếu dân chủ trong Đảng chưa tốt thì dân chủ trong Nhà nước và trong xã hội cũng không thể thực hiện một cách tốt được Nhờ
có những chủ trương đúng đắn của Đảng, nhờ việc thể chế hóa của Nhà nước về những chủ trương đó nên dân chủ trong xã hội mới có những bước tiến đáng kể Điều đó thể hiện rõ khi nhân dân ta cảm nhận được bầu không khí càng ngày càng dân chủ hơn, cởi mở hơn trong xã hội Ở cơ sở, người dân đã chủ động bàn bạc, tham gia ý kiến, thực hiện quyền làm chủ, bày tỏ chính kiến của mình; đồng thời, tích cực tham gia công tác xây dựng Đảng, chính quyền, thể hiện tốt vai trò giám sát đối với cán bộ, đảng viên, thẳng thắn góp ý kiến về hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương Ngoài ra, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đã từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động theo hướng mở rộng và phát huy dân chủ, phát huy tốt hơn vai trò giám sát và phản biện xã hội Các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp ra đời đáp ứng nhu cầu đa dạng của nhân dân Các hình thức thực hiện dân chủ (dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện) từng bước được mở rộng, đổi mới và thực hiện hiệu quả hơn Có thể nói, một trong những thành tựu quan trọng của việc đổi mới là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đang được hình thành và đang đóng vai trò là động lực to lớn của sự phát triển xã hội Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp của nhân dân, không có sự đoàn kết, sáng tạo của quần chúng nhân dân thì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ thất bại Dân chủ chính là biểu hiện quan điểm giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội, là nhân tố tạo ra sự ổn định, phát triển và thịnh vượng
2.4 Những thách thức của Việt Nam khi xây dựng nền dân chủ XHCN.
Song song với các thành tựu trên, thì việc dân chủ hóa trong các lĩnh vực vẫn chưa thực sự đồng bộ với yêu cầu đổi mới đất nước, còn tồn đọng nhiều hạn chế trong việc tổ chức, thực hiện Một số nội dung về dân
Trang 8chủ, quyền con người chưa được cụ thể hóa thành luật, thành chính sách; nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền về dân chủ và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa chưa đầy đủ, chi tiết Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi còn bị vi phạm, việc thực hiện dân chủ có lúc, có nơi còn mang tính hình thức, tách rời dân chủ với
kỷ cương, pháp luật Một số hạn chế có thể kể đến là:
Về dân chủ trong Đảng, ở công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén, thiếu sức thuyết phục và tính chiến đấu còn hạn chế, chưa sâu sát thực tế, chưa linh hoạt Tình trạng suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống một phần là do công tác tư tưởng chưa làm tốt chức năng, nhiệm vụ giáo dục chính trị và tư tưởng Các thông tin chưa được cung cấp thường xuyên để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra Ta chưa thật sự mở rộng dân chủ trong tự do ngôn luận, lắng nghe các ý kiến khác biệt Vẫn tồn tại tình trạng nói nhiều, làm ít hoặc nói nhưng không làm Bên cạnh đó, công tác tổ chức, cán bộ vẫn chậm được đổi mới, còn một số biểu hiện trì trệ, yếu kém, bất cập Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị
có quá nhiều đầu mối, trách nhiệm tập thể và cá nhân không rõ ràng, chất lượng hoạt động và hiệu quả thấp
Bộ máy còn cồng kềnh, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của nhiều cơ quan còn chồng chéo; cơ chế vận hành và nhiều quan hệ còn bất hợp lý Chưa thực sự lắng nghe ý kiến của nhân dân về tuyển chọn, đào tạo, sắp xếp, sử dụng và đánh giá cán bộ Chưa thực hành dân chủ trong công tác tổ chức, cán bộ, chưa thực hiện
cơ chế lựa chọn có số dư cho việc tuyển chọn và bổ nhiệm cán bộ, đặc biệt là chưa mở rộng dân chủ thực sự
để tạo ra môi trường cho tài năng được phát huy Chưa thực hiện công khai hóa, minh bạch hóa các khâu trong công tác cán bộ để nhân dân được biết và có điều kiện theo dõi, giám sát quá trình triển khai thực hiện Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng còn nhiều hạn chế, đặc biệt là chưa thực hành đầy đủ dân chủ trong công tác này Hầu hết các vụ tham nhũng, tiêu cực không phải do cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan kiểm tra phát hiện được mà chủ yếu do nhân dân phát hiện, tố cáo hoặc báo chí nêu Vì vậy, phải xây dựng đầy đủ, đồng bộ cơ chế, chính sách để nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên, vì không có cơ chế, chính sách cụ thể, đồng bộ thì nhân dân không thể giám sát, kiểm tra được Trong Đảng vẫn còn tệ gia trưởng, độc đoán, dân chủ hình thức, đồng thời vô tổ chức, vô kỷ luật Nhiều việc đưa ra tập thể cấp
ủy bàn bạc, nhưng chỉ cốt để hợp thức hóa ý đồ của cá nhân người đứng đầu Vì người đứng đầu không thật sự
mở rộng dân chủ, không tôn trọng lắng nghe ý kiến trái với mình, thậm chí thành kiến, trù dập một cách khôn khéo, nên cấp dưới không dám nói thẳng, nói thật Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực
tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức, do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, giữa tập thể và cá nhân, khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm Tóm lại, vấn đề thực hành dân chủ trong Đảng đã có nhiều chuyển biến tích cực so với thời kỳ trước đổi mới, không những thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng, trong pháp luật của Nhà nước mà cả trong thực tế cuộc sống Những chuyển biến đó thể hiện trong các hoạt động của Đảng và trong các quan hệ nội bộ đảng Nhưng cũng phải thấy rằng, việc thực hành dân chủ trong Đảng vẫn còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém Đảng cần phải phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm để thực hành dân chủ trong Đảng ngày càng tốt hơn, đồng thời nêu tấm gương tốt cho việc thực hành dân chủ trong Nhà nước và trong xã hội
Về dân chủ trong Nhà nước, vẫn còn những hạn chế nhất định Trong chế độ dân chủ và pháp quyền thì quyền lực nhà nước không phải là quyết định tự có của Nhà nước, mà quyền lực đó được nhân dân ủy quyền, giao quyền Quyền lực nhà nước là của nhân dân giao cho các cơ quan nhà nước, giao cho những con người
cụ thể, mà ở con người cụ thể khi các dục vọng, thói quen nổi lên thì khả năng sai lầm trong việc thực thi quyền lực càng lớn Không thể khẳng định người được ủy quyền luôn làm đúng, làm đủ những gì mà nhân dân ủy quyền Vì vậy, phải kiểm soát quyền lực nhà nước để hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền Muốn kiểm soát quyền lực nhà nước thì phải thực hành dân chủ rộng rãi Nhưng dân chủ chưa được thực hành rộng rãi nên vẫn còn sự lộng quyền, lạm quyền, vẫn còn tình trạng quan liêu, cửa quyền, phiền hà đối với nhân dân, chưa khắc phục được bệnh tham ô, lãng phí… Nhà nước còn chậm thể chế hóa các chủ trương của Đảng về dân chủ thành pháp luật, thành quy chế, nên các chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống rất chậm làm ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước
Về dân chủ trong xã hội, thực hành dân chủ trong xã hội ở nước ta còn một số hạn chế sau đây: Thứ nhất, nhận thức về dân chủ trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn nhiều hạn chế, nên thiếu trách nhiệm trong việc triển khai thực hiện dân chủ ở cơ sở
Thứ hai, nhiều chủ trương về thực hành dân chủ trong xã hội chưa được thể chế hóa, nên chủ trương thì đúng và hay, nhưng thực tế thực hành dân chủ trong xã hội chưa tốt, quyền làm chủ của nhân dân chưa được tôn trọng và phát huy đầy đủ, thậm chí quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một vài lĩnh vực còn bị
vi phạm Việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ để gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội
Trang 9Thứ ba, việc giải quyết yêu cầu phát huy dân chủ, tự do ngôn luận, lắng nghe các ý kiến khác biệt, tư duy phản biện trong xã hội với việc giữ vững kỷ luật, kỷ cương, phép nước còn nhiều bất cập Tình trạng tách rời, thậm chí đối lập giữa dân chủ và kỷ cương, dân chủ và pháp luật còn xuất hiện ở không ít người Trong xã hội còn không ít hiện tượng vừa chuyên quyền, độc đoán, mất dân chủ hay dân chủ hình thức, lại vừa dân chủ quá trớn, cực đoan
Thứ tư, chưa có cơ chế bảo đảm để nhân dân thực hiện vai trò chủ thể của quyền lực, trên thực tế, quyền lực vẫn thuộc về các cơ quan nhà nước Việc nhân dân giám sát chính quyền cũng chưa có cơ chế rõ ràng, trên thực tế, việc giám sát này còn rất mờ nhạt Tình trạng quan liêu của bộ máy hành chính làm cho yêu cầu quản
lý các quá trình kinh tế - xã hội và phát huy quyền làm chủ của nhân dân chưa thật nhanh, nhạy và hiệu quả cao Trong nhiều trường hợp, “hành chính” trở thành “hành dân là chính”
Thứ năm, trong hơn 30 năm qua, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có nhiều đổi mới, Nhà nước đã cố gắng xây dựng, ban hành pháp luật và đưa pháp luật trở thành công cụ quan trọng trong quản lý đất nước, thực hành dân chủ trong xã hội Tuy nhiên, nhìn chung, hệ thống pháp luật Việt Nam chưa đồng bộ, không thống nhất, hay thay đổi gây khó khăn cho các cơ quan thi hành pháp luật và nhân dân, ảnh hưởng đến việc thực hành dân chủ trong xã hội
Tóm lại, so với thời kỳ trước đổi mới thì hiện nay vấn đề dân chủ đã có nhiều tiến bộ nhưng một số vấn
đề vẫn cần tiếp tục nghiên cứu và lý giải một cách nghiêm túc, khoa học, như: vấn đề nhân dân làm chủ như thế nào? Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền như thế nào để tạo cơ sở cho dân chủ phát triển? Hay như việc thể chế hóa các chủ trương của Đảng về dân chủ còn chậm, không kịp thời, không rõ ràng, không đầy đủ, không nhất quán nên việc thực hành dân chủ trong xã hội còn nhiều khó khăn, hoặc rơi vào tình trạng dân chủ hình thức hoặc rơi vào tình trạng dân chủ quá trớn Điều này đòi hỏi nước ta phải tiếp tục hoàn thiện về quan điểm, chủ trương cũng như tổ chức thực hiện trong nhiệm kỳ tới
2.5 Một số phương hướng phát huy nền dân chủ XHCN tại Việt Nam hiện nay.
Để có thể phát huy tối đa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nước ta cần có những kế hoạch, chính sách thiết thực, tác động vào những điểm bất lợi, để từ đó khắc phục được chúng, nhằm nâng cao sự dân chủ của nước nhà Một trong những cách khắc phục đó có thể kể đến là việc nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, trên cơ sở thượng tôn pháp luật, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Thượng tôn pháp luật sẽ bảo đảm tất cả các thành viên xã hội được bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm Ngoài ra, cần nâng cao công tác tuyên truyền, giáo dục, nghiên cứu về quyền con người đến với quần chúng nhân dân để giúp mọi người có nhận thức nâng cao hơn Hợp tác quốc tế trên lĩnh vực quyền con người cũng từ đó được đẩy mạnh Song, phải đấu tranh phản bác kịp thời và hiệu quả các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam Nên tạo dựng thói quen thảo luận và bảo đảm quyền tự do ngôn luận để khích lệ cá nhân, các tổ chức tham gia thảo luận về các vấn đề quan trọng của quốc gia Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở một số nơi rơi vào hình thức Còn tình trạng lạm quyền, lộng quyền, quan liêu, cửa quyền gây phiền hà cho nhân dân của một số cơ quan công quyền, cán bộ Chậm thể chế hóa các chủ trương của Đảng thành pháp luật, quy định Hệ thống pháp luật của Việt Nam có mặt còn chưa đồng bộ, hay thay đổi gây khó khăn cho các cơ quan thi hành pháp luật và nhân dân, ảnh hưởng đến việc thực hành dân chủ trong xã hội Cần tiếp tục hoàn thiện hơn các quy định về quyền giám sát của nhân dân, cơ chế pháp lý bảo đảm cho nhân dân trực tiếp giám sát hoạt động của đảng viên, cán
bộ, công chức, viên chức và các tổ chức, cơ quan Đảng, Nhà nước Những hạn chế đó nên sớm được khắc phục để nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân và thực hành quyền làm chủ của nhân dân trong thực tiễn ngày càng rộng rãi và thực chất
Có thể khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vững chủ trương và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội, mọi vấn đề từ cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược đến chủ trương, chính sách cụ thể của Đảng đều được tổ chức thảo luận rộng rãi trong Đảng và lấy ý kiến của nhân dân Sau cùng, tất
cả những phương thức và giải pháp thực hành dân chủ ở Việt Nam đã đưa tới kết quả tốt đẹp, khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là biểu tượng về dân chủ và vấn đề cốt tử để xây dựng bảo vệ Tổ quốc chính là phải đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân
Trang 10CHƯƠNG 3: BẢN CHẤT, ĐẶC TRƯNG CỦA NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
3.1 Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa:
3.1.1: Bản chất chính trị
Bản chất chính trị cả nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự lãnh đạo về mặt chính trị của giai cấp công nhân thông qua đảng đối với toàn xã hội, mục đích hướng đến là việc thực hiện quyền lực và lợi ích của toàn thể nhân dân và cả giai cấp công nhân
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mang tính nhất nguyên về chính trị Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân lao động là những người làm chủ những quan hệ chính trị trong xã hội và có quyền giới thiệu các đại biểu tham gia vào bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương, tất cả đều có quyền tham gia đóng góp ý kiến để xây dựng chính sách, pháp luật, xây dựng bộ máy và cán bộ, nhân viên nhà nước, tham gia vào công việc quản lý nhà nước
Do đó, chế độ dân chủ xã hội hội chủ nghĩa thực chất là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân;
Sự khác biệt của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa so với các cuộc cách mạng xã hội trước đây vì nó
là cuộc cách mạng của số đông và hướng vào lợi ích của số đông nhân dân
Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa có bản chất giai cấp công nhân,vừa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc
Thế nên, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa khác về chất so với nền dân chủ tư sản ở: bản chất giai cấp (giai cấp công nhân và giai cấp tư sản), cơ chế nhất nguyên và cơ chế đa nguyên (một đảng hay nhiều đảng), bản chất nhà nước (nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền tư sản)
3.1.2: Bản chất kinh tế
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu xã hội về những tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở khoa học -công nghệ hiện đại nhằm thỏa mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động
Bản chất kinh tế đó chỉ được bộc lộ ở quyền làm chủ của nhân dân về các tư liệu sản xuất chủ yếu; quyền làm chủ trong quá trình sản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối, phải coi lợi ích kinh tế của người lao động là động lực cơ bản nhất có sức thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển
Bản chất kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở chỗ thực hiện chế độ công hữu về
tư liệu sản xuất chủ yếu và thực hiện chế độ phân phối lợi ích theo kết quả lao động là chủ yếu
3.1.3 Bản chất tư tưởng - văn hóa - xã hội
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy hệ tư tưởng Mác - Lênin - hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, làm chủ đạo đối với mọi hình thái ý thức xã hội khác trong xã hội mới Đồng thời nó kế thừa, phát huy những tinh hoa văn hóa truyền thống dân tộc; tiếp thu những giá trị tư tưởng - văn hóa, văn minh, tiến
bộ xã hội mà nhân loại đã tạo ra ở tất cả các quốc gia, dân tộc Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân được làm chủ những giá trị văn hóa tinh thần; được nâng cao trình độ văn hoá, có điều kiện để phát triển cá nhân Dưới góc độ này dân chủ là một thành tựu văn hoá, một quá trình sáng tạo văn hoá, thể hiện khát vọng tự do được sáng tạo và phát triển của con người
Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có sự kết hợp hài hòa về lợi ích giữa cá nhân, tập thể và lợi ích của toàn xã hội nhằm ra sức động viên, thu hút mọi tiềm năng sáng tạo, tính tích cực xã hội của nhân dân vào trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới
3.2 Đặc trưng của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Đặc trưng của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là quyền dân chủ của công dân sẽ không ngừng được